Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI) từ Singapore vào Việt Nam - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay trong các đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam,
Singapore được đánh giá là một nhà đầu tư quan trọng và đầy tiềm năng đối với Việt
Nam. Việc thực hiện hiệu quả các dự án đầu tư FDI từ Singapore sẽ đem lại cho Việt
Nam nhiều lợi ích lâu dài như tăng trưởng về kinh tế, giải quyết được các vấn đề việc
làm cho người lao động, góp phần tăng cường hoàn thiện môi trường đầu tư, giúp
Việt Nam tiếp cận được các công nghệ hiện đại và chuyển dịch cơ cấu ngành theo
định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Đối với Singapore, qua nghiên cứu và đánh giá của các nhà đầu tư, Việt Nam
đang dần trở thành một môi trường đầu tư hấp dẫn nhất trong khu vực ASEAN cùng
với Thái Lan. Bởi một hệ thống luật pháp được cải thiện một cách thông thoáng và
tạo ra nhiều thuận lợi cho các nhà đầu tư, cũng như mức độ an toàn của thị trường và
đặc biệt là sự kiện năm 2007 Việt Nam chính thức gia nhập vào tổ chức thương mại
thế giới WTO.
Tuy nhiên, đánh giá một cách tổng quan, lượng vốn FDI của Singapore đổ vào
Việt Nam trong thời gian qua vẫn chưa thực sự là lớn nhất so với tiềm năng của đất
nước này, cũng như còn tồn tại một số hạn chế trong vấn đề thu hút FDI của
Singapore. Do vậy, nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp từ Singapore vào Việt
Nam, em đã quyết định chọn đề tài “ Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài ( FDI) từ Singapore vào Việt Nam ”. Hi vọng rằng đề tài
này sẽ giúp cho Việt Nam từng bước phát triển trong hoạt động thu hút đầu tư trực
tiếp FDI từ Singapore.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thông qua việc tìm hiểu các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài, các yếu
tố ảnh hưởng và phân tích thực trạng về hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ
Singapore vào Việt Nam. Bên cạnh đó, chỉ ra những thành tựu và hạn chế của hoạt
động này trong thời gian qua, đồng thời so sánh với các đối tác đầu tư khác. Căn cứ
vào các vấn đề nêu trên, bài nghiên cứu đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm tăng
1
cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ Singapore vào Việt Nam

Đầu tư trực tiếp nước ngoài( FDI ) là một loại hình di chuyển vốn giữa các quốc
gia, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành
hoạt động sử dụng vốn đầu tư.
Theo Hiệp hội luật quốc tế, Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn từ
nước của người đầu tư sang nước của người nhận sử dụng nhằm xây dựng ở đó
những xí nghiệp kinh doanh hoặc dịch vụ.
Theo tổ chức thương mại thế giới ( WTO ), Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra
khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có một tài sản ở một nước khác
( nước thu hút đầu tư ) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương tiện quản lý là thứ
để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác trong phần lớn trường hợp cả nhà
đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong
những trường hợp đó nhà đầu tư thường hay gọi là công ty mẹ và các tài sản được
gọi là công ty con hay chi nhánh công ty.
Theo Luật đầu tư của Việt Nam, Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các tổ chức
và cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào được
chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cở sở hợp đồng hoặc
thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
3
Vậy về thực chất, FDI là loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây
dựng hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để là
chủ sở hữu toàn bộ hay từng phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý điều hành hoặc tham
gia quản lý điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Đồng thời, họ
cũng chịu trách nhiệm theo mức sở hữu về kết quả sản xuất kinh doanh của dự án.
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI bao gồm có 4 đặc điểm cơ bản sau đây:
Về tỉ lệ góp vốn, tỉ lệ góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp
định của dự án đạt mức độ tối thiểu tùy theo luật đầu tư của từng nước qui định. Ví
dụ, theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (có sửa đổi) qui định chủ đầu tư nước
ngoài phải góp vốn tối thiểu là 30% vốn pháp định của dự án. Trong khi đó, tỉ lệ góp
vốn tối thiểu ở Mỹ là 10%.

