Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay - Pdf 11

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, vốn FDI là một bộ phận
quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư của bất kỳ một quốc gia hoặc một
địa phương nào. Đối với nước ta, một nước đang trong quá trình CNH, HĐH,
chuyển đổi và hội nhập kinh tế, với mục tiêu phát triển kinh tế rất cao, nhu
cầu vốn đầu tư rất lớn, trong đó vốn FDI có vai trò đặc biệt quan trọng.
Dưới góc độ của quốc gia hay một địa phương tiếp nhận vốn, FDI có
mục tiêu và tác động đa chiều. Ngoài tác động phục vụ cho sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước, qua các hoạt động FDI còn tạo cơ hội tiếp nhận kỹ
thuật sản xuất, kinh nghiệm kinh doanh, các sáng chế, phát minh, bí quyết
công nghệ, năng lực quản lý, điều hành, giúp các chủ thể trong nước và nền
kinh tế nói chung đẩy nhanh quá trình phát triển những ngành nghề có kỹ
thuật, công nghệ mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng
nhanh. FDI còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, đẩy
mạnh kim ngạch xuất khẩu, góp phần vào việc lành mạnh hoá các cân đối
vĩ mô của nền kinh tế. Ngay từ khi bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới,
vấn đề thu hút vốn FDI đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm,
chú ý và đã có nhiều biện pháp tích cực, đổi mới liên tục nhằm thu hút
ngày càng nhiều và ngày càng có chất lượng nguồn vốn quan trọng này.
Đối với Đà Nẵng, một thành phố được tái lập chưa lâu như một thành phố
trực thuộc Trung ương, nằm ở vị trí chiến lược của vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung, với nhiều lợi thế, tiềm năng chưa được khai thác đúng mức,
đầu tư FDI lại càng có vai trò quan trọng.
Nghị quyết các Đại hội Đảng, từ Đại hội VI đến Đại hội X đều khẳng
định rằng, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, được khuyến
khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Thu hút
vốn FDI là chủ trương quan trọng của Đà Nẵng, có tác dụng khai thác nguồn
lực vốn ngoài nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, làm đòn bẩy khai thác
có hiệu quả các nguồn lực trong nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp, phục vụ sự

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về FDI nói chung cũng như những
giải pháp thu hút FDI nói riêng. Sau đây là những công trình tiêu biểu:
- “Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước
ASEAN và vận dụng vào Việt Nam”, Nguyễn Huy Thám, Luận án tiến sĩ Kinh
tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999.
- “Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”, Phan Minh Thành, Luận văn thạc sĩ Kinh
tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000.
- “Hoàn thiện Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Văn Hùng, Luận văn thạc
sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
- “Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại thành phố Đà Nẵng”, Ngô Quang Vinh, Luận văn thạc sĩ Kinh tế,
Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2003.
- “Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - vị trí, vai trò của nó trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”, Đề tài KH-CN cấp nhà
nước KX01.05, GS.TS Nguyễn Bích Đạt, Hà Nội, 2004.
- “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương - Thực trạng và giải
pháp”, Bùi Thị Dung, Luận văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005.
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề vốn FDI
với những cách tiếp cận và giải quyết ở những khía cạnh khác nhau của vấn
đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các công trình nghiên cứu đã đề
cập đến rất nhiều khía cạnh của đầu tư FDI như tác động của FDI; vị trí, vai
trò của FDI; quản lý nhà nước đối với khu vực này; các biện pháp thu hút FDI
phục vụ phát triển kinh tế… Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về những giải pháp thu hút vốn FDI trong
điều kiện cụ thể của Đà Nẵng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương
pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan
điểm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; các thành
tựu khoa học trong kinh tế nói chung và trong lĩnh vực chính sách FDI nói
riêng. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là:
phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hoá; kết hợp nghiên cứu lí luận với tổng
kết thực tiễn, lấy ý kiến chuyên gia, nghiên cứu tài liệu.
6. Những đóng góp của luận văn
- Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng, đánh giá
các biện pháp chính sách đã thực hiện ở Đà Nẵng, tìm ra những bài học thành
công và nguyên nhân không thành công trong thực hiện chính sách thu hút
vốn FDI ở Đà Nẵng.
- Một số giải pháp đặc thù đề xuất được luận chứng với khả năng đóng
góp làm tăng thu hút vốn FDI ở Đà Nẵng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn được trình bày trong 3 chương, 10 tiết.
Chương 1
SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN TĂNG CƯỜNG THU HÚT
VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở ĐÀ NẴNG
1.1. VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI
VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày nay đã trở thành hình thức đầu
tư phổ biến và đã được định nghĩa bởi các tổ chức kinh tế quốc tế cũng như
luật pháp của các quốc gia.
FDI là một loại hình đầu tư quốc tế, trong đó chủ đầu tư của
một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một
nền kinh tế khác để sở hữu hoặc điều hành, kiểm soát đối tượng họ

