LUẬN VĂN:
Vấn đề nâng cao năng lực tư duy lý luận
của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở
Bắc Trung bộ
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư duy lý luận là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu của người cán
bộ lãnh đạo, quản lý. Vấn đề này được xem như chìa khóa giúp cho người cán bộ nhận
thức thực tiễn một cách sâu sắc và chỉ đạo thực tiễn đạt được hiệu quả cao. Mọi đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có biến thành hiện thực hay không phụ
thuộc rất lớn vào năng lực và trình độ tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ, họ là người tiếp
thu, bổ sung và phát triển cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương nơi mình
đang công tác.
Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh là vấn đề
đạo chủ chốt cấp tỉnh ở Bắc Trung bộ một mặt phải kịp thời khắc phục những hạn chế,
khiếm khuyết về mặt năng lực tư duy lý luận để đáp ứng cho công tác lãnh đạo, quản lý, mặt
khác phải nắm bắt những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối của Đảng để vận dụng hoạch định phương hướng, giải pháp phù hợp với điều kiện
thực tế địa phương.
Chính vì vậy, mặc dù vấn đề này đã được khá nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của
nhiều nhà khoa học, nhưng với mong muốn đóng góp vào lĩnh vực này, tôi chọn đề tài:
“Vấn đề nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở Bắc
Trung bộ” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Năng lực tư duy lý luận của người cán bộ là vấn đề đã thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của các nhà khoa học. Cho đến nay đã có nhiều công trình được công bố với
những mức độ thể hiện khác nhau trong đó có những công trình có liên quan trực tiếp đến
đề tài như: “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luận Mác - Lênin
ở các trường Chính trị tỉnh”, luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Đình Trãi; “Nâng cao
năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện
nay”, luận án tiến sĩ triết học của Dương Minh Đức; “Nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã miền núi hiện nay (qua thực tế tỉnh Tuyên Quang)”
luận văn thạc sĩ triết học của Đỗ Cao Quang; “Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện nay qua thực tế tỉnh Kiên Giang”
luận văn thạc sĩ triết học của Vũ Đình Chuyên; “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình
đổi mới tư duy” của Nguyễn Ngọc Long trong Tạp chí Cộng sản số 10, năm 1987 …
Những công trình trên đã nghiên cứu sâu sắc về năng lực tư duy lý luận cho
người cán bộ làm công tác giảng dạy hoặc người cán bộ lãnh đạo chủ chốt nhưng chưa đề
cập đến đối tượng là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở Bắc Trung bộ cũng như đối với
tỉnh Quảng Trị. Như vậy, năng lực tư duy lý luận của người cán bộ chủ chốt cấp tỉnh
vùng Bắc Trung bộ vẫn còn là mảng đề tài cần tiếp tục làm sáng tỏ.
Cùng với đó là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về năng lực tư duy, trình
độ tư duy, tư duy lý luận và trình độ tư duy lý luận như: “Tư duy lý luận với hoạt động
3.2. Nhiệm vụ
- Chỉ ra được vai trò của năng lực tư duy lý luận đối với hoạt động lãnh đạo,
quản lý của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh.
- Đánh giá thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ
chốt cấp tỉnh và phân tích những nhân tố tác động đến năng lực tư duy lý luận tạo nên
thực trạng đó.
- Đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội
ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng Bắc Trung bộ trong giai đoạn mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn không nghiên cứu tất cả những đối tượng cán bộ lãnh đạo, cũng không
nghiên cứu tất cả các phẩm chất của người cán bộ lãnh đạo theo yêu cầu của sự nghiệp đổi
mới, mà chỉ nghiên cứu về năng lực tư duy lý luận và vai trò của nó với hoạt động của người
cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh ở Bắc Trung bộ nói chung, và tỉnh Quảng Trị nói riêng.
Cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh được đề cập trong luận văn là toàn bộ Ban chấp hành tỉnh
Đảng bộ.
Luận văn nghiên cứu năng lực tư duy lý luận với tư cách là một phẩm chất của tư
duy dưới góc độ nhận thức luận theo lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng chứ
không nghiên cứu về người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh như là đối tượng của các
khoa học khác (Như Lịch sử Đảng, Chính trị học, Xây dựng Đảng), cũng không nghiên
cứu về năng lực tư duy với tư cách là đối tượng của tâm lý học.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhất là những nguyên lý lý luận nhận thức mác
xít. Đồng thời, luận văn cũng dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng và
Nhà nước về lĩnh vực tư duy lý luận, các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị và một số
tỉnh khác.