gian để được thực hiện dự án sẽ kéo dài.
Ngược lại, hợp tác kinh doanh thường không phối hợp để phát huy một cách tối
đa thế mạnh của các bên tham gia. Đồng thời những mâu thuẫn hoặc khó khăn trong
quá trình triển khai vốn đầu tư thường không được giải quyết một cách kịp thời. Vì
nếu thành lập doanh nghiệp hai bên phối hợp hợp đồng không làm việc trực tiếp mà
qua các bàn bạc, trao đổi, đàm phán, sản xuất kinh doanh bị ngưng trệ, không bắt kịp
thị trường. Nếu để phát triển lâu dài, tận dụng thế mạnh hai bên cùng có, họ sẽ vẫn
tìm hình thức liên doanh là phổ biến hơn.
1.1.3.2 Doanh nghiệp liên doanh
Là hình thức trong đó bên chủ đầu tư nước ngoài và bên nước sở tại cùng tham
gia góp vốn đề thành lập một pháp nhân mới theo qui định của luật pháp nước sở tại
thông thường dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Trong hình thức này quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia được xác định
dựa trên tỷ lệ góp vốn
Hình thức doanh nghiệp kiên doanh có những ưu điểm nổi bật như khả năng
kiểm soát đầu tư của nước sở tại tốt hơn. Với hình thức này sẽ tạo điều kiện phát huy
tối đa thế mạnh, lợi thế của các bên tham gia để có thể lựa chọn lĩnh vực đầu tư cũng
như việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh và áp dụng các biện pháp quản lý một
cách có hiệu quả nhất, đồng thời hạn chế được rủi ro do thiếu thông tin về môi trường
đầu tư ở nước sở tại. Đặc biệt với các nước sở tại sẽ có nhiều cơ hội học tập kinh
nghiệm quản lý, và có cơ hội làm việc cùng các chủ đầu tư lớn có kinh nghiệm.
5
Bên cạnh đó, hình thức này cũng đem lại những hạn chế nhất định. Hai bên hợp
tác nếu đạt trình độ tương đồng thì đem lại hiệu quả rất tốt nhưng ngược lại nếu có sự
chênh lệch về trình đồ thì sẽ dẫn đến nhiều khuyết điểm, nhiều mâu thuẫn. Do vậy
các chủ đầu tư thường lựa chọn hình thức này ở giai đoạn đầu thâm nhập thị trường.
Sau đó một thời gian thường chuyển sang hình thức 100% vốn nước ngoài để triệt
tiêu những xung đột, và dễ dàng để nắm được toàn quyền ra quyết định.
1.1.3.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Với hình thức đầu tư này, chủ đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư toàn bộ vốn

