TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY - Pdf 24

MỤC LỤC
MỤC LỤC......................................................................................................................................1
LỜI NÓI ĐẦU.................................................................................................................................2
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI...............................................3
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG............................................................................................................3
II. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ (CỦA NƯỚC NHẬN
ĐẦU TƯ) .............................................................................................................................................7
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG
THỜI GIAN GẦN ĐÂY..................................................................................................................14
1. Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong việc thu hút vốn FDI.....................................14
1.2. Khó khăn trong việc thu hút vốn FDI ........................................................................................17
II. Thực trạng thu hút FDI ở Việt Nam trong thời gian qua..............................................................20
II. Đánh giá tác động của nguồn vốn FDI đến nền kinh tế Việt Nam...............................................32
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI............36
KẾT LUẬN....................................................................................................................................41
Tiểu luận Tài chính quốc tê: TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN FDI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
LỜI NÓI ĐẦU
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong thời gian qua đã thu được những kết quả
bước đầu quan trọng. Việt Nam không những đã vượt qua được sự khủng hoảng triền
miên trong thập kỷ 80 mà còn đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh
tế xã hội. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân năm 6,94% (sau 15 năm
đổi mới 1986-2000). Công nghiệp giữ nhịp độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng
năm 13,5%, lạm pháp đẩy lùi, đời sống đại bộ phận nhân dân được cải thiện về mặt
vật chất lẫn tinh thần.
Có được thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này, là nhờ phần đóng góp lớn của
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy nhiên vào những năm trở lại đây, do ảnh
hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ đã xẩy ra ở một số nước trong khu vực.
Cộng với mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở các nước
như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan ...Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có
phần giảm thiểu về số lượng lẫn chất lượng. Do đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc
phát triển kinh tế xã hội.

Hình thức đầu tư này đã xuất hiện từ sớm ở Việt Nam nhưng đáng tiếc cho
đến nay vẫn chưa hoàn thiện được các quy định pháp lý cho hình thức này. Điều đó
đã gây không ít khó khăn cho việc giải thích, hướng dẫn và vận dụng vào thực tế ở
Việt Nam. Ví dụ như có sự nhầm lẫn giữa hợp đồng hợp tác kinh doanh với các dạng
hợp đồng khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam.(như hợp đồng gia công sản phẩm, hợp đồng mau thiết bị trả chậm
vv...). Lợi dụng sơ hở này, mà một số nhà đầu tư nước ngoài đã trốn sự quản lý của
Nhà Nước. Tuy vậy hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư trực tiếp nước
ngoài dễ thực hiện và có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản phẩm .Các sản phẩm kỹ
thuật cao đòi hỏi có sự kết hợp thế mạnh của nhiều công ty của nhiều quốc gia khác
nhau. Đây cũng là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần xu
hướng của sự phân công lao động chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế.
2.2. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiền bên nước
ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng góp vón, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi
nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập
theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước
3
Tiểu luận Tài chính quốc tê: TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN FDI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
nhận đầu tư. Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều
nhất trong thời gian qua chiếm 65% trong tổng ba hình thức đầu tư (trong đó hình
thức hợp tác kinh doanh chiếm 17%, Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
chiếm 18%).
Thông qua hợp tác liên doanh với các đối tác Việt Nam, các nhà đầu tư
nước ngoài tranh thủ được sự hỗ trợ và những kinh nghiệm của các đối tác Việt Nam
trên thị trường mà họ chưa quen biết trong quá trình làm ăn của họ tại Việt Nam. Mặt
khác do môi trường đầu tư của Việt Nam còn nhiều bất chắc nên các nhà đầu tư nước
ngoài không muốn gánh chịu rủi ro mà muốn các đối tác Việt Nam cùng chia sẻ với
họ nếu có. Liên doanh với một đối tác ở bản địa, các nhà đầu nước goài yên tâm hơn
trong kinh doanh vì họ đã có một người bạn đồng hành.

