LUẬN VĂN: Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay pot - Pdf 15



LUẬN VĂN:
Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho
cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh trong
giai đoạn hiện nay

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh là vấn
đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài. Bởi lẽ, năng lực tư duy lý
luận là cơ sở quan trọng để cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh hoạch định đường lối, chủ trương,
chỉ đạo hoạt động thực tiễn.
Đường lối, chủ trương của Đảng là đường lối chung, khái quát ở tầm vĩ mô, khi
triển khai ở các địa phương đặc biệt là ở cấp tỉnh đòi hỏi một sự năng động, sáng tạo thì
kết quả mới cao. Để đáp ứng được yêu cầu đó, những cán bộ lãnh đạo chủ cốt của tỉnh

giai đoạn hiện nay" của GS.TS Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Triết học, Số 2-1994; Hồ
Bá Thâm: "Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã hiện nay",
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; "Nâng cao năng lực tư duy lý luận của
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện nay qua thực tế tỉnh Kiên
Giang" luận văn thạc sĩ triết học của Vũ Đình Chuyên; "Năng lực tư duy lý luận trong
quá trình đổi mới tư duy" của GS.TS Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Cộng sản, Số 10-
1987; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của năng lực trí tuệ và lý luận" của PGS Trần
Đình Huỳnh, Tạp chí Xây dựng Đảng, Số 2-1995; "Nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho cán bộ giảng dạy lý luận Mác - Lênin ở các trường Chính trị tỉnh" luận án tiến sĩ
triết học của Nguyễn Đình Trãi

Cùng với những công trình nghiên cứu chuyên sâu về trình độ tư duy, năng lực
tư duy của cán bộ, đảng viên còn có những bài viết, những công trình nghiên cứu đánh
giá về những hạn chế, yếu kém về tư duy lý luận của cán bộ, đảng viên, chẳng hạn như:
"Chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh
giáo điều trong quá trình đổi mới"; "Mấy vấn đề về đổi mới tư duy", Học viện Nguyễn
ái Quốc, Hà Nội, 1988; "Một số căn bệnh trong phương pháp tư duy của cán bộ ta",
Tạp chí Triết học, số 2-1988
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về năng lực tư duy lý luận như một phẩm chất tư duy
của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay với tư cách là một
luận văn thạc sĩ khoa học triết học thì chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu. Vì vậy, việc
chọn nghiên cứu đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, nhằm góp phần vào công
tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở tỉnh Bắc Giang nói riêng và trong cả
nước nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: Trên cơ sở làm rõ vai trò của năng lực tư duy lý luận
đối với hoạt động lãnh đạo của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh và thực trạng
năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ này (qua thực tế Bắc Giang), đề xuất một số
phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm từng bước nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho họ.

Bắc Giang
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn bước đầu xác định được những phẩm chất tối thiểu thuộc về năng lực
tư duy lý luận - một năng lực cơ bản trong năng lực của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt
cấp tỉnh; làm rõ vai trò của năng lực tư duy lý luận đối với hoạt động của người cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh.
Đồng thời, luận văn cũng đã vạch ra được thực trạng năng lực tư duy lý luận
của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh (qua thực tế Bắc Giang), trên cơ sở đó,
luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy và từng bước
nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ này.
7. ý nghĩa của luận văn
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, hoạch định chiến
lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh Bắc Giang.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để giảng dạy, học tập triết học nói
chung và phần lý luận nhận thức nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
gồm 2 chương, 5 tiết.

Chương 1
Năng lực tư duy lý luận
và vai trò của nó đối với hoạt động lãnh đạo
của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh
1.1. Năng lực tư duy lý luận
1.1.1. Bản chất tư duy lý luận
Để xác định được nội dung của phạm trù năng lực tư duy lý luận, trên cơ sở ấy
mà nhận rõ vai trò của nó cũng như nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, trước hết cần làm rõ nội dung khái niệm tư duy.

tích cực và sáng tạo. Bởi vì, " con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà
còn tạo ra thế giới khách quan" [28, tr. 228].
Nhận thức, tuy cũng là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ óc con người
nhưng khác với ý thức và hoàn toàn khác với hành vi phản ánh ở động vật về chất.
Nhận thức của con người là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách
tích cực và sáng tạo là nhờ có hoạt động thực tiễn.

