Lời nói đầu
Năm 2006 sự kiện lớn nhất Việt Nam chính là Việt Nam trở thành thành
viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh WTO. Có
thể nói, để đạt được thành công đó Việt Nam đã nỗ lực rất nhiều để từng bước
hội nhập với nền kinh tế thế giới bằng những văn bản ký kết song phương và
đa phương về kinh tế.
Và một trong những văn bản đầu tiên dựa trên các thông lệ, quy định của
quốc tế về thương mại chính là Hiệp định thương mại Việt - Mỹ BTA. Đây là
hiệp định thương mại toàn diện nhất mà Việt Nam ký kết, và là hiệp định đầu
tiên được xây dựng dựa trên các hiệp định của WTO.
BTA là một hiệp định về thương mại, và nó bao gồm tất cả các cam kết
của WTO về đầu tư. Chính vì vậy, ngay sau khi hiệp định này có hiệu lực nó
đã có tác động tới đầu tư ở Việt Nam.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề án môn học tôi chỉ đề cập
đến “ Tác động của hiệp định thương mại Việt- Mỹ BTA tới đầu tư trực tiếp
nước ngoài ( FDI) của Hoa kỳ vào Việt Nam”.
Kết hợp những thông tin thu thập được, cùng với kiến thức kinh tế được
học trong trường, tôi đã rất cố gắng để nhìn nhận, và đánh giá vấn đề một cách
chính xác. Song với kiến thức và hiểu biết thực tế hạn chế, nên đề án môn học
không tránh khỏi những thiếu sót. Mong thầy, cô và các bạn đóng góp ý kiến
để em có thể hiểu được vấn đề một cách sâu sắc hơn.
Đề tài :
Tác động của hiệp định thương mại Việt Mỹ ( BTA) tới
đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hoa Kỳ vào Việt Nam
1
Chương I : Lý luận chung về đầu tư nước ngoài và
hiệp định thương mại Việt Mỹ ( BTA)
I. Khái quát chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI)
1. Khái niệm và đặc điểm của FDI
1.1 . Khái niệm
Trước hết, ta cần hiểu về đầu tư nước ngoài :
nó có vai trò tạo ra cú huých đáng kể đối với nền kinh tế của nước tiếp
nhận, đặc biệt là với những nước đang phát triển thiếu vốn, và yếu kém về
quản lý như Việt Nam.
2. Vai Trò của FDI
2.1FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế
Mục tiêu cơ bản trong thu hút FDI của nước chủ nhà là thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Mục tiêu này được thực hiện thông qua tác động tích cực
của FDI đến các yếu tố quan trọng quyết định tới tốc độ tăng trưởng: bổ
sung nguồn vốn trong nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; tiếp
nhận chuyển giao công nghệ hiện đại, kĩ xảo chuyên môn và phát triển khả
năng công nghệ nội địa; phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm; thúc
đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới; tạo liên kết giữa các
ngành công nghiệp.
2.2 FDI tác động trực tiếp tới Vốn đầu tư và cán cân thanh toán quốc tế
FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn
và ngoại tệ của các nước nhận đầu tư đặc biệt là đối với các nước đang phát
triển.
3
Hầu hết các nước đang phát triển đều rơi vào cái “vòng luẩn quẩn” đó là:
thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp rồi hậu quả lại là thu
nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là “điểm nút” khó khăn nhất mà các
nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại.
Nhiều nước lâm vào tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn
và tạo ra được điểm đột phá chính xác vào một mắt xích của “vòng luẩn quẩn”
này. Và trở ngại lớn nhất để thực hiện điều đó đối với các nước đang phát
triển đó là thiếu vốn đầu tư và trình độ kỹ thuật còn yếu kém.
Vốn đâu tư là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công
nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động…Do đó vốn nước ngoài sẽ là một “cú
huých” để góp phần đột phá cái vòng luẩn quẩn đó. Đặc biệt FDI là một
nguồn quan trọng khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho nước
Tóm lại, FDI đem lại lợi ích về tạo công ăn việc làm. Đây là một tác động
kép: tạo thêm việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người lao
động, từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước.
