Luận văn: Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay potx - Pdf 12


Luận văn

Những giải pháp tăng cường
thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Đà Nẵng trong
giai đoạn hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, vốn FDI là một bộ phận
quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư của bất kỳ một quốc gia hoặc một
địa phương nào. Đối với nước ta, một nước đang trong quá trình CNH, HĐH,
chuyển đổi và hội nhập kinh tế, với mục tiêu phát triển kinh tế rất cao, nhu
cầu vốn đầu tư rất lớn, trong đó vốn FDI có vai trò đặc biệt quan trọng.
Dưới góc độ của quốc gia hay một địa phương tiếp nhận vốn, FDI có
mục tiêu và tác động đa chiều. Ngoài tác động phục vụ cho sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước, qua các hoạt động FDI còn tạo cơ hội tiếp nhận kỹ
thuật sản xuất, kinh nghiệm kinh doanh, các sáng chế, phát minh, bí quyết
công nghệ, năng lực quản lý, điều hành, giúp các chủ thể trong nước và nền
kinh tế nói chung đẩy nhanh quá trình phát triển những ngành nghề có kỹ
thuật, công nghệ mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng
nhanh. FDI còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, đẩy
mạnh kim ngạch xuất khẩu, góp phần vào việc lành mạnh hoá các cân đối
vĩ mô của nền kinh tế. Ngay từ khi bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới,
vấn đề thu hút vốn FDI đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm,
chú ý và đã có nhiều biện pháp tích cực, đổi mới liên tục nhằm thu hút

tự nhiên không thuận lợi, thị trường nhỏ hẹp, sức mua yếu, chi phí vận
chuyển bằng đường biển cao, thời gian vận chuyển lớn, nguồn nguyên liệu và
các ngành công nghiệp phụ trợ còn thiếu và yếu, chất lượng kém, cơ chế
chính sách của Trung ương còn bất cập…, những nguyên nhân chủ quan từ
phía chính quyền Đà Nẵng cũng đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến thu hút vốn
FDI trên địa bàn.
Tình hình đó đòi hỏi phải nghiên cứu, tìm kiếm những giải pháp đổi
mới mạnh mẽ hơn nữa để tăng cường thu hút vốn FDI có hiệu quả hơn, xem
đó là vấn đề quan trọng, đột phá để phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn
2006 - 2010 và các giai đoạn tiếp theo. Đó là lý do đề tài: “Những giải pháp
tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng trong giai
đoạn hiện nay” được chọn làm luận văn thạc sĩ của tác giả.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về FDI nói chung cũng như những
giải pháp thu hút FDI nói riêng. Sau đây là những công trình tiêu biểu:
- “Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước
ASEAN và vận dụng vào Việt Nam”, Nguyễn Huy Thám, Luận án tiến sĩ Kinh
tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999.
- “Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”, Phan Minh Thành, Luận văn thạc sĩ Kinh
tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000.
- “Hoàn thiện Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Văn Hùng, Luận văn thạc
sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
- “Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại thành phố Đà Nẵng”, Ngô Quang Vinh, Luận văn thạc sĩ Kinh tế,
Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2003.
- “Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - vị trí, vai trò của nó
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”, Đề tài KH-CN

phận: bộ phận triển khai thực hiện các chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Trung ương; bộ phận thực hiện gồm các biện pháp của chính quyền địa phương
trong phạm vi được phân cấp về chính sách. Góc độ tiếp cận của luận văn chủ
yếu là khảo sát các giải pháp của Nhà nước.
4.2. Đối tượng khảo sát của luận văn
Khảo sát các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Đà Nẵng như là đối
tượng tác động (kết quả) của các biện pháp chính sách. Ngoài ra, luận văn khảo
sát hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước của chính quyền Đà Nẵng.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: thời gian nghiên cứu giới hạn từ năm 1997 đến nay.
Những giải pháp và kiến nghị được đề xuất cho giai đoạn tương lai đến
khoảng 2010.
Về không gian: giới hạn trong phạm vi các hoạt động FDI tại Đà Nẵng. Để
nghiên cứu so sánh, có mở rộng không gian khảo sát ở những chỗ cần thiết.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương
pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan
điểm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; các thành
tựu khoa học trong kinh tế nói chung và trong lĩnh vực chính sách FDI nói
riêng. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là:
phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hoá; kết hợp nghiên cứu lí luận với tổng
kết thực tiễn, lấy ý kiến chuyên gia, nghiên cứu tài liệu.
6. Những đóng góp của luận văn
- Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng, đánh giá
các biện pháp chính sách đã thực hiện ở Đà Nẵng, tìm ra những bài học thành
công và nguyên nhân không thành công trong thực hiện chính sách thu hút
vốn FDI ở Đà Nẵng.
- Một số giải pháp đặc thù đề xuất được luận chứng với khả năng đóng
góp làm tăng thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng.