- Luận văn kế thừa các tư tưởng khoa học của tác giả khác có liên quan đến đề
tài.
Đó là quá trình ý thức con người tiếp cận và nắm bắt hiện thực; là hình thức cao của sự
phản ánh tích cực, chủ động, có mục đích về hiện thực khách quan và được hiện ra là sự
nhận thức có tính trung gian gián tiếp khái quát về các mối liên hệ của sự vật và hiện
tượng. Tư duy với tư cách là thuộc tính không thể thiếu trong hoạt động chủ quan của con
người được thể hiện rõ nhất, tập trung nhất trong hoạt động sáng tạo và trong việc tiên
đoán về các sự kiện, hiện tượng của thế giới. Nó cũng được xuất hiện, hiện thực hóa
trong quá trình đặt ra và giải quyết những vấn đề của lý luận, của thực tiễn con người.
Tư duy là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người. Hoạt
động của bộ óc người phản ánh hiện thực khách quan bằng các hình thức: khái niệm,
phán đoán, suy lý thông qua các phương pháp: so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng
hóa, khái quát hóa Như vậy, xét về thực chất, tư duy là sự hoạt động đặc biệt của quá
trình con người phản ánh thế giới, là quá trình phản ánh dựa trên sự hoạt động của bộ não
nhằm nhận thức bản chất, quy luật vận động của thực tại khách quan và định hướng quan
hệ đối với thực tại khách quan đó. Những quy luật của tư duy chính là sự phản ánh các
quy luật của thực tại khách quan. Từ những hình ảnh nguyên vẹn của sự vật, hiện tượng
trong thế giới do cảm giác mang lại được tư duy chắt lọc loại bỏ những mặt, những yếu
tố bên ngoài, ngẫu nhiên trên cơ sở sáng tạo mà tìm ra những mặt cơ bản, tất yếu, những
quan hệ bản chất, bên trong, mang tính quy luật. Từ đấy, hình thành nên những khái
niệm, phạm trù tương ứng với các mặt, các quan hệ tất yếu của chúng; dựa vào đó mà xây
dựng nên hình ảnh mới, những quy luật khái quát xu hướng vận động và phát triển của
các sự vật. Với ý nghĩa như vậy, tư duy chỉ có ở con người, là trình độ cao nhất của nhận
thức trong quá trình phản ánh thế giới khách quan. Nhưng đó không phải là sự phản ánh
thụ động, phụ thuộc mà con người tác động và phản ánh thế giới một cách chủ động, sáng
tạo.
Tư duy là hình thức phản ánh tích cực thực tại khách quan của con người [62,
tr.634]. Đó là hoạt động phản ánh ở giai đoạn cao nhất của nhận thức. Nếu con người chỉ
dừng lại bằng các hình thức như cảm giác, tri giác… thì nhận thức của con người rất hạn
chế, bởi vì con người không thể bằng các hình thức đó mà hiểu được những vấn đề sâu xa
hơn trong tự nhiên cũng như những hiện tượng xã hội phức tạp khác. Với tư cách là kết
đầu từ tư duy mà là từ hoạt động thực tiễn của con người. Trong đó, hoạt động lao động
sản xuất tạo ra của cải vật chất là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội là hoạt
động cơ bản nhất. Hoạt động này càng phát triển thì tư duy, trí tuệ của con người cũng
càng phát triển theo. Ăngghen đã nhận định rằng: "Trí tuệ con người đã phát triển song
song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên" [32, tr.720].
Như vậy, thông qua hoạt động thực tiễn của mình, con người đã chủ động nhận
thức và cải tạo thế giới. Tư duy của con người là do hiện thực khách quan quy định; nhưng
chính hoạt động thực tiễn của con người lại là cơ sở, động lực cơ bản cho sự xuất hiện và
phát triển của tư duy. Thực tiễn cũng là tiêu chuẩn để kiểm tra, điều chỉnh quá trình tư duy,
xác nhận cho tính đúng đắn của tư duy, loại bỏ những sai lầm, tạo sự phát triển liên tục của
tư duy con người.