Thứ tư, là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan
hệ thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính
trị giữa các nước, các chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao.
Thứ năm, nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận
động của dòng vốn đầu tư.
Thứ sáu, FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước
và đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào
một nước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó.
Thứ bảy, FDI chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện.
Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động
FDI trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận FDI diễn ra đã
được 20 năm và những đặc điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét. Chính những
đặc điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi trường và chính sách thu hút FDI phải
chú ý để vừa thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư, vừa bảo đảm mối quan hệ cân
đối giữa kênh đầu tư FDI với các kênh đầu tư khác của nền kinh tế.
1.1.2. Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân biệt các hình thức FDI. Có thể hiểu
hình thức đầu tư FDI là cách nhà đầu tư ở một số nước chuyển đổi quyền sở
hữu vốn (tiền hoặc bất kỳ tài sản nào) thành quyền sở hữu và quản lý hoặc
kiểm soát một thực thể kinh tế ở một nước khác. Như vậy, hình thức FDI
được xem như là các cách thức thực hiện những kênh đưa vốn bên ngoài vào
nước tiếp nhận đầu tư, và nó phụ thuộc chủ yếu vào các chính sách, định
hướng thu hút FDI của nước chủ nhà.
Ngày nay, trên thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng, FDI
được thực hiện thông qua hai kênh chủ yếu: i) đầu tư mới và mở rộng (GI);
ii) mua lại và sáp nhập ( cross-border M & As).
GI là kênh đầu tư mà các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước tiếp nhận
vốn thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới hoặc mở rộng quy mô
doanh nghiệp đã đầu tư từ trước. Hình thức này bổ sung ngay một lượng vốn
đầu tư nhất định cho nước nhận đầu tư, do vậy có hiệu ứng rõ rệt tạo việc làm

a. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền
thống và phổ biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc
chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách
áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt
động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức này phổ biến ở quy mô
đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy
mô lớn. Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con
của công ty mẹ xuyên quốc gia.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu
tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước
nhận đầu tư). Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải
được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại. Doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách
nhiệm về kết quả kinh doanh. Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theo
Luật Doanh nghiệp 2005, có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn,
doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần… [26, tr.358].
Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chủ nhà
không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được
tiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động. Mặt khác, do độc
lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để
cạnh tranh, họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến
nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề
người lao động. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận
được kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư
nước ngoài và không có lợi nhuận.
b. Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài

thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dò dầu khí.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân
riêng và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại. Do đó,
về phía nhà đầu tư, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC. Tuy
nhiên, đây là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà
nên thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi các nước đang phát triển
bắt đầu có chính sách thu hút FDI. Khi các hình thức 100% vốn hoặc liên
doanh phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh.
d. Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT
BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ
quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh
doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn,
nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt
Nam [28, tr.11].
BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu
tư, khai thác, chuyển giao được đảo lộn trật tự.
Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải
là Nhà nước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường sá,
cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước...; bắt buộc đến
thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước.
Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết
cấu hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm
áp lực vốn cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển
giao có được những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn
lực khác để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ
rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh
nghiệm quản lý, công nghệ.
e. Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
Đây là hình thức thể hiện kênh đầu tư Cross - border M & As đã nêu ở
trên. Khi thị trường chứng khoán phát triển, các kênh đầu tư gián tiếp (FPI) được