bỏ vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam với điều kiện
họ phải tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó.
Xét về bản chất FDI khác (đối lập) với đầu tư gián tiếp nước ngoài;
đồng thời FDI là đầu tư thuộc kênh tư nhân, khác hẳn với đầu tư tài trợ
(ODA) của Chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế.

1.1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại
tài sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của
nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi
đầu tư.
Thứ hai, được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp
mới (liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại
các chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc
tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp.
Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc
cùng sở hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực
tiếp hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ tư, là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan
hệ thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính
trị giữa các nước, các chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao.
Thứ năm, nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận
động của dòng vốn đầu tư.
Thứ sáu, FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước
và đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào
một nước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó.
Thứ bảy, FDI chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện.
Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động
FDI trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận FDI diễn ra đã

vốn từ bên ngoài do mở rộng qui mô hoạt động của doanh nghiệp. Kênh đầu
tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công
nghiệp hóa, đặc biệt là trong những lĩnh vực công nghệ cao và có xu hướng
tăng mạnh trong những năm gần đây. Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng
đã thừa nhận và pháp lý hoá kênh đầu tư này ở Việt Nam. Tuy nhiên, hình
thức đầu tư này vẫn chưa phổ biến ở nước ta do đây là kênh đầu tư FDI mới,
nhà đầu tư còn dè chừng; hơn nữa, Nhà nước vẫn hạn chế về tỷ lệ cổ phần của
người nước ngoài trong các công ty cổ phần trong nước. Như vậy, nếu chỉ thu
hút FDI theo kênh GI thì không đón bắt được xu hướng đầu tư quốc tế ngày

nay, sẽ làm hạn chế khả năng thu hút FDI vào nước ta. Tương lai, với chính
sách đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, M & As sẽ là kênh đầu tư quan
trọng của FDI ở Việt Nam [31, tr.37].
Với hai kênh đầu tư chính như đã nêu trên, tùy theo mức độ nắm giữ
quyền quản lý, sẽ có các hình thức đầu tư khác nhau. Những hình thức đầu tư
này được quy định bởi thể chế pháp luật về đầu tư, làm cơ sở để các nhà đầu
tư triển khai các hoạt động đưa vốn vào và thực hiện các biện pháp quản lý
của họ.
Luật Đầu tư 2005 đã quy định 5 hình thức FDI cơ bản ở Việt Nam [28, tr.22].
Các hình thức này cũng đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Sau đây sẽ
trình bày 5 hình thức này.
a. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền
thống và phổ biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc
chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách
áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động
kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư
nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy mô
lớn. Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con

chính trị, mức độ hoàn thiện pháp luật, trình độ của các đối tác liên doanh của
nước sở tại Hình thức DNLD có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình
trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh
tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa
sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm
quản lý của nước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc
kiểm soát được đối tác nước ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công
cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả,
tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập
vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ
xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể
có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn

hóa, ngôn ngữ, luật pháp. Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp
vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong DNLD yếu.
c. Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà
đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà
không thành lập pháp nhân [28, tr.10].
Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn,
công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước
sở tại, thu lợi nhuận tương đối ổn định. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở
tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc hậu; chỉ
thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dò dầu khí.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân
riêng và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại. Do đó,
về phía nhà đầu tư, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC. Tuy
nhiên, đây là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà
nên thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi các nước đang phát triển
bắt đầu có chính sách thu hút FDI. Khi các hình thức 100% vốn hoặc liên