Tư duy của con người luôn mang tính sáng tạo, hoạt động của tư duy luôn vươn
tới những giá trị mới thông qua hoạt động nhận thức và thực tiễn. Hoạt động thực tiễn là
cơ sở, động lực của tư duy. Do vậy, khi hoạt động thực tiễn còn ở một trình độ thấp thì
ứng với nó là cấp độ tư duy ở trình độ thấp. Khi hoạt động thực tiễn đạt đến trình độ cao
hơn thì phương pháp tư duy, trình độ tư duy cũng được nâng lên.
ở trình độ tư duy, sự vật được phản ánh khái quát trong các hình thức khái niệm,
phán đoán, suy luận. Tư duy luôn gắn liền với ngôn ngữ, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của
tư duy, tư duy phải được diễn đạt thành ngôn ngữ bởi vì đó là hiện thực trực tiếp của tư
tưởng, là phương tiện để diễn đạt kết quả của sự nhận thức, để lưu giữ và tiếp tục phát triển
kết quả của nhận thức đó. Nhờ thế mà con người có thể sáng tạo ra những khái niệm và
những phạm trù khoa học, nêu lên những quy luật của các khoa học và vì vậy mà hiểu sâu
sắc hơn bản chất của các sự vật. Nếu không có ngôn ngữ sẽ không có phương tiện để tư duy
và tư tưởng của loài người không thể lưu giữ, kế thừa và phát triển được.
Thế giới vô cùng, vô tận (cả về bề rộng lẫn chiều sâu), thực tiễn thì luôn luôn mới,
điều đó đòi hỏi tư duy phải luôn năng động, sáng tạo phát hiện ra những cái mới, những tình
huống có vấn đề trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn, đưa ra những giải đáp đáp
ứng cho nhu cầu cuộc sống. Vì vậy, tư duy là một quá trình vô tận, vận động và phát triển
không ngừng. Tư duy của con người không thể bất biến mà nó cũng có quá trình biến đổi và
chưa vươn cao hơn cái cụ thể cảm tính và chưa phải là cái cụ thể trong tư duy theo
đúng nghĩa khoa học và đầy đủ của nó.
Tư duy kinh nghiệm là lối tư duy, suy nghĩ chủ yếu dựa trên kinh nghiệm về cả
nội dung lẫn phương pháp. Những chất liệu được sử dụng trong tư duy, lập luận chỉ là
những tri thức kinh nghiệm rất hạn chế: hời hợt, giản đơn, vụn vặt, đơn nhất, nhưng lại
được coi như là cái chung, cái phổ biến, cái bản chất, cái quy luật. Còn về phương pháp
và các thao tác của tư duy thì dựa trên những nếp nghĩ quen thuộc, những lối mòn được
hình thành một cách tự phát, vừa cứng nhắc, vừa không khoa học, vừa không lôgic. Tư
duy dừng lại ở trình độ đó không những không thể nói đến sự sáng tạo, thậm chí còn sai
lầm.
Tư duy lý luận (được hiểu theo là cái “phủ định biện chứng” của tư duy kinh
nghiệm) là tư duy dựa trên tri thức lý luận và phương pháp nhận thức khoa học [51,
tr.21]
Tri thức lý luận là tri thức được hình thành trên cơ sở khái quát tri thức kinh
nghiệm nhờ sức mạnh của trừu tượng hóa và khái quát hóa của tư duy. Tri thức lý luận là
những tri thức mang tính gián tiếp và khái quát cao do nó đã qua rất nhiều bước trung
gian hóa, trừu tượng hóa. Tri thức lý luận phản ánh hiện thực trong bản chất, trong những
mối liên hệ mang tính quy luật của nó. Tri thức lý luận là tri thức được hệ thống hóa nên
nó đem lại cái nhìn mang tính chỉnh thể bao quát, đầy đủ, toàn vẹn về đối tượng phản
ánh, nó đã tái tạo lại đối tượng như ban đầu song là ở cấp độ bản chất bên trong của chính
sự vật, hiện tượng.