nước ngoài, bao gồm vốn vay thương mại, đầu tư gián tiếp và FDI. Các quốc
gia, nhất là các nước đang phát triển, nhu cầu vốn đầu tư rất lớn và FDI là một
trong những nguồn vốn rất quan trọng. Vốn FDI có nhiều lợi thế vì không tạo
ra khoản nợ giữa nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, khi dự án tạo ra lợi
nhuận thì được chuyển về nước và một phần được dùng để tái đầu tư, có tính
ổn định cao hơn so với các khoản đầu tư khác.
Thứ hai, FDI góp phần vào sự phát triển công nghệ, kỹ thuật mới, góp
phần cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng. Đồng thời, FDI tạo nền tảng vững
chắc về khoa học và công nghệ để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ; giảm tỷ trọng nông nghiệp
trong cơ cấu GDP.
Các nước đang phát triển có đặc điểm là sử dụng công nghệ lạc hậu, do
đó năng suất lao động thấp, hiệu quả và sức cạnh tranh sản phẩm yếu. Xét về
nhu cầu, cần có quá trình chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang
các nước đang phát triển. Có hai hình thức chuyển giao công nghệ là trực tiếp
và gián tiếp, trong đó FDI là hình thức chuyển giao công nghệ trực tiếp và có
hiệu quả nhất. Bằng hình thức này, công nghệ được các công ty nước ngoài
chuyển giao trực tiếp cả phần cứng (máy móc, thiết bị) lẫn phần mềm là bí
quyết công nghệ. Đây là ưu điểm của chuyển giao công nghệ bằng con đường
FDI so với các hình thức chuyển giao công nghệ khác. Việc tiếp nhận công
nghệ từ chủ đầu tư sẽ giúp các doanh nghiệp FDI trong nước tiếp cận với
công nghệ từ công ty mẹ, đồng thời rút ngắn khoảng cách công nghệ giữa
nước đang phát triển với trình độ công nghệ tiên tiến của thế giới.
Thứ ba, FDI góp phần giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực. Các dự án FDI mới tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao
động, và thông qua việc thực hiện các dự án đó, làm thay đổi cơ cấu lao động,
nâng cao năng lực, kỹ năng lao động, năng lực quản lý doanh nghiệp, tác
phong công nghiệp, phù hợp với nền sản xuất hiện đại.
Như trên đã nói, FDI luôn gắn liền với chuyển giao công nghệ mới so
với công nghệ trong nước, cho nên lao động của nước tiếp nhận đầu tư được