3.1.1 Các chính sách
* Chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước tiếp nhận đầu tư.
Yếu tố đầu tiên ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư. Tỷ
giá đồng bản bị nâng cao hay bị hạ thấp đều bị ảnh hưởng xấu tới hoạt độnh xuất
nhập khẩu.
* Chính sách thương nghiệp: Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt đối với vấn đề
đầu tư trong lĩnh vực làm hàng xuất khẩu. Mức thuế quan cũng ảnh hưởng tới giá
hành xuất khẩu. Hạn mức (quota) xuất nhập khẩu thấp và các hàng rào thương mại
khác trong lĩnh vực xuất nhập khẩu cũng như có thể không kích thích hấp dẫn tới các
nhà đầu tư nước ngoài. Chính yếu tố này làm phức tạp thêm cho thủ tục xuất khẩu và
bị xếp vào hàng rào xuất khẩu khác.
* Chính sách thuế và ưu đãi: Chính sách ưu đãi thường được áp dụng để thu
hút các nhà đầu tư nước ngoài.
* Chính sách kinh tế vĩ mô: Chính sách này, mà ổn định thì sẽ góp phần tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các nhà đầu tư bản xứ lẫn nước ngoài. Nếu
không có những biện pháp tích cực chống lạm pháp thì có thể các nhà đầu tư thích bỏ
vốn vào nước này. Nếu giá cả tăng nhanh ngoài dự kiến thì khó có thể tiên định được
của kết quả hoạt độnh kinh doanh.
3.1.2 Luật đầu tư
Yếu tố này có thể làm hạn chế hay cản trở hoạt động của các công ty nước
ngoài trên thị trường bản địa. (Luật này thường bảo vệ lợi ích của các nhà bản xứ).
Nhiều nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo các điều kiện giống như cho
các nhà đầu tư bản xứ.
Ở Việt Nam, luật khuyến kích đầu tư nước ngoài triển khai còn chậm và
không đáp ứng được sự mong mỏi bởi mức độ ưu đãi và khuyến khích còn hạn chế,
chưa nhất quán.
5
Tiểu luận Tài chính quốc tê: TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN FDI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
3.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng khác
* Yếu tố hàng đầu là đặc điểm của thị trường bản địa (quy mô, dung lượng

Tiểu luận Tài chính quốc tê: TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN FDI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
II. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI NỀN
KINH TẾ (CỦA NƯỚC NHẬN ĐẦU TƯ)
1. Những ảnh hưởng tích cực của FDI
a. Là nguồn hỗ trợ cho phát triển
FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại
tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là đối với các nước kém phát triển.
Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái “vòng luẩn quẩn”
đó là: Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và rồi hậu quả
thu lại là thu nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khó khăn mà các
nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo ta kinh tế hiện đại. Nhiều nước lâm
vào tình trạng trì trệ của nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra điểm đột phá
chính xác. Một mắt xích của “vòng luẩn quẩn” này.
Trở ngại lớn nhất để thực hiện điều đó đối với các nước kém phát triển là vốn
đầu tư và kỹ thuật. Vốn đầu tư là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới
công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động vv...Từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập,
tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên để tạo ra vốn cho nền kinh tế chỉ trông chờ vào vốn nội bộ thì hậu
quả khó tránh khỏi là sẽ tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó vốn
nước ngoài sẽ là một “cú hích” để góp ghần đột phá vào cái “vòng luẩn quẩn” đó.
Đặc biệt là FDI nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ
cho các nước nhận đầu tư. Không như vốn vay nước đầu tư chỉ nhận một phần lợi
nhuận thích đáng khi công trình đầu tư hoạt động có hiệu quả. Hơn nữa lượng vốn
này còn có lợi thế hơn nguồn vốn vay ở chỗ. Thời hạn trả nợ vốn vay thường cố định
và đôi khi quá ngắn so với một số dự án đầu tư, còn thời hạn vốn FDI thì linh hoạt
hơn.
Theo mô hình lý thuyết “hai lỗ hổng” của Cherery và Stront có hai cản trở
chính cho sự ta của một quốc gia đó là: Tiết kiệm không đủ đáp ứng cho nhu cầu đầu
tư được gọi là “lỗ hổng tiết kiệm”.Và thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đáp
ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu được gọi là “lỗ hổng thương mại”.