Dựa trên một loại tri thức có rất nhiều vượt trội đó, tư duy lý luận giúp cho nhận
thức của con người thành nhận thức lý luận đích thực khi nhận thức ấy đem quy sự vận
động bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự. Và do
đó, tư duy lý luận không những chỉ ra những phương hướng mới cho hoạt động thực tiễn
của con người mà còn làm cho hoạt động đó mang tính chủ động, tự giác và sáng tạo
hơn.
Tư duy lý luận không chỉ là tư duy bằng tri thức lý luận, mà còn là tư duy bằng
phương pháp khoa học. Lý luận chứa đựng trong nó khả năng trở thành phương pháp,
của triết học biểu hiện ở ba cấp độ: phê phán, tự phê phán và phản phê phán. Tính phê
phán này làm cho tư duy lý luận mácxít thể hiện rõ nhất bản chất cách mạng của mình.
Chính những đặc trưng trên làm cho tư duy triết học mácxít, thứ nhất, là hình
thức tư duy cao nhất trong lịch sử tư duy nhân loại; thứ hai, nó có thể đóng vai trò là thế
giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận chung nhất của mọi loại hình tư duy; thứ
ba, những đặc trưng này làm cho tư duy triết học mácxít có được không chỉ và không
phải chủ yếu là ở sự thuyết minh, chứng minh mà căn bản là ở sự phát hiện, phát minh.
1.1.2. Năng lực tư duy lý luận
Năng lực tư duy lý luận là một trong những phạm trù quan trọng của nhận thức
luận được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Đã có nhiều công trình, những bài viết đề
cập đến bản chất, cấu trúc và vai trò của năng lực tư duy lý luận, từ đó làm sâu sắc thêm
lý luận nhận thức và làm cơ sở lý luận cho việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội
ngũ cán bộ lãnh đạo hiện nay. Khái niệm năng lực tư duy lý luận được tiếp cận và được
hiểu là năng lực tư duy của con người ở cấp độ lý luận. Điều này giúp phân biệt khái
niệm năng lực tư duy lý luận với khái niệm năng lực tư duy kinh nghiệm trên tiêu chí tiếp
cận với năng lực tư duy ở cấp độ phát triển; và phân biệt với những khái niệm đồng cấp
khác như: năng lực tư duy thực hành, năng lực tư duy hình tượng.
Năng lực được hiểu theo hai nghĩa, thứ nhất, “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc
tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”; thứ hai, “phẩm chất tâm lý và sinh
lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
[64, tr.656]. Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất, phát
hiện ra những quy luật của sự vật, hiện tượng. Cho nên, năng lực tư duy chính là khả
năng, tập hợp những phẩm chất sinh lý và tâm lý của chủ thể đáp ứng cho nhu cầu nhận
thức thế giới của con người. Hoạt động tư duy không chỉ dừng lại ở mức độ chép lại,
chụp lại mà tư duy còn mang tính sáng tạo, đây không những là cơ sở giúp con người có
thể hoạt động thực tiễn một cách có hiệu quả, mà giúp cho con người tạo ra những cái
không có sẵn, hình thành tự nhiên thứ hai của mình. Năng lực tư duy "được biểu hiện ở
khuynh hướng nhận thức và hành động, ở kết quả xử lý thông tin và nhất là kết quả hoạt
động. Phương pháp tiếp cận vấn đề khác nhau chính là biểu hiện trình độ khác nhau của
Quá trình tư duy được thể hiện ở các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy lý.
Những hình thức này quan hệ mật thiết với nhau và giữ vai trò quan trọng trong tư duy
khoa học. Chính vì thế, năng lực tư duy còn thể hiện ở năng lực lựa chọn các vấn đề có
liên quan để liên kết các hình thức tư duy mà tìm ra các kết luận nhất định. Chẳng hạn,
năng lực lựa chọn các khái niệm để hình thành một phán đoán đúng và liên kết các phán
đoán để có suy lý đúng nhằm phát hiện khái niệm mới. Như vậy, năng lực tư duy bao
gồm cả năng lực lựa chọn, sắp xếp, kết hợp các phương pháp, hình thức tư duy và khả
năng sử dụng thành thạo, nhuần nhuyễn mỗi phương pháp, mỗi hình thức tư duy theo
những cách thức, tác dụng riêng của nó cho phù hợp với tính quy định khách quan của
các đối tượng nhận thức.