Theo Lênin, nhận thức là một quá trình "từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận
thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan [28, tr. 179]. Nhận thức là một quá
trình biện chứng, quá trình ấy bao gồm hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhận thức
lý tính. Tuy khác nhau về chất nhưng nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có sự
thống nhất hữu cơ, tác động biện chứng với nhau. Chúng bổ sung, hỗ trợ cho nhau, đem
lại cho con người những hiểu biết ngày càng đầy đủ hơn, toàn diện hơn và sâu sắc hơn
về các sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới.
Tóm lại, nhận thức là quá trình phản ánh và tái tạo lại hiện thực trong đầu óc
của con người, được quyết định bởi những quy luật phát triển xã hội và gắn liền với
hoạt động thực tiễn [72, tr. 407].
Vậy tư duy khác gì với nhận thức?
Tư duy không phải là hệ ý thức mà là hình thức cao của sự phản ánh tích cực
thực tại khách quan của con người [72, tr. 634].
Đó là hoạt động phản ánh ở giai đoạn cao nhất của nhận thức. Nếu chỉ bằng
cảm giác, tri giác thì nhận thức của con người rất hạn chế, bởi vì con người không thể
bằng cảm giác mà nhận thức, mà hiểu được những vấn đề như tốc độ ánh sáng, âm
thanh hay những hiện tượng xã hội phức tạp khác Muốn hiểu được những vấn đề đó
không thể có gì thay thế ngoài việc sử dụng sức mạnh của tư duy.
Tư duy là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan. Đó là quá
trình năng động, sáng tạo, nó có thể phản ánh được những mối liên hệ bản chất, tất
nhiên bên trong của sự vật, đem lại cho nhận thức khoa học những tri thức mới về tính
quy luật chi phối sự vận động và phát triển của sự vật.

thức, tư duy mang tính sáng tạo và phát triển không ngừng. Bởi vì, xuất phát từ hoạt
động làm biến đổi hiện thực đó mà các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực bộc lộ
các thuộc tính, tính chất Trên cơ sở đó con người mới hiểu biết về sự vật, hiện tượng.
Đây là quá trình không có giới hạn cuối cùng của hoạt động nhận thức của con người.
Hơn nữa, hoạt động của tư duy còn là hoạt động vận dụng, sử dụng, kết hợp các khái
niệm để sáng tạo ra các khái niệm mới, phản ánh các quan hệ tất yếu, các quy luật vận
động, phát triển của thế giới khách quan. Đồng thời, hoạt động của tư duy cũng là quá
trình vận dụng tri thức thu được vào hoạt động thực tiễn của con người, làm cho hoạt
động đó phát triển, từ đó mà tư duy lý luận cũng không ngừng phát triển. Chính vì thế,
cả nội dung và hình thức của tư duy đều phụ thuộc vào thực tiễn lịch sử - xã hội. Lịch
sử không phải bắt đầu từ tư duy mà là từ hoạt động thực tiễn của con người. Trong đó,
hoạt động lao động sản xuất của cải vật chất tạo ra nền tảng cho sự tồn tại và phát triển
của xã hội là hoạt động cơ bản nhất. Hoạt động này càng phát triển thì tư duy, trí tuệ của
con người cũng càng phát triển theo. Ăngghen đã nhận định rằng: "Trí tuệ con người đã
phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên" [40, tr. 720].
Như vậy, thông qua hoạt động thực tiễn của mình, con người đã chủ động nhận
thức và cải tạo thế giới. Tư duy của con người là do hiện thực khách quan quy định;
nhưng chính hoạt động thực tiễn của con người lại là cơ sở, động lực cơ bản cho sự xuất
hiện và phát triển của tư duy, thực tiễn cũng là tiêu chuẩn để kiểm tra, điều chỉnh quá
trình tư duy, xác nhận cho tính đúng đắn của tư duy, loại bỏ những sai lầm, tạo sự phát
triển liên tục của tư duy con người.
Tư duy của con người luôn mang tính sáng tạo, hoạt động của tư duy luôn vươn
tới những nhận thức mới thông qua hoạt động thực tiễn và nhận thức. Hoạt động thực
tiễn là cơ sở, động lực của tư duy. Do vậy, khi hoạt động thực tiễn còn ở một trình độ