tỷ lệ sở hữu cổ phiếu vượt quá giới hạn nào đó cho phép họ có quyền tham
gia quản lý doanh nghiệp thì họ trở thành nhà đầu tư FDI. Luật pháp Hoa Kỳ
và nhiều nước phát triển quy định tỷ lệ ranh giới này là 10%. Đối với Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này được quy định là 30%.
Hình thức mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưu điểm
cơ bản là để thu hút vốn và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạt động
của những doanh nghiệp bên bờ vực phá sản. Nhược điểm cơ bản là dễ gây
tác động đến sự ổn định của thị trường tài chính. Về phía nhà đầu tư, đây là
hình thức giúp họ đa dạng hoá hoạt động đầu tư tài chính, san sẻ rủi ro nhưng
cũng là hình thức đòi hỏi thủ tục pháp lý rắc rối hơn và thường bị ràng buộc,
hạn chế từ phía nước chủ nhà.
1.1.3. Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình
phát triển kinh tế của các nước đang phát triển (nước tiếp nhận đầu tư)
FDI tác động rất lớn, trực tiếp đối với sự phát triển kinh tế của một quốc
gia, tác động đến mọi mặt của đời sống về kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị

của nước tiếp nhận đầu tư. Trong đó, về kinh tế, FDI tác động đến tăng trưởng
tổng sản phẩm quốc nội (GDP), cán cân thanh toán, thu nhập của người lao
động và các chỉ tiêu kinh tế khác. Để phục vụ cho việc luận chứng các chính
sách thu hút FDI, người ta thường nhìn nhận các tác động kinh tế này thành
hai nhóm: tác động tích cực và tác động tiêu cực.
1.1.3.1. Những tác động tích cực
Thứ nhất, FDI bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế. Một nền kinh
tế đang phát triển, nếu có nguồn vốn đầu tư càng cao thì tăng trưởng sẽ càng
cao. Vốn đầu tư hình thành từ nguồn vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư
nước ngoài, bao gồm vốn vay thương mại, đầu tư gián tiếp và FDI. Các quốc
gia, nhất là các nước đang phát triển, nhu cầu vốn đầu tư rất lớn và FDI là một
trong những nguồn vốn rất quan trọng. Vốn FDI có nhiều lợi thế vì không tạo
ra khoản nợ giữa nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, khi dự án tạo ra lợi
nhuận thì được chuyển về nước và một phần được dùng để tái đầu tư, có tính

Ngoài việc tạo ra việc làm trực tiếp, FDI còn gián tiếp tạo ra nhiều việc
làm thông qua những ngành công nghiệp phụ trợ như cung cấp nhiên, nguyên,
vật liệu, dịch vụ phục vụ cho các doanh nghiệp FDI và các nhà đầu tư nước
ngoài. Các hoạt động công nghiệp phụ trợ này cũng đòi hỏi chất lượng cao, tổ
chức tốt, do đó có tác dụng nâng cao trình độ, kỹ năng sản xuất và kinh doanh
ở các ngành công nghiệp phụ trợ.
Thứ tư, FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận
đầu tư, thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán, mở rộng hợp tác kinh tế
quốc tế. Thực vậy, hoạt động FDI chủ yếu phát triển ở các ngành công nghiệp,
dịch vụ mới, do đó có tác động lớn đến cơ cấu ngành kinh tế, góp phần hình
thành cơ cấu kinh tế hiện đại của nước tiếp nhận đầu tư. Thực tiễn cho thấy, FDI
ở Việt Nam cũng tập trung vào hai ngành chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ, ít
đầu tư vào nông nghiệp, do đó, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng
tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp.
Hầu hết các doanh nghiệp FDI về lĩnh vực sản xuất chủ yếu là sản xuất
hàng hóa xuất khẩu, do vậy góp phần tăng năng lực xuất khẩu. Đồng thời,
thông qua các chi nhánh của các công ty nước ngoài hoặc các công ty xuyên
quốc gia để mở rộng thị trường xuất khẩu. Hầu hết các nước đang phát triển