Năng lực tư duy là khả năng sử dụng một cách thành thạo, nhuần nhuyễn cả nội
dung và phương pháp của tư duy để phát hiện vấn đề và xây dựng được những phương án
tối ưu để giải quyết vấn đề đó.
Năng lực tư duy thường được tiếp cận ở các kiểu: Năng lực tư duy thực hành,
năng lực tư duy hình tượng và năng lực tư duy lý luận Xét theo cấp độ phát triển của
năng lực tư duy có thể phân ra thành năng lực tư duy kinh nghiệm và năng lực tư duy lý
luận. Năng lực tư duy lý luận khác với năng lực tư duy kinh nghiệm. Năng lực tư duy lý
luận là khả năng tư duy về những vấn đề chung, tổng thể, toàn vẹn, nắm bắt đối tượng
trong tính chỉnh thể của sự tồn tại, vận động và phát triển. Đó là khả năng tư duy khoa
học, sáng tạo trong sử dụng các khái niệm phạm trù để phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu
tượng hóa, khái quát hóa đem lại những tri thức mang tính chính xác, sâu sắc, chặt chẽ,
lôgíc và hệ thống, phù hợp với tính quy luật khách quan của hiện thực. Hơn nữa, năng lực
tư duy lý luận còn có sức mạnh đưa lý luận vào cuộc sống, cụ thể hóa lý luận thành mục
tiêu, phương hướng, giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề của cuộc sống có hiệu quả cao.
Như vậy, năng lực tư duy lý luận còn được thể hiện ở khả năng xác lập tri thức, khả năng
xác lập quan hệ giữa các tri thức và khả năng đối tượng hóa tri thức.
Năng lực tư duy lý luận và trình độ tư duy lý luận là những phạm trù dùng để chỉ
những mặt của quá trình hoạt động thống nhất của tư duy. Trình độ tư duy là trình độ
trừu tượng hóa, khái quát hóa trong phân tích và tổng hợp, là trình độ tưởng tượng, phán
lãnh đạo phải đạt được một trình độ nhất định về năng lực tư duy lý luận. Bởi lẽ, cùng với
các yếu tố khác, trình độ đó có tác dụng rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng,
hiệu lực, hiệu quả của công tác lãnh đạo.
Hoạt động lãnh đạo có bản chất là sự tác động, định hướng, điều chỉnh hành vi
đối với đối tượng lãnh đạo – cũng là con người với nhu cầu, lợi ích, tính cảm … – nhằm
đạt tới một mục tiêu nhất định. Chính vì vậy, chủ thể lãnh đạo, một mặt phải am hiểu
công việc, mặt khác phải am hiểu con người – đối tượng lãnh đạo. Chỉ trên cơ sở đó, hoạt
động lãnh đạo mới có hiệu quả.
Hoạt động lãnh đạo có nhiều khâu, nhiều bước như: thu thập và xử lý thông tin;
ra quyết định; sử dụng cơ quan tham mưu, chuyên gia (phòng, ban chuyên môn) tổ chức
thực hiện các quyết định; tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện các quyết định để
chuẩn bị cho việc ra quyết định tiếp theo. Do đó, mặt hiện hữu của năng lực lãnh đạo là
tổ chức hoạt động thực tiễn, còn cái ẩn giấu vào bên trong chính là mặt năng lực tư duy lý
luận. Vì vậy, nhà lãnh đạo khác với nhà khoa học. Nhà khoa học hoạt động chính là
nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện, nêu ra lý thuyết, lý luận, vạch ra phương án thực
hành, ứng dụng. Người lãnh đạo cũng là người lao động trí óc dù ở họ không phải là lao
động tìm tòi, tạo ra lý luận khoa học mà chủ yếu là lao động cụ thể hóa, hiện thực hóa lý
luận. Nhưng để có thể hiện thực hóa lý luận đòi hỏi họ phải suy nghĩ, nghiên cứu phát
hiện các tình huống thực tiễn cụ thể, trên cơ sở đó mà đề ra các biện pháp giải quyết tình
huống, ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định thông qua hoạt động tập thể hoặc cá
nhân.