thấp thì ứng với nó là cấp độ tư duy ở trình độ thấp. Khi hoạt động thực tiễn đạt đến
trình độ cao hơn thì phương pháp tư duy, trình độ tư duy cũng được nâng lên.
Như vậy, tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức nảy sinh trên cơ sở
nhận thức cảm tính. Đó là trình độ phản ánh khái quát hóa, trừu tượng hóa, mang tính
tích cực sáng tạo, hướng sâu vào nhận thức bản chất, quy luật vận động và phát triển

mà đạt tới những kết quả nhất định trong mỗi hoàn cảnh cụ thể. Nhìn chung, trình độ tư
duy được xem xét ở các cấp độ như tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận. Tư duy kinh
nghiệm có đối tượng là những khách thể hiện thực tồn tại trong không gian thời gian với sự
thống nhất giữa chung và riêng, đặc thù và phổ biến Tư duy kinh nghiệm mang tính
chất tác động trực tiếp cải biến khách thể hiện thực; thiên về phản ánh các hiện tượng,
nặng về mô tả các sự kiện. Tư duy lý luận có đối tượng là những khách thể trừu tượng,
những hình ảnh, khái niệm phạm trù. Bởi thế, tư duy lý luận mang tính chất tác động gián
tiếp đối với khách thể hiện thực, nặng về sự định hướng. ở trình độ phản ánh thì tư duy lý
luận phản ánh sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng. Nếu tư duy kinh nghiệm chỉ
mới dừng lại ở việc mô tả những đặc điểm, những mối liên hệ bên ngoài của các sự vật
hiện tượng thì tư duy lý luận đi sâu phản ánh các thuộc tính, mối liên hệ có tính bản chất,
tất yếu, tính quy luật của chúng. Khác với tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận có khả năng
phê phán rất sâu sắc và triệt để. Tư duy lý luận cũng có khả năng dự báo khoa học về xu
hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, nó đóng vai trò rất quan

trọng trong sự phát triển của khoa học cũng như thực tiễn xã hội. Tư duy lý luận cũng
chính là biểu hiện trình độ phát triển cao của năng lực tư duy lý luận.
Từ những điều trình bày trên đây, chúng ta thấy: ý thức, nhận thức, tư duy là
những khái niệm có sự thống nhất hữu cơ với nhau; chúng đều là sự phản ánh hiện thực
khách quan bởi bộ óc người, cùng bị chi phối bởi những quy luật sinh học và xã hội
trong đó các quy luật xã hội giữ vai trò quyết định. Nhưng chúng không phải là những
khái niệm đồng nhất.
Trong mối quan hệ nội tại giữa ý thức, nhận thức và tư duy, cần thấy rằng, ý
thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người, nó là phạm trù đối lập với
vật chất. Nhận thức là quá trình phản ánh đó. Tư duy là trình độ cao của nhận thức. Như
thế, nhận thức, tư duy đều là quá trình hoạt động để mang lại tri thức về sự vật. Tư duy
cũng thuộc hoạt động nhận thức nhưng là giai đoạn cao của quá trình nhận thức. Nhận
thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người trên cơ sở hoạt động
thực tiễn. Nói đến tư duy lý luận là nói đến tư duy ở trình độ khái quát hóa, trừu tượng
hóa, phản ánh gián tiếp nhưng sâu sắc về mối liên hệ bản chất, tính tất yếu, tính quy luật

những đặc trưng đó, quá trình hoạt động của tư duy phải dựa trên những phương pháp
khác nhau và phải tuân theo một trật tự lôgic nhất định. Những phương pháp đó là phân
tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa Trong quá trình hoạt động của
tư duy, những phương pháp ấy không nhất thiết phải được kết hợp với nhau một cách
tuần tự mà có thể chúng đồng thời được tiến hành trong sự tương hỗ lẫn nhau giữa các
phương pháp. Bởi vì, mỗi phương pháp tuy có nội dung tác dụng khác nhau nhưng lại
quan hệ chặt chẽ với các phương pháp khác. Phương pháp này là điều kiện, tiền đề để