1.1.4.1 Đối với nước đi đầu tư
Về mặt kinh tế, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đem lại cho các chủ đầu
tư nước ngoài rất nhiều hiệu quả. Bởi lẽ, chủ dầu tư nước ngoài thường trực tiếp quản
lý và điều hành các dự án nên họ có một trách nhiệm rất cao, đưa ra các quyết định
đem lại lợi ích cao nhất. Do vậy có thể đảm bảo hiệu quả của vốn FDI cao. Bên cạnh
đó, các chủ đầu tư nước ngoài có thể giảm được giá thành sản phẩm do khai thác
được nguồn lao động giá rẻ hoặc gần nguồn nguyên liệu hoặc gần thị trường tiêu thụ
sản phẩm. Nhờ đó mà nâng cao hiệu quả kinh tế của vốn FDI, tăng năng suất và thu
nhập quốc dân.
Về mặt xã hội, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, đã thiết lập một mối quan hệ
ngoại giao hữu nghị rất tốt giữa hai nước đầu tư, và cùng nhau hướng tới một sự phát triển
cao. Thực chất, chủ đầu tư nước ngoài đã mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm một
cách rộng rãi cả về công nghệ và thiết bị trong khu vực và thế giới.
Cuối cùng, tránh được những rào cản của môi trường đầu tư nước sở tại, cụ thể
là hàng rào bảo hộ mậu dịch và phi mậu dịch của nước sở tại vì thông qua FDI mà
chủ đầu tư nước ngoài xây dựng được các doanh nghiệp của mình nằm trong lòng các
nước thi hành chính sách bảo hộ.
Bên cạnh những lợi ích và vai trò to lớn mà FDI mang lại, thì các nước đầu tư
cũng cần lưu ý về chính sách phù hợp để kết hợp khéo léo và cân đối giữa hoạt động
đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Về phía doanh nghiệp cần
nghiên cứu kĩ lưỡng những nguy cơ rủi ro có thể gặp phải và đưa ra các biện pháp
phòng ngừa cũng như hạn chế tối đa những rủi ro.
1.1.4.2 Đối với nước nhận đầu tư
Thu hút FDI đã trở thành chính sách ưu tiên ở nhiều nước trên thế giới, cả nước
phát triển lẫn nước đang phát triển. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của FDI đối
7
với nước nhận đầu tư. Xét trên giác độ của một nước đang phát triển như Việt Nam.
Chúng ta sẽ thấy các lợi ích thiết yếu mà Việt Nam đạt được khi tăng cường thu hút
FDI
Về mặt kinh tế, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là cơ hội ớn để tạo điều

sách hỗ trợ đầu tư. Để thực hiện được chính sách đầu tư, mỗi nước đều đưa ra cho
mình một hệ thống các công cụ đặc trưng bao gồm: i) công cụ tài chính; ii) công cụ
phi tài chính.
a. Các công cụ tài chính
Các công cụ tài chính khuyến khích về thuế là những quy định được đề ra với
mục đích làm giảm gánh nặng về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài. Chẳng hạn,
nhiều nước đang phát triển cho phép các dự án FDI mới được hưởng thời hạn miễn
thuế nhất định, đôi khi thời hạn này kéo dài tới hơn 10 năm. Nhóm các hình thức
khuyến khích về thuế phổ biến gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá
nhân, thuế nhập khẩu đầu vào sản xuất, thuế giá trị gia tăng, thuế chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài, qui định về tỉ lệ và hình thức góp vốn đầu tư, chính sách hỗ trợ tín dụng
và cung cấp ngoại tệ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (áp dụng cho
doanh nghiệp vừa và nhỏ)
b. Các công cụ phi tài chính
Các công cụ và biện pháp phi tài chính được sử dụng rất đa dạng. Một số công
cụ thường dùng bao gồm:
• Qui định về qui trình và thủ tục thẩm tra xét duyệt và cấp giấy phép đầu tư
• Xây dựng và thực hiện qui hoạch tổng thể và chi tiết của toàn quốc gia của
từng ngành, lĩnh vực và từng địa phương trong việc thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài một cách thống nhất
• Quiđịnh về hình thức đầu tư và việc cho phép chuyển đổi giữa các hình thức
đầu tư
• Qui định về thời hạn hợp đồng của dự án đầu tư
• Qui định về quyền sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
các chủ đầu tư
• Qui định về việc tuyển dụng lao động
9
Ngoài ra một số quốc gia còn sử dụng biện pháp qui định tỉ lệ nội địa hóa với
các sản phẩm và sử dụng nguyên liệu đầu vào trong nước với các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài và các biện pháp này sẽ bị xóa bỏ khi các quốc gia là thành