Hoạt động lãnh đạo khác hoạt động quản lý. Quản lý được hiểu là: “tổ chức và
điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [64, tr.789]. Như vậy, quản lý
cũng là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích xác định.
Quản lý về cơ bản có những chức năng như: lập kế hoạch, tổ chức bộ máy, chỉ đạo, thực
hiện sự phối hợp và kiểm soát nguồn lực. Trong nhiều trường hợp cụ thể, chức năng,
nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý thống nhất với nhau, trùng lặp nhau. Sự
phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý chỉ có tính tương đối. Tất nhiên, về bản chất, hoạt
động lãnh đạo và quản lý có những điểm khác nhau. Sự khác nhau đó được thể hiện rõ
cấp gắn trực tiếp với Trung ương, là mắt khâu đầu tiên để chủ trương, đường lối, chính sách
của Trung ương đến với địa phương. Tỉnh là gạch nối giữa Trung ương và địa phương. Đội
ngũ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh phải ra được các quyết định phản ánh đúng chủ trương,
đường lối, chính sách của Trung ương, đồng thời phải phù hợp với thực tiễn địa bàn tỉnh
mà họ phụ trách.
ở Việt Nam, hoạt động của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh như thế nào sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến bộ mặt quốc gia như thế ấy. Vì vậy, chất lượng lãnh đạo của cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh có ý nghĩa vô cùng to lớn đến việc tổ chức thực hiện, triển
khai các nghị quyết của Trung ương xuống cơ sở. Chủ trương, đường lối, chính sách của
Trung ương có được triển khai, tổ chức thực hiện được ở cấp dưới hay không phụ thuộc
rất nhiều vào hoạt động lãnh đạo của đội ngũ cán bộ này. Hơn nữa, tỉnh là địa bàn tổng kết
thực tiễn tương đối có quy mô, đủ để phát hiện những vấn đề nảy sinh, giúp Trung ương
nghiên cứu; bổ sung, hoàn thiện, phát triển đường lối, chủ trương và khái quát thành lý
luận cho phù hợp với thực tiễn mới. Cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện cũng phải bao
quát tất cả các mặt kinh tế – xã hội, chính trị, an ninh, quốc phòng… Tuy nhiên, phạm vi
và mức độ bao quát của họ trên địa bàn hẹp hơn, quy mô nhỏ hơn rất nhiều so với cấp
tỉnh.
Xung quanh khái niệm “cán bộ chủ chốt” có nhiều quan điểm khác nhau và chưa
đi đến thống nhất. Nhưng đa số ý kiến đồng tình rằng, cán bộ chủ chốt là những người có
chức năng lãnh đạo, được giao nhiệm vụ đảm nhận những công việc quan trọng trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý để điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao. “Cán
bộ lãnh đạo chủ chốt là những người đứng đầu quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất
trong một tập thể, có quyền đưa ra những quyết định về chủ trương, có trách nhiệm và
quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ của
tập thể hoặc tổ chức ấy, thậm chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ hoạt động của một tổ
chức nhất định” [60, tr.35-36]. Như vậy, người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh bao
gồm toàn bộ ban chấp hành đảng bộ tỉnh, họ giữ những cương vị chủ chốt ở cấp tỉnh và có
thể cả cấp huyện.
Hoạt động lãnh đạo của người cán bộ chủ chốt cấp tỉnh về thực chất là phải ra
1.2.2. Vai trò của năng lực tư duy lý luận đối với hoạt động của người cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh
Năng lực tư duy lý luận được xem là một nhân tố không thể thiếu, có tầm quan
trọng đặc biệt, vừa cấu thành năng lực cán bộ vừa thúc đẩy sự hình thành và phát triển
năng lực đó ở người cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Tư duy lý luận nói ở đây là tư duy biện
chứng (biết suy nghĩ, xem xét các vấn đề, sự kiện, quan hệ, tình huống một cách biện
chứng chứ không siêu hình). Tư duy biện chứng ấy (xét về mặt phương pháp tư duy)
đồng thời phải đạt tới trình độ tư duy khoa học (xét về mặt tính chất, chất lượng của tư
duy). Đó chính là năng lực suy nghĩ thấu đáo đến bản chất của sự vật, hiện tượng; biết
phân tích, tổng hợp và khái quát từ những hiện tượng sinh động, đa dạng của đời sống
thực tiễn, từ kinh nghiệm muôn vẻ của hoạt động hàng ngày tích lũy và khái quát thành
lý luận.