phương pháp khác phát huy hiệu quả. Chẳng hạn khi phân tích, tổng hợp các thuộc tính
của sự vật thì đòi hỏi phải có trừu tượng hóa để tách cái chung khỏi cái riêng v.v
Tuy nhiên, mỗi phương pháp khi được tiến hành theo những cách thức đặc
trưng của nó thì cũng được xem là một thao tác của quá trình tư duy. Như vậy, quá trình
tư duy được tiến hành trong sự huy động sức mạnh của mỗi phương pháp tư duy và sự
kết hợp các phương pháp ấy theo một trật tự lôgic phù hợp với lôgíc vốn có của đối
tượng nhận thức.
Quá trình tư duy được thể hiện ở các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy
lý. Những hình thức này quan hệ mật thiết với nhau và giữ vai trò quan trọng trong tư
duy khoa học. Chính vì thế, năng lực tư duy còn thể hiện ở năng lực lựa chọn các vấn đề
có liên quan để liên kết các hình thức tư duy mà tìm ra các kết luận nhất định. Chẳng
hạn, năng lực lựa chọn các khái niệm để hình thành một phán đoán đúng và liên kết các
phán đoán để có suy lý đúng nhằm phát hiện khái niệm mới. Như vậy, năng lực tư duy
bao gồm cả năng lực lựa chọn, sắp xếp, kết hợp các phương pháp, hình thức tư duy và
khả năng sử dụng thành thạo, nhuần nhuyễn mỗi phương pháp, mỗi hình thức tư duy
theo những cách thức, tác dụng riêng của nó cho phù hợp với tính quy định khách quan
của các đối tượng nhận thức.
Năng lực tư duy là khả năng sử dụng một cách thành thạo, nhuần nhuyễn cả nội
dung và phương pháp của tư duy để phát hiện vấn đề và xây dựng được những phương
án tối ưu để giải quyết vấn đề đó.
Năng lực tư duy thường được tiếp cận ở các kiểu: Năng lực tư duy thực hành,
năng lực tư duy hình tượng và năng lực tư duy lý luận Xét theo cấp độ phát triển của

người lại mạnh về một loại hình tư duy riêng, với cấp độ phát triển cao thấp khác nhau.

Điều đó không phải chỉ do sự chi phối của lịch sử, mà ngay trong cùng một điều kiện
môi trường cũng diễn ra sự khác nhau đó. Chính vì thế, năng lực tư duy lý luận không
chỉ bị ảnh hưởng bởi các điều kiện chung mà còn do các yếu tố chủ quan của mỗi người
chi phối.
Trước hết, năng lực tư duy lý luận phụ thuộc vào yếu tố bẩm sinh, di truyền của
từng người. Đó là những yếu tố sinh ra đã có và do thế hệ trước di truyền lại như cấu tạo
của hệ thần kinh, gen Những yếu tố này đóng vai trò chính trong việc tạo ra năng khiếu
thông minh, trí nhớ, khả năng trực giác, nhạy cảm. Đó là cơ sở, tiền đề, là điều kiện của
năng lực trí tuệ nói chung và năng lực tư duy lý luận nói riêng. Như thế, tố chất bẩm
sinh di truyền mới chỉ là những khả năng tiềm tàng nó cần phải được khơi dậy phát
triển, rèn luyện thường xuyên, nếu không sẽ dẫn đến mai một. Như Ph. Ăngghen đã viết:
"Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có
thôi" [40, tr. 487].
Thứ hai, quá trình giáo dục, đào tạo, quá trình học tập rèn luyện một cách tự
giác để nâng cao trình độ tri thức, trí tuệ có ảnh hưởng trực tiếp, đóng vai trò quyết định
đến năng lực tư duy lý luận. Trình độ tri thức, trí tuệ là điều kiện tiên quyết để con
người phát triển năng lực của mình về mọi mặt. Để đạt được một trình độ tri thức, trí tuệ
nhất định, không có con đường nào khác ngoài việc phải thông qua quá trình giáo dục,
đào tạo và tự đào tạo. Quá trình này mang lại cho con người không chỉ nội dung các tri
thức mà còn là những phương pháp tư duy khoa học ngày một hoàn thiện hơn. Đó chính
là nền tảng, là cơ sở để con người mài dũa khả năng tư duy, rèn luyện năng lực tư duy
nhạy bén sáng tạo. Nếu bị hạn chế về tri thức, trí tuệ thì không thể nâng cao được năng
lực tư duy lý luận.
Thứ ba, môi trường kinh tế - xã hội, nền tảng văn hóa, khoa học của xã hội có
ảnh hưởng quan trọng đến năng lực tư duy lý luận của con người. Sự phát triển về năng
lực tư duy lý luận phụ thuộc vào môi trường kinh tế - xã hội mà trong đó chủ thể tư duy