của chính mình.
1.1.5.3 Nguồn nhân lực
Nguồn lao động có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả hoạt động
kinh doanh của nhà đầu tư. Chính vì vậy nguồn lao động cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của
nước nhận đầu tư. Bài nghiên cứu sẽ xem xét yếu tố nguồn nhân lực theo các lĩnh
vực đầu tư và những yêu cầu của các doanh nghiệp có vốn FDI đối với nguồn nhân
lực tại các nước nhận đầu tư
Với mỗi nhóm lĩnh vực đầu tư khác nhau thì yêu cầu đòi hỏi đối với nguồn
nhân công là khác nhau. Đầu tư vào các ngành công nghiệp sản xuất với trình độ cao
và tinh vi như điện tử, ô tô, xe máy... thì điều thiết yếu và rất quan trọng là trình độ
cao, lành nghề của nhân công, đi kèm với mức lương vừa phải sẽ là điểm hấp dẫn đặc
biệt các nhà đầu tư trong lĩnh vực này. Mặt khác, với các ngành công nghiệp chế biến
và chủ yếu là gia công thì nhu cầu về số lượng nhân công lớn sẽ được đánh giá cao,
và trình độ nhân công vừa phải nhưng đặc biệt điều kiện cần là giá nhân công phải rẻ.
Thực tế, cho thấy nguồn nhân lực của Việt Nam mới chỉ đáp ứng được các
ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, gia công sản phẩm nêu ở trên. Lợi thế
cạnh tranh của Việt Nam chủ yếu là nguồn nhân công dồi dào, cần cù, chăm chỉ và
giá nhân công thấp hơn so với nhiều nước trong cùng khu vực.
1.1.5.4 Qui mô thị trường
Đối với một nước, cầu của nước đó cũng ảnh hưởng đến sức hấp dẫn đối với
các nhà đầu tư. Khi nghiên cứu ảnh hưởng của cầu thị trường đến khả năng cạnh
tranh của quốc gia đó người ta thường nghiên cứu các yếu tố quy mô cầu, cơ cấu của
cầu, mô hình và tốc độ tăng trưởng của cầu.
Quy mô cầu tạo sự hấp dẫn về số lượng hàng hoá được mua và tiêu dùng. Cơ
cấu của cầu tạo nên sự hấp dẫn về cơ cấu các loại hàng hoá được mua và tiêu dùng
tại nước đó. Mô hình và tốc độ tăng trưởng của cầu chi phối sức hấp dẫn về cầu của
thị trường trong tương lai. Bởi lẽ, thực chất khi đến kinh doanh, nhà đầu tư luôn xem
11
xét nước đó dưới góc độ của một thị trường tiêu thụ sản phẩm. Một trong những mục

Singapore tại Hà Nội được thành lập.
- Sau khi Việt Nam tham gia Hiệp ước Bali (tháng 7-1992) và trở thành thành
viên đầy đủ của ASEAN vào tháng 7-1995, quan hệ hai nước chuyển sang một giai
đoạn phát triển mới về chất. Singapore rất coi trọng phát triển quan hệ hợp tác với
Việt Nam và Việt Nam trở thành một trong những thị trường chính về hợp tác thương
mại, đầu tư của Singapore ở Đông Nam Á.
2. Các hoạt động trao đổi đoàn:
Các đoàn cấp cao nhất của hai bên đều đã thăm lẫn nhau.
- Các chuyến thăm Singapore gần đây của các nhà lãnh đạo cấp cao Việt Nam:
• Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (tháng 12-2003).
• Thủ tướng Phan Văn Khải (tháng 3-2004): Hai bên đã ký "Tuyên bố chung
về khuôn khổ hợp tác toàn diện trong thế kỷ 21", tạo cơ sở pháp lý và điều
kiện thuận lợi thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa hai
nước.
• Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sang Singapore dự Hội thảo: "Việt Nam,
nơi đến của các nhà đầu tư" do Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam chủ trì
ngày 15-3-2001; tham dự Chương trình giao lưu với Thủ tướng Lý Quang
Diệu từ ngày 26 đến ngày 29-7-2004; thăm, làm việc và ký kết Hiệp định
khung về kết nối Việt Nam – Singapore (từ ngày 5 đến ngày 7-12-2005).
- Các chuyến thăm Việt Nam gần đây của các nhà lãnh đạo cấp cao Singapore:
• Tổng thống S. R Nathan (tháng 2-2001).
• Thủ tướng Goh Chok Tong (tháng 3-1994; tháng 12-1998; tháng 3-2003).
• Thủ tướng Lý Hiển Long (tháng 4-2000 với tư cách Phó Thủ tướng; ngày 6
đến ngày 7-12-2004; ngày 25 đến ngày 26-9-2006).
Ngoài ra các đoàn Bộ, ngành của hai bên cũng thường xuyên có những chuyến
thăm và làm việc lẫn nhau để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, tăng cường hiểu biết.
3. Quan hệ hợp tác thương mại - đầu tư:
- Từ năm 1996 đến nay, Singapore luôn là một trong những đối tác thương mại
và đầu tư lớn nhất của Việt Nam. Tổng kim ngạch hai chiều năm 2005 đạt 6,4 tỷ
USD (Việt Nam xuất 1,8 tỷ USD, nhập 4,6 tỷ USD).