đều nhập khẩu máy móc thiết bị và xuất khẩu các sản phẩm thô, do đó cán cân
thương mại thường thâm hụt, mất cân đối trong cán cân thanh toán. FDI góp
phần làm tăng thu ngoại tệ, góp phần cải thiện cán cân thanh toán.
Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng và cạnh
tranh rất quyết liệt, đầu tư là một trong những lĩnh vực được các quốc gia cam
kết tự do hóa. FDI làm cho sự phân công lao động quốc tế diễn ra theo chiều
sâu, những cam kết về tự do hóa FDI được coi như là những quan điểm hội
nhập kinh tế quốc tế của từng quốc gia.
1.1.3.2. Những tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, FDI còn có những tác động
tiêu cực đến nước tiếp nhận đầu tư. Sau đây là những tác động tiêu cực mang

càng tăng lên trong quá trình phân bổ và di chuyển các dòng vốn FDI trên thế
giới. Sự phân bổ dòng vốn FDI không đều, phần lớn tập trung ở các nước
công nghiệp phát triển, dòng vốn FDI chảy vào các nước đang phát triển tuy
có chiều hướng tăng lên nhưng tỷ trọng vẫn còn rất nhỏ bé. Tính cạnh tranh
giữa các nước đầu tư và giữa các nước tiếp nhận đầu tư với nhau ngày càng
cao. Quá trình luân chuyển FDI giữa các đối tác tham gia quá trình luân
chuyển này vừa có tính quốc tế hóa, vừa có tính cục bộ hóa. Hầu hết các nước
đều tham gia vào cả hai quá trình đầu tư và tiếp nhận đầu tư.
Về xu hướng ngắn hạn gần đây, có thể thấy rõ, năm 2005 là năm thứ hai
liên tiếp FDI thế giới tăng trưởng, và đó là một hiện tượng mang tính toàn
cầu. Theo báo cáo của UNCTAD [58], FDI thế giới năm 2005 tăng 29%, đạt
916 tỷ USD (năm 2004 tăng 27%). Dòng vào FDI tăng trưởng ở hầu hết các
khu vực, trong đó một số vùng có sự tăng trưởng chưa từng có trước đây, và ở
126 trong số 200 nền kinh tế được kiểm soát bởi UNCTAD. Tuy nhiên, dòng
chảy FDI thế giới còn cách xa đỉnh điểm đạt được vào năm 2000 với 1.400 tỷ
USD là năm có nhiều cuộc đầu tư lớn thông qua hình thức M & As. Sự bùng
nổ trong FDI chủ yếu do sự gia tăng của hình thức đầu tư M & As, đặc biệt ở
các nước phát triển. Xu hướng FDI thế giới cũng cho thấy sự xuất hiện ngày
càng nhiều các nền kinh tế có FDI lớn, vốn trước đây là các nước đang phát
triển và các nền kinh tế chuyển đổi.

Năm 2005, FDI tiếp tục mở rộng nhanh chóng. Các nước phát triển vẫn
là những nước đầu tư, đồng thời là nước tiếp nhận FDI nhiều nhất. Các nước
này tiếp nhận khoảng 542 tỷ USD, tăng 37% so với năm 2004; trong khi đó, các
nước đang phát triển, FDI gia tăng ở mức kỷ lục, đạt 334 tỷ USD. Xét về tỷ lệ
phần trăm, các nước phát triển chiếm 59% tổng dòng FDI của thế giới. Các nước
đang phát triển chiếm 36%, và các nước khu vực Đông – Nam Châu Âu và các
quốc gia thuộc khối thịnh vượng chung (CIS) chiếm khoảng 4% [58].
Vương quốc Anh là nước tiếp nhận đầu tư lớn nhất thế giới trong năm
2005 với 165 tỷ USD. Mặc dù có giảm về mức độ tiếp nhận FDI nhưng Hoa