1.1.3.2. Những tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, FDI còn có những tác động
tiêu cực đến nước tiếp nhận đầu tư. Sau đây là những tác động tiêu cực mang
tính phổ biến:
- Đối với các nền kinh tế có quy mô thị trường nhất định, các nhà đầu tư
nước ngoài, sau một thời gian hoạt động, có khả năng sẽ kiểm soát thị trường
địa phương, như vậy làm suy yếu các doanh nghiệp trong nước, làm cho nền
kinh tế của nước nhận đầu tư ngày càng phụ thuộc vào các nhà sản xuất nước
ngoài. Ngày nay, trong điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế, tác động này có
xu hướng ngày càng mạnh nhưng các nước tiếp nhận đầu tư cũng đã có đối
sách thích hợp nhằm hạn chế tác động này.
- Về chuyển giao công nghệ, FDI có khả năng chuyển giao các công
nghệ lạc hậu sang các nước đang phát triển, biến các nước tiếp nhận đầu tư
thành "bãi thải công nghệ". Mặt khác, có một số công ty xuyên quốc gia lại
chuyển giao những công nghệ quá hiện đại, không thích hợp với trình độ, tay
nghề nhân lực của nước nhận đầu tư.
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI có xu hướng chuyển ra nước
ngoài, do vậy FDI tuy tác động đẩy mạnh tăng trưởng ngắn hạn và trung hạn
nhưng có khả năng làm giảm tiềm lực tăng trưởng dài hạn.
- Tạo nên những vấn đề phức tạp mới trong quản lý như biến động thị
trường ngoại hối, trốn thuế thông qua chuyển giá, tăng mức độ gây ô nhiễm
môi trường...
- Làm tăng các vấn đề xã hội mới như phân hoá xã hội, giàu nghèo, nạn
"chảy máu chất xám" trong nội bộ nền kinh tế...
1.1.4. Xu hướng của FDI hiện nay trên thế giới
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thương mại thế giới, FDI của
thế giới trong những năm gần đây cũng có nhiều biến động. Nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra các xu hướng này [20]. Toàn cầu hóa kinh tế thế giới ngày càng thúc
đẩy sự phát triển các luồng vốn FDI nhằm tối đa hóa lợi nhuận của vốn đầu tư
thông qua di chuyển sản xuất, kinh doanh đến địa điểm có lợi nhất về chi phí

2005 với 165 tỷ USD. Mặc dù có giảm về mức độ tiếp nhận FDI nhưng Hoa
Kỳ vẫn là nước đứng thứ nhì. Đối với các nền kinh tế đang phát triển, so với
năm 2004, danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ tiếp nhận FDI lớn nhất
vẫn không thay đổi: Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông) đứng đầu, tiếp
theo là Singapore, Mexico và Brazil. Tính theo khu vực, EU với 25 thành viên
là địa điểm hấp dẫn đầu tư nhất, với dòng đầu tư vào năm 2005 đạt 422 tỷ
USD, gần bằng 50% tổng dòng vào FDI thế giới. Các nước khu vực Đông Á,
Nam Á và Đông Nam Á tiếp nhận 165 tỷ USD, vào khoảng 1/5 toàn thế giới,
trong đó Đông Á chiếm 3/4 của khu vực. Tiếp theo là Bắc Mỹ với 133 tỷ USD,
và Trung, Nam Mỹ với 65 tỷ USD. Khu vực Tây Á có mức tiếp nhận không cao
nhưng lại đạt tỷ lệ tăng trưởng FDI cao nhất với 85%, vào khoảng 34 tỷ USD.
Châu Phi đạt 31 tỷ USD, cũng là mức lớn nhất từ trước đến nay [58].
Xét về chủ đầu tư, năm 2005, dòng FDI đầu tư của thế giới khoảng 779
tỷ USD. Các nước phát triển vẫn đứng đầu về đầu tư ra nước ngoài. Năm
2005, nếu trừ Hoa Kỳ thì Hà Lan đứng đầu, với 119 tỷ USD, tiếp theo là Pháp
và Vương Quốc Anh. Tuy vậy, dòng đầu tư ra nước ngoài tăng đáng kể ở các
nền kinh tế đang phát triển. Dẫn đầu nhóm này là Hồng Kông (Trung Quốc)
với 33 tỷ USD. Thật sự, vai trò của các nền kinh tế đang phát triển và nền
kinh tế chuyển đổi đối với hoạt động FDI được tăng lên. Từ chỗ có dòng đầu
tư ra FDI không đáng kể và rất nhỏ bé ở những năm 80, đến nay dòng ra FDI
ở các nền kinh tế này đạt 133 tỷ USD (năm 2005), tương đương khoảng 17%
tổng dòng FDI đầu tư ra nước ngoài của thế giới [58].
Xu hướng năm 2005 cũng cho thấy, hình thức M & As được thúc đẩy
mạnh mẽ bởi sự giao dịch cũng như thực hiện của các quỹ đầu tư tập thể, đặc
biệt ở các nước phát triển, đã thúc đẩy sự gia tăng FDI trong thời gian gần
đây. Giá trị đầu tư thông qua hình thức M & As tăng 88% so với năm 2004,
đạt 716 tỷ USD. Về lĩnh vực đầu tư, hầu hết dòng vào của FDI chủ yếu là
ngành dịch vụ nhưng sự tăng đột biến của FDI là ở lĩnh vực khai thác các
nguồn lực tự nhiên. Các dịch vụ đạt thành quả đáng kể trong thu hút FDI là tài
chính, viễn thông và bất động sản.