FDI thúc Đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới
Xuất nhập khẩu có mối quan hệ nhân quả với tăng trưởng kinh tế. Mối
quan hệ này được thể hiện ở các khía cạnh: xuất nhập khẩu cho phép khai thác
lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế theo quy mô, thực hiện chuyên môn hoá sản
xuất; nhập khẩu bổ sung các hàng hoá, dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu
dùng; xuất nhập khẩu còn tạo ra các tác động ngoại ứng như thúc đẩy trao đổi
thông tin, dịch vụ, tăng cường kiến thức marketing cho các doanh nghiệp nội
địa và lôi kéo vào mạng lưới phân phối toàn cầu. Tât cả các yếu tố naỳ sẽ đây
nhanh tốc độ tăng trưởng.
5
Thông qua FDI, các nước đang phát triển có thể tiép cận thị trường thế
giới bởi vì, hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty xuyên quốc gia thực
hiện, mà các công ty này có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng
những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở thanh thế và uy tín của họ về chất
lượng, kiểu dáng sản phẩm và giao hàng đúng thời hạn.
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới FDI
Các nhân tố chính ảnh hưởng tới FDI như : tình hình chính trị, chính
sách, pháp luật, vị trí địa lý- điều kiện tự nhiên, trình độ kinh tế, đặc điểm văn
hoá –xã hội. Bởi các nhân tố này có thể làm tăng khả năng sinh lãi hoặc rủi ro
cho các nhà đầu tư.
3.1 .Tình hình chính trị
Có thể nói tình hình chính trị chính là những yếu tố đảm bảo cho tài sản
đem đầu tư của nhà đầu tư có được an toàn hay không? Thực tế, cho thấy ở
một quốc gia tình hình chính trị không ổn định thì rủi ro là rất lớn.
Việt Nam là một nước có nền chính trị ổn định trong khu vực, cũng như
trên thế giới, và đây cũng chính là những nhân tố thuận lợi để thu hút đầu tư.
3.2 . Chính sách pháp luật
song làm thế nào để họ biết tới những ưu đãi đó, họ thấy được lợi thế so sánh
của quốc gia đó so với nước khác… thì các nhà hoạch định chính sách cần
phải chu ý nhiều tới việc quảng bá cơ hội đầu tư của mình.
Cụ thể, để hấp dẫn các nhà đầu tư thì nước chủ nhà cần : xúc tiến đầu tư,
phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao.
4.1xúc tiến đầu tư
7
Cần tích cực tận dụng mọi cơ hội để quảng bá hình ảnh của Việt Nam với
các nhà đầu tư quốc tế.
Gần đây Việt Nam đã nhận thức và tập trung vào việc này khá nhiều.
Trong thời gian hội nghị diễn ra APEC lần thứ 14 vừa qua Việt Nam đã rất
tích cực quảng bá hình ảnh của đất nước thông qua rất nhiều những hoạt động
bên lề hội nghị.
4.2 Xây dựng cơ sở hạ tầng
Trong những năm gần đây, có rất nhiều các nhà đầu tư lớn trên thế giới
đã đến và làm ăn tại Việt Nam . Và mỗi nhà đầu tư đến từ những khu vực kinh
tế khác nhau cũng có những nét khác nhau. Nếu như với các nhà đầu tư châu á
: Nhật Bản, Hàn Quốc… họ sẵn sàng xây dựng các nhà máy, cũng như cơ sở
hạ tầng phục vụ cho mình. Thì các nhà đầu tư Hoa kỳ lại khác, họ không
muốn mất chi phí cho việc xây dựng, chính vì vậy Việt Nam đã không là lựa
chọn cho nhiều nhà Hoa kỳ với lý do không đáp ứng được yêu cầu về cơ sở hạ
tầng.
Thực tế cho thấy, sau khi đường cao tốc Hà Nội - Lạng Sơn bắt đầu được
xây dựng, đã có rất nhiều nhà đầu tư đầu tư vào khu công nghiệp Tiên Sơn vì
giao thông thuận tiện.
4.3 . Xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công
nghệ cao
Nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đẩy mạnh xuất khẩu. Trên
thực tế thì khu công nghiệp và khu công nghệ cao đang chứng tỏ hiệu quả
sách đầu tư.
9
2.2 . Những cải cách của chính phủ Việt Nam nhằm thực hiện các cam kết
đầu tư theo BTA
Ngày 28/11/2001 Quốc hội Việt Nam đã ban hành nghị quyết số 48/2001-
QH10 đề nghị các cơ quan của chính phủ sửa đổi các luật và quy định để thực
hiện BTA. Kết quả đã đạt được là việc : ban hành Luật Đầu tư chung, và sửa
đổi luật Doanh nghiệp.