sống và hoạt động. Đó là toàn bộ những điều kiện, hoàn cảnh khách quan liên quan đến

với thế giới bắt đầu không phải bằng lý luận mà bằng thực tiễn. Chính thông qua hoạt
động thực tiễn mà con người có được những hiểu biết, những tri thức về hiện thực
khách quan và phát triển những năng lực của mình. Mọi tri thức, năng lực của con
người, nhất là năng lực tư duy lý luận, xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn. Hơn
nữa, sự phát triển liên tục, không ngừng của thực tiễn luôn luôn đặt ra những yêu cầu
mới đòi hỏi con người phải luôn suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện quy luật vận động, phát
triển của sự vật, hình thành những phương thức, nội dung mới trong năng lực tư duy
hướng về việc phát hiện và giải quyết các vấn đề theo yêu cầu của thực tiễn. Như thế,
trong hoạt động thực tiễn, năng lực trí tuệ con người nói chung, năng lực tư duy lý luận
nói riêng được phát triển. Thông qua hoạt động thực tiễn năng lực tư duy lý luận, đặc
biệt là khả năng xác lập tri thức và đối tượng hóa tri thức của con người mới được hình
thành và cũng thông qua đó mà những năng lực ấy mới được trau dồi, phát triển.
Thứ năm, nhu cầu và lợi ích là những yếu tố hình thành thái độ, động cơ cho
mọi hoạt động của con người. Trong đó, có hoạt động rèn luyện để hình thành và phát
triển năng lực tư duy lý luận. Xét cho cùng, mọi hoạt động của con người đều nhằm đạt
được một lợi ích nhất định nào đó về vật chất hoặc tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của
mình. Hêghen đã viết: "Những lợi ích thúc đẩy đời sống của các dân tộc và các cá nhân
[28, tr. 98]. Như vậy cái chi phối mục đích hoạt động của con người là lợi ích.
Nhu cầu, lợi ích có ảnh hưởng thường xuyên và trực tiếp đến ý thức, động cơ
hoạt động thực tiễn, học tập và rèn luyện để nâng cao năng lực tư duy lý luận. Người có
động cơ không trong sáng, trong hoạt động, học tập, rèn luyện chỉ vì lợi ích cá nhân,
trước mắt, lợi ích cục bộ thì khó có thể rèn luyện được năng lực tư duy lý luận sắc
bén. Hoặc có được năng lực tư duy lý luận tốt những người đó có động cơ không trong
sáng thì cũng chỉ là "người có tài mà không có đức cũng trở thành vô dụng".

Những điều kiện, hoàn cảnh và nhân tố trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác
động bổ sung lẫn nhau tạo thành một hệ thống các yếu tố cùng tác động đến năng lực tư
duy lý luận. Nếu những yếu tố trong hệ thống ấy cùng tác động đến năng lực tư duy lý
luận theo một chiều tích cực sẽ có tác dụng phát triển năng lực tư duy lý luận nhanh
chóng hơn. Ngược lại, sự tác động không thuận chiều giữa các yếu tố trong hệ thống sẽ