ổn định.
FDI còn có vai trò làm cho nền kinh tế thành phố thâm nhập vào thị
trường quốc tế, các doanh nghiệp địa phương buộc phải thích ứng để tồn tại
và phát triển, đồng thời phải có các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
của mình trên tất cả các mặt liên quan đến sản xuất kinh doanh, như vậy làm
cho kinh tế thành phố nói chung năng động hơn, có sức cạnh tranh tốt hơn.
Các doanh nghiệp có vốn FDI góp phần nâng cao trình độ và tạo điều
kiện cho người lao động tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật cao. Đến nay, các
dự án FDI trên địa bàn thành phố giải quyết việc làm cho gần 25.000 lao động
trực tiếp và hàng chục ngàn lao động thời vụ khác.
Cơ cấu vốn FDI phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
thành phố từ nay đến năm 2010 là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp theo
đúng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Mặt khác,
FDI còn góp phần vào việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên của
thành phố một cách hiệu quả.
1.2. NHU CẦU THU HÚT VỐN VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở ĐÀ NẴNG
1.2.1. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng từ 2006 đến 2010
1.2.1.1. Điều kiện, vị trí của Đà Nẵng
Đà Nẵng là thành phố được phát triển mạnh từ thời Pháp thuộc, trở
thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương từ 1/1/1997. Đà Nẵng có diện
tích tự nhiên 1.256,4 km
2
, dân số năm 2005 là 779.017 người. Đà Nẵng hiện
nay có 6 quận và 2 huyện (huyện Hoà Vang và huyện đảo Hoàng Sa). Phía
Bắc giáp với tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Nam và phía Tây giáp với tỉnh
Quảng Nam, phía Đông giáp với biển Đông. Đà Nẵng là đầu mối quan trọng
của hệ thống giao thông vận tải quốc gia bao gồm đường bộ, đường không và
đường biển.
Đà Nẵng nằm ở vị trí trung tâm của cả nước, có mối giao lưu kinh tế,

Dung Quất, đóng vai trò động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung; là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc
phòng – an ninh của khu vực và cả nước. Trong cơ cấu kinh tế của
Đà Nẵng vào năm 2020, ngành dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng trên 60%
GDP. GDP bình quân đầu người đến năm 2020 phấn đấu đạt mức
5000USD/người. Đà Nẵng phấn đấu để trở thành thành phố công
nghiệp vào năm 2015 [40, tr.53-54].
a. Mục tiêu chung
Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà
Nẵng trong thời kỳ CNH, HĐH nêu rõ mục tiêu chung về phát triển thành phố:
Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô
thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung
với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ;
là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung
chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính - viễn
thông và tài chính - ngân hàng; một trong những trung tâm văn hoá -
thể thao, giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ của miền Trung;
là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh
của khu vực miền Trung và cả nước [16, tr.332].
b. Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu giai đoạn 2006 - 2010
Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX đề ra một số chỉ tiêu chủ yếu
sau [40]:
- Nhịp độ tăng GDP trung bình: 14% - 15%.
- GDP bình quân đầu người đến năm 2010 đạt: 2.000 USD.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp: 22% - 23%.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành dịch vụ: 14% - 15%.
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp: 5% - 6%.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân: 23% - 24% /năm.
- Thu ngân sách chiếm 22% - 23% GDP.
- Giảm tỷ lệ sinh bình quân hàng năm: 0,03%.