Cụ thể :
Thứ nhất : Đối xử quốc gia (NT) và Tối huệ quốc (MFN) : Pháp lệnh về
tối huệ quốc và Đối xử quốc gia tạo ra khung pháp lý chung cho các nhà đầu
tư nước ngoài được hưởng sự. Đối xử quốc gia và Tối huệ quốc. Điều này đã
được thể hiện trong luật đầu tư và luật doanh nghiệp sửa đổi.
Thứ hai: Xoá bỏ các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
(TRIMs) :
- Xoá bỏ về cân đối ngoại tệ ở luật đầu tư. Quyết định 46/2003/QĐ-
TTg giảm tỷ lệ kết hối ngoại tệ xuống 0% ( tưc là doanh nghiệp không
nhất thiết phải bán ngoại tệ cho ngân hàng)
- Việt Nam không áp dụng yêu cầu cân đối xuất, nhập khẩu.
- Luật đầu tư chỉ khuyến khích chứ không bắt buộc các công ty phải
mua hàng hoá trong nước theo yêu cầu về hàm lượng nội địa. Tuy
nhiên, đối với mọtt số lĩnh vự, mức thuế suất vẫn được áp dụng trên cơ
sở tỷ lệ nội địa để sản xuất ra một số sản phẩm
10
Chương II : Tác động của hiệp định tới đầu tư trực tiếp
nước ngoài của Hoa kỳ vào Việt Nam
I. Tình hình đầu tư của Hoa kỳ vào Việt Nam kể từ năm 1988 đến
nay.
Mặc dù vào năm 1988 Hoa kỳ bắt đầu có vốn đăng ký đầu tư vào Việt
Nam (0.3 triệu usd), nhưng mãi cho đến năm 1996 thì Hoa kỳ mới chính thức
18 Đăklăc 1 5 5 100
19 Yên Bái 2 4 0 0
20 Vĩnh Phúc 1 4 0 0
21 Vĩnh Long 1 2 0 0
Tổng cộng 246 2350.7 1761.4 74.93
( Nguồn Bộ kế hoạch và đầu tư )
Nhìn vào bảng trên có thể thấy chất lượng đạt được của các dự án đầu tư
của Hoa kỳ vào Việt Nam ở mức khá : tỷ trọng vốn thực hiện so với vốn đăng
ký đạt 74% mặc dù có một số địa phương con số này dừng lại ở mức 0%. Đầu
tư trực tiếp của Hoa kỳ tập trung vào một số tỉnh, thành phố có các khu công
nghiệp phát triển như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Hà
Nội. Nhìn vào số liệu này cũng có thể thấy được sự khác biệt về việc lựa chọn
đầu tư của nhà đầu tư Hoa kỳ so với nhà đầu tư khác như Nhật Bản, Hàn
Quốc…
Ví dụ như ở Vĩnh Phúc nơi tập trung khá nhiều các tập đoàn lớn của Nhật
Bản như Honda, Toyota, Yamaha, Canon… còn của Hoa kỳ thì vốn thực hiện
so với số vốn đăng ký khiêm tốn 4 triệu USD là 0%.
2. Đầu tư của Hoa kỳ vào Việt Nam theo ngành nghề
12
Bảng 2: FDI của Hoa kỳ vào Việt Nam theo lĩnh vực đầu tư
(không thông qua nước thứ ba)
(từ năm 1988 đến hết ngày 31/12/2004 )
Đơn vị : triệu usd
Stt Ngành nghề
Số dự
án
Vốn đăng ký
ban đầu
Vốn thực
nông-lâm- ngư
nghiệp
Dịch vụ
vốn đăng ký vốn thực hiện
13
Nhận thấy, tỷ trọng của vốn thực hiện so với vốn đăng ký còn thấp,
thường chỉ đạt trung bình là 50%, duy có ngành công nghiệp và xây dựng đạt
63.14% ( cho tổng ngành), song lại phân bổ không đều : trong khi ngành chế
biến thực phẩm chỉ đạt 43.13% thì ngành dầu mỏ lại chiếm tới 178.96 %.
Nhìn vào biểu đồ trên có thể thấy đầu tư của Hoa kỳ vào Việt Nam chủ
yếu là lĩnh vực xây dựng và công nghiệp, song tổng vốn đầu tư cũng mới chỉ
khiêm tốn ở mức 822 triệu USD ( vốn đăng ký), và 519 triệu là vốn thực hiện.