Một xu hướng đáng lưu ý nữa là sự gia tăng đầu tư FDI của các công ty
xuyên quốc gia. Sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia cấu trúc dạng
tập đoàn ở các nền kinh tế đang phát triển ngày càng gia tăng đáng kể. Các
tập đoàn này bao gồm các công ty mẹ và các công ty con của chúng ở các
nước trên thế giới. Công ty mẹ là công ty kiểm soát toàn bộ tài sản của chúng
ở nước sở hữu hơn là ở nước ngoài. Công ty con là các công ty hoạt động ở
nước ngoài dưới sự quản lý của công ty mẹ và thường được gọi chung là chi
nhánh ở nước ngoài. Có các loại công ty con dưới đây:
* Phụ thuộc (subsidiary): chủ đầu tư (thuộc công ty mẹ) sở hữu hơn
50% tổng tài sản của công ty. Họ có quyền chỉ định hoặc bãi nhiệm các thành
viên bộ máy tổ chức và quản lý điều hành của công ty.
* Liên kết (associate): chủ đầu tư sở hữu 10%-50% công ty, tỷ lệ này
chưa đủ để có quyền hạn như trường hợp công ty phụ thuộc [3, tr.54].
Các nước công nghiệp phát triển OECD vẫn là các nước có ảnh hưởng
quyết định đối với sự phát triển của FDI ở các nước. Đã từ lâu, bộ ba kinh tế
EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản là những nhà đầu tư ra nước ngoài và là nơi tiếp
nhận vốn FDI lớn nhất thế giới [58].
1.1.5. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với Đà Nẵng
Từ ngày 1/1/1997, Đà Nẵng đã trở thành đơn vị hành chính trực thuộc
Trung ương, tạo cơ hội và khả năng mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội của
thành phố. Trong những năm qua, FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của thành phố theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và thực hiện
chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu của thành phố.

Xét về tổng thể, FDI là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong tổng vốn đầu
tư phát triển của thành phố, giải quyết một phần nhu cầu thiếu vốn đầu tư
nghiêm trọng của thành phố. Đối với một số ngành trọng điểm, FDI còn có
vai trò là nguồn vốn quyết định đến quy mô và tốc độ phát triển ngành.
FDI còn góp phần tăng trưởng kinh tế, là bộ phận đóng góp chủ yếu cho
ngân sách thành phố, góp phần đáng kể giải quyết việc làm, người lao động

của hệ thống giao thông vận tải quốc gia bao gồm đường bộ, đường không và
đường biển.
Đà Nẵng nằm ở vị trí trung tâm của cả nước, có mối giao lưu kinh tế,
văn hoá mật thiết với các trung tâm lớn ở hai miền là thủ đô Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh. Nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, cách khu
kinh tế Dung Quất (thuộc tỉnh Quảng Ngãi) 120 km và khu kinh tế mở Chu
Lai (thuộc tỉnh Quảng Nam) 90 km về phía Nam, Đà Nẵng hiện nay và trong
tương lai sẽ là đô thị hạt nhân của khu vực. Về bưu chính viễn thông, Đà
Nẵng có trạm cáp quang biển gần bờ là cầu nối hệ thống viễn thông quốc tế
của Việt Nam với xa lộ thông tin toàn cầu. Đà Nẵng cũng là một trong số các
trung tâm giao lưu quốc tế ở Việt Nam, là điểm cuối của hành lang kinh tế
Đông – Tây của Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, rất thuận lợi cho việc
giao lưu với các địa phương trong nước và các nước láng giềng như Lào, Thái
Lan, Myanmar. Nguồn điện cung cấp cho thành phố từ hệ thống điện lưới
quốc gia 500KV Bắc – Nam đủ khả năng đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất
và sinh hoạt. Đà Nẵng có hệ thống kết cấu hạ tầng có lợi thế lớn ở miền
Trung, được coi là ưu thế trong thu hút vốn FDI. Đà Nẵng là một trong
những địa phương có chỉ số phát triển con người (HDI) cao nhất nước, hệ
thống giáo dục hoàn chỉnh từ bậc mầm non đến đại học. Đại học Đà Nẵng
là một trong những trường đại học lớn nhất của khu vực miền Trung và cả
nước, là nơi đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho sự
nghiệp CNH, HĐH Đà Nẵng nói riêng và khu vực miền Trung nói chung.
Đà Nẵng cũng có hệ thống các trường dạy nghề rất tốt, đáp ứng đòi hỏi của
các nhà đầu tư trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
1.2.1.2. Định hướng chiến lược của Đà Nẵng
Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XIX đề ra:
Với yêu cầu phát triển của 10 năm đầu thế kỷ XXI và Tầm
nhìn 2020, Đà Nẵng sẽ phát triển thành một trong những đô thị lớn
của cả nước với quy mô dân số khoảng 1,5 triệu người; không gian


- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp: 5% - 6%.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân: 23% - 24% /năm.