Người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh phải nắm bắt sâu sắc bản chất của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng. Chủ nghĩa Mác
– Lê nin đã trang bị một phương pháp nhận thức biện chứng, một thế giới quan khoa học,
một lập trường giai cấp vững vàng. Tư tưởng hồ Chí Minh chính là sự vận dụng linh
hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Hệ thống lý
luận này trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Để phát triển đất nước, tổ chức lãnh đạo cách mạng – Đảng Cộng sản Việt
Nam đã đề ra những chủ trương, đường lối trong từng giai đoạn cụ thể. Trên cơ sở đó,
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cụ thể hóa thành pháp luật, chính sách
định hướng cho toàn thể nhân dân thực hiện.
Trên cơ sở hệ thống lý luận ấy mà cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh cụ thể hóa
vào các chính sách vào địa phương. Công việc đó không đơn thuần là chỉ vận dụng một
cách rập khuôn, máy móc, mà trong lãnh đạo, người cán bộ còn phải cập nhật kịp thời
những thông tin từ đời sống thực tiễn, xử lý các thông tin ấy một cách nhanh chóng,
chính xác. Nhờ đó mà vận dụng cái chung một cách đúng đắn chính xác cho những lĩnh
vực cụ thể ở địa bàn tỉnh. Đó chính là năng lực vận dụng sáng tạo cái chung vào cái
riêng. Cũng trong quá trình lãnh đạo, yêu cầu về năng lực tư duy lý luận của người cán
các ngành nghề chuyên môn khác nhau thành một tổng thể ở mức độ khái quát cao, bao
quát nhiều vấn đề trên nhiều lĩnh vực và phạm vi rộng lớn. Đồng thời, cũng phân định
được tính đặc thù giữa các loại tri thức. Trên cơ sở đó, khi vận dụng vào thực tiễn vừa
phải bảo đảm nhìn nhận vấn đề trong tính nhiều mặt như một chỉnh thể, vừa phải bảo
đảm sự phù hợp với địa bàn tỉnh.
Ba là, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn. Đây là khả năng biến những tri
thức đã lĩnh hội được thành các chủ trương, chương trình, kế hoạch hành động làm biến
đổi trực tiếp hiện thực. Điều này thể hiện khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn, liên hệ
giữa lý luận với thực tiễn vận dụng cái chung một cách đúng đắn cho từng tình huống cụ
thể. Đó là năng lực vận dụng, cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng một cách thiết
thực, sáng tạo trên địa bàn tỉnh mà mình phụ trách.
Bốn là, năng lực phát triển tri thức. Đó là khả năng phát triển những tri thức cho
phù hợp hơn nữa với sự phát triển của thực tiễn. Đây là thể hiện khả năng tư duy lý luận
của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh. Họ vừa vận dụng sáng tạo tri thức vào thực tiễn.
Vừa đề xuất, tổng kết những vấn đề nảy sinh từ địa phương kiến nghị lên Trung ương để
góp phần bổ sung, phát triển hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách.
Như vậy, năng lực tư duy lý luận của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh có
giá trị định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của họ. Chất liệu trực
tiếp tạo nên năng lực đó là những tri thức lý luận tiếp thu từ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, từ đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và từ sự
trãi nghiệm trong hoạt động thực tiễn của chính người cán bộ. Nội dung của năng lực ấy
thể hiện trước hết ở năng lực phản ánh những vấn đề bản chất, tìm ra mâu thuẫn, phát
hiện những cái mới; ở khả năng tư duy khoa học trong sử dụng các hình thức và phương
pháp tư duy để hình thành tri thức mới làm cơ sở cho việc giải quyết những vấn đề thực
tiễn nảy sinh ở địa phương.
Năng lực tư duy lý luận là khả năng tư duy khoa học về những vấn đề chung,
tổng thể, toàn vẹn, nắm bắt đối tượng trong tính chỉnh thể của sự tồn tại, vận động và
phát triển. Đó là khả năng sáng tạo trong sử dụng các khái niệm, phạm trù để phân tích,
so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa đem lại những tri thức mang tính chính