được “đi xe miễn phí” mà họ phải trả một khoản “học phí” không nhỏ trong việc tiếp
nhận chuyển giao công nghệ này.
c. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đang phát triển muốn
thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh ta kinh tế. Đây cũng là điểm nút
để các nước đang phát triển khoát ra khỏi các vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo. Thực
tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, các quốc gia nào thực hiện chiến lược
kinh tế mở của với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy tác dụng của các nhân tố bên
ngoài biến nó thành những nhân tố bên trong thì quốc gia đó tạo được tốc độ tăng
cao.
8
Tiểu luận Tài chính quốc tê: TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN FDI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
Mức tăng trưởng ở các nước đang phát triển thường do nhân tố tăng đầu tư,
nhờ đó các nhân tố khác như tổng số lao động được sử dụng, năng suất lao động cũng
tăng lên theo. Vì vậy có thể thông qua tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với ta
kinh tế.
Rõ ràng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần tích cực thúc đẩy
ta kinh tế ở các nước đang phát triển. Nó là tiền đề, là chỗ dựa để khai thác những
tiềm năng to lớn trong nước nhằm phát triển nền kinh tế.
d. Thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế
Yêu cầu dịch chuyển nền kinh tế không chỉ đòi hỏi của bản thân sự phát triển
nội tại nền kinh tế, mà còn là đòi hỏi của xu hứng quốc tế hóa đời sống kinh tế đang
diễn ra mạnh mẽ hiện nay.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong bộ phận quan trọng của hoạt động
kinh tế đối ngoại. Thông qua các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình
phân công lao động quốc tế. Để hội nhập vào nền kinh tế giữa các nước trên thế giới,
đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự
phân công lao dộng quốc tế. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của nước phù hợp với
trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước
ngoài. Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình dịch

khóa quan trọng để giải quyết vấn đề trên đây. Vì đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra
được các điều kiện về vốn và kỹ thuật, cho phép khai thác và sử dụng các tiềm năng
về lao động. Ở một số nước đang phát triển số người làm việc trong các xí nghiệp chi
nhánh nước ngoài so với tổng người có việc làm đạt tỷ lệ tương đối cao như
Singapore 54,6%, Brazin 23%, Mehico 21%. Mức trung bình ở nhiều nước khác là
10%. Ở Việt Nam có khoảng trên100 nghìn người đang làm trong các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là con số khá khiêm tốn.
Tuy nhiên sự đóng góp của FDI đối với việc làm trong nước nhận đầu tư thụ
thuộc rất nhiều vào chính sach và khả năng lỹ thuật của nước đó.
2. Những ảnh hưởng tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài
a. Chuyển giao công nghệ
Khi nói về vấn đề chuyển giao kỹ thuật thông qua kênh đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở phần trên,chểng ta đã đề cập đến một nguy cơ là nước tiếp nhận đầu tư sẽ
nhận nhiều kỹ thuật không thích hợp. Các công ty nước ngoài thường chuyển giao
những công nghệ kỹ thuật lạc hậu và máy móc thiết bị cũ. Điều này cũng có thể giải
thich là: Một là, dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cho nên
máy móc công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu. Vì vậy họ thường chuyển giao
những máy móc đã lạc hậu cho các nước nhận đầu tư để đổi mới công nghệ, đổi mới
sản phẩm, nâng cao chát lượng của sản phẩm của chính nước họ.Hai là, vào giai đoạn
đầu của sự phát triển, hầu hết các nước đều sử dụng công nghệ, sự dụng lao
động.Tuy nhiên sau một thời gian phát triển giá của lao động sẽ tăng, kết quả là giá
thánhản phẩm cao. Vì vậy họ muốn thay đổi công nghệ bằng những công nghệ có
10
Tiểu luận Tài chính quốc tê: TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN FDI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
hàm lượng cao để hạ giá thành sản phẩm. Do vậy việc chuyển giao công nghệ lạc hậu
đã gây thiệt hại cho các nước nhận đầu tư như là:
* Rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao đó. Do đó
nước đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong các doanh nghiệp liên
doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận.
* Gây tổn hại môi trường sinh thái. Do các công ty nước ngoài bị cưỡng chế