- Thu ngân sách chiếm 22% - 23% GDP.
- Giảm tỷ lệ sinh bình quân hàng năm: 0,03%.
- Hàng năm giải quyết thêm việc làm khoảng 3,2 - 3,5 vạn lao động.
- Năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn thành phố sẽ giảm xuống còn 0,5%.
- Cơ cấu kinh tế đến năm 2010: công nghiệp - xây dựng: 46,7%; dịch vụ:
50,1%; thuỷ sản, nông, lâm nghiệp: 3,2%.
c. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng đến
năm 2010
Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX đã đề ra định hướng chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội thành phố đến 2010, trong đó bao gồm những nội
dung chủ yếu sau [40]:
- Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành đô thị hiện đại, văn minh có
môi trường văn hoá - xã hội lành mạnh, phát triển trong thế ổn định và bền
vững, giữ vai trò trung tâm của miền Trung và Tây Nguyên với cơ cấu kinh tế
công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, thuỷ sản, nông lâm nghiệp, trong
mối quan hệ với cả nước, khu vực hành lang Đông - Tây và ASEAN.
- Tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Tăng tỷ
trọng phát triển công nghiệp hướng mạnh vào công nghiệp chế biến, công
nghiệp hàng tiêu dùng phục vụ cho xuất khẩu, công nghiệp vật liệu xây dựng,
công nghiệp hoá chất, từng bước tăng tỷ trọng dịch vụ và du lịch.
- Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái nhằm đảm bảo
sự phát triển bền vững của thành phố, bảo vệ sức khoẻ và nâng cao chất
lượng cuộc sống cho nhân dân.
- Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Tạo nhiều
việc làm cho người lao động, nâng cao trình độ dân trí. Tăng cường đầu tư
công cộng cho khu vực nông thôn, miền núi, vùng xa nhằm làm cho mức
sống của các tầng lớp dân cư ngày càng nâng cao.

Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2001 - 2005 2006 - 2010
Tổng số 23.912,0 63.200,0
Nông nghiệp 493,3 1.303,8
Công nghiệp 7.195,9 19.018,9
Dịch vụ 16.222,8 42.877,3
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng.

1.2.2.2. Cân đối các nguồn vốn, nhu cầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX đã nêu rõ nhu cầu
vốn FDI của thành phố như sau:
Để thực hiện được mục tiêu đề ra về tổng nguồn vốn đầu tư
phát triển nêu trên, thành phố cần tăng cường huy động nhiều
nguồn vốn đầu tư theo nhiều hướng khác nhau; vận động các dự án
lớn của các Bộ, Ngành Trung ương đầu tư vào thành phố; tranh thủ
nguồn vốn vay dài hạn, trả chậm hàng năm của Nhà nước và các tổ
chức tài chính, tín dụng; đẩy mạnh thu hút vốn FDI, vốn đầu tư của
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Phấn đấu trong 5 năm (2006 -
2010) thu hút vốn FDI đạt 1.640 triệu USD, chiếm 40% tổng nhu
cầu vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ này, chủ yếu tập
trung vào các ngành công nghiệp và du lịch [40, tr.150].
Như vậy, nhu cầu bình quân mỗi năm thành phố phải thu hút vốn FDI
là 328 triệu USD. Trong các năm gần đây, Đà Nẵng luôn dẫn đầu miền Trung
về thu hút FDI. Tuy nhiên, so với các địa phương ở hai đầu của đất nước, kết
quả thu hút FDI vào thành phố Đà Nẵng còn quá khiêm tốn, chưa xứng đáng
với tiềm năng và vị thế của thành phố Đà Nẵng. Với khả năng tích lũy vốn nội
bộ còn hạn chế như hiện nay thì việc thu hút nguồn vốn FDI cho sự phát triển
kinh tế - xã hội ở Đà Nẵng trong thời gian tới là một vấn đề quan trọng mang
tính chiến lược.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status