4. Các cơ chế hợp tác giữa hai nước:
Ngoài việc hợp tác trên khuôn khổ các hiệp định và thỏa thuận hợp tác song
phương, hai bên đã hình thành các cơ chế hợp tác:
Ủy ban Hợp tác Việt Nam – Singapore được thành lập ngày 5-5-1993; hiện
14
là cơ chế duy nhất để hai bên cùng trao đổi tình hình hợp tác song phương trên các
lĩnh vực cụ thể; do Bộ Kế hoạch Đầu tư Việt Nam và Bộ Công Thương Singapore
làm đầu mối và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Công
nghiệp và Thương mại Singapore làm đồng chủ trì.
Cơ chế tham khảo chính trị thường niên cấp Thứ trưởng giữa hai Bộ
Ngoại giao thảo luận các hợp tác song phương và các vấn đề khu vực và quốc tế
cùng quan tâm từ năm 2003.
1.2.1.2 Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam
Thực hiện chính sách đối ngoại và thu hút đầu tư mở rộng, hiện nay Việt Nam
đã giao lưu thương mại với hơn 180 nước và vùng lãnh thổ, đầu tư trên 5.300 dự án.
Lợi thế lớn của Việt Nam là nằm ở vị trí trung tâm nên rất thuận lợi cho giao thương
quốc tế. Việt Nam có một nền chính trị ổn định, nguồn lao động dồi dào. Điều này
cho thấy, Việt Nam đang trở thành một nước đầy tiềm năng trong khu vực. Nhằm cải
thiện môi trường đầu tư ngày càng tốt hơn, Chính phủ Việt Nam đang có một số chủ
trương chính sách mới, đó là:
Thứ nhất, chính phủ Việt Nam đã thông qua Luật đầu tư chung cho các loại
hình doanh nghiệp, đối xử bình đẳng quốc gia, không phân biệt giữa đầu tư trong
nước và đầu tư nước ngoài, hoàn toàn xóa bỏ phân biệt về giá và lệ phí đối với nhà
đầu tư nứơc ngoài.
Thứ hai, ngoài các chương trình hợp tác đa phương, Chính phủ Việt Nam đã ký
hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 50 nước và vùng lãnh
thổ trên thế giới, và gia nhập WTO. Các cam kết quốc tế của Việt Nam đều hướng tới
mục tiêu chung là nhằm mở cửa thị trường, tự do hóa hoạt động đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, tiếp tục thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước,
đồng thời đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước với phạm vi rộng lớn

Đài Loan, Hồng Công, Malaixia.
Một chuyên gia của Cục Đầu tư nước ngoài, bà Nguyễn Thuý Hương cho biết,
các nhà đầu tư Singapore có mặt ở hầu hết các ngành kinh tế của Việt Nam, từ thăm
dò khai thác dầu khí, sản xuất công nghiệp, tới chế biến nông-lâm-thuỷ sản; nhưng
tập trung nhiều nhất vẫn là lĩnh vực dịch vụ với hơn 5,5 tỷ USD.
Thời gian gần đây, các nhà đầu tư Singapore đang dành sự quan tâm lớn đến
16

Trích đoạn Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng: Giải pháp từ phía doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status