được bằng cái của người khác.
Nhưng vấn đề này có xảy ra hay không còn phụ thuộc vào chính sách và khả
năng tiếp nhận kỹ thuật của từng nước. Nếu nước nào tranh thủ được vốn, kỹ thuật và
có ảnh hưởng tích cực ban đầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài mà nhanh chòng phát
triển công nghệ nội đại, tạo nguồn tích lũy trong nước, đa dạng hóa thị trrường tiêu
thụ và tiếp nhận kỹ thuật mới cũng như đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai trong
nước thì sẽ được rất nhiều sự phụ thuộc của các công ty đa quốc gia.
c. Chi phí cho thu hút FDI và sản xuất hàng hóa không thích hợp
Một là: Chi phí của việc thu hút FDI
Để thu hút FDI, các nước đầu tư phải áp dụng một số ưu đãi cho các nhà đầu
tư như là giảm thuế hoặc miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần lớn các dự
án đầu tư nước ngoài. Hoặc việc giảm tiền cho họ cho việc thuê đất, nhà xưởng và
một số các dịch vụ trong nước là rất thấp so với các nhà đầu tư trong nước. Hay trong
một số lĩnh vực họ được Nhà nước bảo hộ thuế quan.... Và như vậy đôi khi lợi ích
của nhà đầu tư có thể vượt lợi ích mà nước chủ nhà nhận được. Thế mà, các nhà đầu
tư còn tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào. Các nhà đầu tư
thường tính giá cao cho các nguyên vật liệu,bán thành phẩm, máy móc thiết bị mà họ
nhập vào để thực hiện đầu tư. Việc làm này mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư
chẳng hạn như trốn được thuế, hoặc giấu được một số lợi nhuận thực tế mà họ kiếm
được. Từ đó hạn chế cạnh tranh của các nhà đầu tư khác xâm nhập vào thị trường.
Ngược lại, điều này lại gây chi phí sản xuất cao ở nước chủ nhà và nước chủ nhà phải
mua hàng hóa do các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất với giá cao hơn.
Tuy nhiên việc tính giá cao chỉ sảy ra khi nước chủ nhà thiếu thông tin, trình
độ kiểm soát, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn yếu, hoặc các chính sách của
nước đó còn nhiều khe hở khiến cho các nhà đầu tư có thể lợi dụng được.
Hai là: Sản xuất hàng hóa không thích hợp
Các nhà đầu tư còn bị lên án là sản xuất và bán hàng hóa không thích hợp cho
các nước kém phát triển, thậm chí đôi khi còn lại là những hàng hóa có hại cho khỏe
con người và gây ô nhiễm môi trường. Ví dụ như khuyến khích dùng thuốclá, thuốc
trừ sâu, nước ngọt có ga thay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy thay thế xà phòng vv...

Việt Nam đã ký các hiệp định song phương và đa phương về đầu tư nước
ngoài như: Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS),
hiệp định đầu tư Việt Nam - Nhật Bản, hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN,
hiệp định giữa Việt Nam và Bulgaria về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hiệp định
khung về quan hệ Việt Nam - Uỷ ban Châu Âu (EC), hiệp định về chương trình ưu
đãi thuế quan (CEPT), Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GAT), hiệp định
thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ….. Trong những cam kết đó đặc biệt phải kể đến là
hiệp định thương mại tự do của WTO.
Các hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư được dựa trên các nguyên
tắc:
* Tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích đầu tư của bên ký kết bằng việc chấp
nhận đầu tư đó trên nguyên tắc công bằng, thoả đáng, không gây phương hại bằng
biện pháp bất hợp lý và phân biệt đối xử.
* Không trưng thu, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư bằng các biện pháp hành
chính, trừ trường hợp vì mục đích công cộng thì tuân thủ phương châm không phân
biệt đối xẻ và bồi thường nhanh chóng, đầy đủ theo đúng giá thị trường, phù hợp với
thủ tục luật định.
* Đảm bảo quyền chuyển vốn, lợi nhuận và các khoản thu nhập hợp pháp khác
của nhà đầu tư về nước theo nguyên tắc “không chậm trễ và bằng đồng tiền tự do
chuyển đổi”
* Công nhận quyền của nhà đầu tư trong việc đưa vụ tranh chấp với cơ quan
nhà nước ra toà hành chính, trọng tài hoặc bất kỳ cơ chế giải quyết tranh chấp nào do
nhà đầu tư lựa chọn.
b. Môi trường xã hội và chính trị ổn định
Sự ổn định về chính trị và xã hội là yêu cầu đầu tiên quan trọng nhất, quyết
định đối với việc thu hút vốn FDI. Một quốc gia có môi trường chính trị ổn định thì
các nhà đầu tư mới yêu tâm đầu tư. Nếu môi trường không ổn định, thường xuyên có
14
Tiểu luận Tài chính quốc tê: TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN FDI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
bạo loạn thì khó có thể bảo toàn vốn cũng như không thể tiến hành sản xuất kinh