phát triển; nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tham mưu chính
sách, đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp và công nhân kỹ thuật; có chính
sách phát triển, sử dụng nhân tài. Coi trọng ứng dụng những thành tựu khoa
học công nghệ mới. Phát huy truyền thống văn hoá, dũng cảm, cần cù của
nhân dân Đà Nẵng và hoà nhập với các thành phố lớn trong nước và khu vực.
- Phát triển kinh tế - xã hội bền vững gắn kết với nhiệm vụ bảo vệ quốc
phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
1.2.2. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của Đà Nẵng và nhu cầu vốn
đầu tư trực tiếp nuớc ngoài
1.2.2.1. Tổng vốn đầu tư phát triển cần thiết cho giai đoạn 2006 - 2010
Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của UBND thành phố trình
bày tại Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX nêu rõ: Để phát triển kinh tế -
xã hội, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra, thành phố Đà
Nẵng cần phải có một nguồn vốn đầu tư rất lớn. Để đạt mức tăng trưởng GDP
bình quân 14% - 15%/năm cần huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng
63.200 tỷ đồng, bình quân tăng 15,8%/năm (hệ số suất đầu tư ICOR dự kiến
là 3,86 lần). Trong đó, nhu cầu vốn đầu tư thời kỳ 2006 - 2010 cho ngành
nông nghiệp là 1.303,8 tỷ đồng; ngành công nghiệp, xây dựng là 19.018,9 tỷ
đồng và ngành dịch vụ là 42.877,3 tỷ đồng [49].
So sánh với thời kỳ 2001 - 2005, dự kiến tổng vốn đầu tư phát triển thời
kỳ 2006 - 2010 gấp 2,6 lần; trong đó vốn đầu tư phát triển ngành dịch vụ là
lớn nhất (bảng 1.1).
Bảng 1.1. Cơ cấu vốn đầu tư phát triển của Đà Nẵng thời kỳ 2001 - 2005
và nhu cầu thời kỳ 2006 - 2010
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2001 - 2005 2006 - 2010
Tổng số 23.912,0 63.200,0
Nông nghiệp 493,3 1.303,8
Công nghiệp 7.195,9 19.018,9
Dịch vụ 16.222,8 42.877,3

hiệp định song phương và tham gia các điều ước quốc tế có liên quan đến
FDI, bao gồm các cam kết thực hiện điều ước quốc tế, các hiệp định song
phương, các cam kết về đầu tư đa phương. Nước ta đã tham gia một số hiệp
định đầu tư đa phương như: Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN,
chương trình hành động về xúc tiến đầu tư trong khuôn khổ diễn đàn hợp tác
Á-Âu - ASEAN và nhất là các qui định của WTO có liên quan đến đầu tư khi
nước ta đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức này. Đến nay, khi nước ta
trở thành viên chính thức của WTO, các cam kết gia nhập WTO, trong đó có các
cam kết về đầu tư, đang được thực hiện theo lộ trình đã cam kết.
Đảng ta luôn có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị thế của thành phần
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà
nước luôn nhất quán. Ngày 29 tháng 12 năm 1987, Quốc hội nước Cộng hoà
XHCN Việt Nam thông qua Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài. Vào thời
điểm đó, Luật này được dư luận quốc tế đánh giá là một luật đầu tư thông
thoáng nhất trong khu vực [20, tr.186].
Điều 1 của Luật này qui định:
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh
và khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ
thuật vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt
Nam, tuân thủ pháp luật của Việt Nam, bình đẳng và các bên cùng
có lợi. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền sở hữu đối với vốn đầu
tư và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tạo
những điều kiện thuận lợi và qui định các thủ tục dễ dàng cho tổ
chức, cá nhân đó đầu tư vào Việt Nam [27].
Hơn nữa, hoạt động FDI còn được đưa vào Hiến pháp của nước ta. Điều
25 của Hiến pháp hiện hành qui định:
Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu
tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam,
pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối
với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status