Nhưng trên thực tế, nhìn vào dòng tiền đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của
Hoa kỳ, có thể thấy Hoa kỳ là quốc gia đầu tư mạnh về dịch vụ hơn là đầu tư
vào sản xuất, tỷ lệ này thường là 70: 30. Nhưng khi đầu tư vào Việt Nam thì
lại ngược lại. Song điều này chắc chắn sẽ có sự thay đổi mạnh mẽ trong
những năm tới đây, vì theo như giới doanh nghiệp Hoa kỳ thì họ vào Việt
Nam không những chỉ nhằm xuất nhập khẩu nông sản, thực phẩm, bán máy
bay mà vảo cả tài chính ngân hàng, bảo hiểm, công nghệ thông tin, truyền
thông, phân phối.
3. Đầu tư trực tiếp của Hoa kỳ vào Việt Nam theo hình thức đầu tư
14
Bảng 3 : Đầu tư của Hoa kỳ theo hình thức đầu tư
(Từ năm 1988 đến hết ngày 31/12/2004)
Đơn vị : triệu USD
TT
Hình thức
đầu tư
Số dự
án
hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài là lớn nhất song tỷ trọng của vốn thực
hiện so với vốn đầu tư lại là thấp nhất, điều này một phần bị ảnh hưởng là do
luật đầu tư của Việt Nam quy định.
Đồng thời, số dự án đầu tư của Hoa kỳ bao gồm cả đầu tư qua nước thứ
ba lớn hơn không là 52 dự án, với số vốn đăng ký 1310 triệu USD.
15
II. Tác động của BTA đến vốn FDI của Hoa kỳ vào Việt Nam
1. Tình hình Vốn đầu tư của Hoa kỳ vào Việt Nam giai đoạn trước khi
hiệp định có hiệu lực ( trước 2001)
1.1 Vốn FDI của Hoa kỳ vào Việt Nam
Bảng 4 vốn đăng ký và vốn thực hiện của Hoa kỳ vào Việt Nam thông
qua nước thứ ba và không thông qua nước thứ ba
giai đoạn 1996 – 2000 ( giai đoạn trước khi hiệp định có hiệu lực)
Đơn vị : triệu usd
Năm
vốn thực hiện (không thông
qua nước thứ ba
vốn thực hiện ( kể cả thông
qua nước thứ ba)
1996 75.1 220
1997 132.6 266
1998 89 271
1999 53.4 274
2000 61.9 196
2001 92,7 258
(Nguồn :Bộ kế hoạch và Đầu tư)
Biểu đồ
vốn FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam thông qua nước thứ ba
và không thông qua nước thứ ba
0
1996 75.1 220
1997 132.6 77 266 21
1998 89 - 33 271 2
1999 53.4 - 40 274 1
2000 61.9 17 196 - 28
2001 92.7 50 258 31
Tốc độ tăng trung bình(nhân)
trước hiệp định
4.3 3.2
Qua bảng tính này, nhận thấy tốc độ gia tăng vốn đầu tư của Hoa kỳ vào
Việt Nam (năm sau so với năm trước) kể cả qua nước thứ ba hay không cũng
rất thấp, trung bình chỉ đạt 4.3% ( không thông qua nước thứ ba), và 3.2 %
(thông qua nước thứ 3). Nếu xét dựa vào giá trị tuyệt đối thì, có những năm
vốn đầu tư thực hiện còn giảm đi : năm 1998 vốn đầu tư giảm 33% so với năm
1997 (không thông qua nước thứ 3). Và năm 1999 giảm 40 % so với năm 1998
(không thông qua nước thứ 3)
Bảng 4 : Tỷ trọng của vốn đăng ký so với vốn thực hiện của FDI
của Hoa kỳ vào Việt Nam ( giai đoạn 1996 – 2000) ( không thông qua
nước thứ ba)
17
Đơn vị : Triệu USD
1996 1997 1998 1999 2000 2001
Vốn đăng ký 144.7 274 125.1 135.6 79.6 122.1
Vốn thực hiện 75.1 132.6 89 53.4 61.9 92.7
Tỷ trọng (%) 51.9 48.39 71.14 39.38 77.76 75.93
(Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư)
0
20
40
60