có trách nhiệm đề ra những phương hướng, chủ trương, quyết định, trước hết là những
quyết định có tính chiến lược về đơn vị mình. Cán bộ lãnh đạo là người có quyền lực, ra
những quyết định có tính chất quan trọng nhất. Ngoài ra, cán bộ lãnh đạo còn là người
dẫn dắt, tổ chức phong trào theo một hướng đi cụ thể; là người điều hành, chỉ đạo bằng
quyền hành qua các mệnh lệnh. Cán bộ lãnh đạo còn là người điều chỉnh những quyết
định cho phù hợp với sự thay đổi của điều kiện, hoàn cảnh khách quan.
Hoạt động lãnh đạo có bản chất là sự tác động định hướng, sự điều hành, điều
chỉnh hoạt động của con người nhằm vươn tới những mục đích nhất định. Điều đó đòi
hỏi chủ thể lãnh đạo, phải đạt được một trình độ nhất định về năng lực tư duy lý luận.
Bởi trình độ đó có tác dụng rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu
quả của công tác lãnh đạo.
Hoạt động lãnh đạo là hoạt động tác động điều khiển mang tính chất định
hướng của chủ thể lãnh đạo đến đối tượng bằng các phương pháp động viên, giáo dục,
thuyết phục nhằm đạt mục đích nhất định. Trong Từ điển tiếng Việt ghi: "Lãnh đạo
bằng đề ra đường lối, chủ trương và tổ chức, động viên thực hiện" [62, tr. 720].
Đối tượng của chủ thể lãnh đạo, quản lý là những con người cụ thể có tri thức,
năng lực, có ý chí, mục đích và những ước vọng riêng nhất định. Vì thế, đòi hỏi chủ thể
lãnh đạo một mặt phải hiểu biết công việc; mặt khác phải có những hiểu biết nhất định

về năng lực, về thể chất, về tâm tư và ước vọng riêng của các đối tượng lãnh đạo. Từ đó
mà tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng lãnh đạo làm việc đạt hiệu quả tối đa.
Chính vì thế, hoạt động lãnh đạo nếu được nâng lên trình độ nghệ thuật, khoa học làm
việc với con người, tác động đến con người để hình thành các quan hệ tốt đẹp giữa họ
với nhau và với công việc thì hiệu quả lãnh đạo sẽ cao hơn.
Hoạt động lãnh đạo có nhiều khâu, nhiều bước, có thể diễn đạt các khâu đó ở
hai trình độ; đó là, chủ thể lãnh đạo suy nghĩ, lựa chọn quyết định và điều hành tổ chức
hành động. Do đó, mặt hiện hữu của năng lực lãnh đạo là tổ chức hoạt động thực tiễn,
còn mặt năng lực tư duy trí tuệ, lý luận là cái ẩn giấu vào bên trong. Vì vậy, nhà lãnh
đạo khác với nhà khoa học. Nhà khoa học hoạt động chính là nghiên cứu, suy nghĩ, tìm
tòi, phát hiện, nêu ra lý thuyết, lý luận, vạch ra phương án thực hành, ứng dụng. Người

chúng đan xen hòa hợp vào nhau bổ sung cho nhau. Trong đó, lãnh đạo là khâu quan
trọng của quản lý, đồng thời là cơ sở, tiền đề cho quản lý. Quản lý nhằm hiện thực hóa
đường lối lãnh đạo và giúp cho hoạt động lãnh đạo đạt hiệu quả hơn.
Từ đó có thể thấy rằng, người lãnh đạo phải là người có trình độ lý luận và am
hiểu thực tiễn. Họ là người góp phần xây dựng, đồng thời cũng là người vận dụng
đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào những lĩnh vực cụ thể, biến chúng
thành hiện thực trong cuộc sống. Do vậy, đối với người lãnh đạo, năng lực tổ chức thực
tiễn là rất quan trọng. Đồng thời họ vẫn rất cần phải có năng lực tư duy lý luận, năng lực
đó giúp họ nghiên cứu thực tiễn, nắm bắt và vận dụng đường lối của Đảng để tổ chức
thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và vận dụng kinh nghiệm ấy vào hoạt động
thực tiễn.
Hoạt động của chủ thể lãnh đạo về bản chất là có sự giống nhau ở các cấp;
nhưng có sự khác nhau về hình thức, mức độ, phạm vi và lĩnh vực hoạt động.

Trích đoạn Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh phải gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao dân trí cho Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh phải kết hợp chặt chẽ với việc tăng cường rèn luyện đạo đức cách mạng cho họ Trau dồi và rèn luyện phương pháp tư duy biện chứng cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh nói riêng, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của đội ngũ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status