khoảng 4,300 tỷ tấn dầu quy đổi, trong đó trữ lượng phát hiện là 1,208 tỷ tấn và trữ
lượng dầu khí có khả năng thương mại là 814,7 triệu tấn dầu quy đổi. khu vực biển
15
Tiểu luận Tài chính quốc tê: TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN FDI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
đông được dự đoán có trữ lượng tới 210 tỷ thùng dầu. Hiện tại, Tập đoàn Dầu khí
quốc gia Việt Nam đã đạt mốc khai thác trên300 triệu tấn dầu quy đổi mỗi năm. Với
sản lượng khai thác dầu khí hằng năm, hiện nay Việt Nam đứng hàng thứ ba ở Đông
- Nam Á, sau In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a. Than biến chất cao đạt hơn 18 tỷ tấn,
riêng bể than Quảng Ninh là lớn nhất, với trữ lượng đạt hơn 3 tỷ tấn. Bể than Quảng
Ninh đã được khai thác từ hơn 100 năm nay, phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước
và xuất khẩu.
Các nhà khoa học địa chất đã phát hiện nhiều tụ khoáng u-ra-ni ở Đông Bắc
Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Tổng tài nguyên u-ra-ni ở Việt Nam được dự
báo hơn 218 nghìn tấn U308, có thể là nguồn nguyên liệu khoáng cho các nhà máy
điện hạt nhân trong tương lai.
Nhóm khoáng sản kim loại nước ta có nhiều loại như sắt, man-gan, crôm, ti-
tan, đồng, chì, kẽm, cô-ban, ni-ken, nhôm, thiếc, vàng, bạc, v.v. Trong số khoáng
sản kim loại kể trên có các loại tài nguyên trữ lượng lớn tầm cỡ thế giới như bô-xít
(quặng nhôm) trữ lượng hơn 6 tỷ tấn xếp thứ 3 thế giới, ti-tan hơn 500 triệu tấn, vôn-
phram trữ lượng đạt 110,2 triệu tấn quặng chứa 227.500 tấn WO3 , 8,5 triệu tấn
CàF2, 191.800 tấn Cu, 20,8 tấn Au và 107.000 tấn Bi, crôm, đất hiếm hơn 10 triệu
tấn
Ngoài ra, Việt Nam còn có 2.5 tỷ tấn apatit, 25 triệu tấn baryt khoáng chất
phục vụ công nghiệp, nhiều nguồn nước nóng, ở phần đất liền có 264 nguồn có nhiệt
độ 300C trở lên.
Ðất tự nhiên ở Việt Nam có diện tích 33 triệu hecta trong đó đất có khả năng
nông nghiệp là 10.5 triệu hecta (chiếm 21 % diện tích đất tự nhiên). Do vị trí và địa
hình đặc biệt của nước ta làm cho thổ nhưỡng Việt Nam mà có tính chất chung của
vùng nhiệt đới ẩm nhưng rất đa dạng và phân hóa rõ từ đồng bằng lên núi cao, từ
Bắc vào Nam và từ Ðông sang Tây phù hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status