NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TẠI HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG - Pdf 45

BỘ NỘI VỤ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ
CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TẠI HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

Khóa luận tốt nghiệp ngành : QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
Người hướng dẫn

: PGS.TS. NGUYỄN MINH PHƯƠNG

Sinh viên thực hiện

: HOÀNG KIỀU HƯƠNG

Mã số sinh viên

: 1305QTND028

Khóa

: 2013-2017

Lớp

: ĐH QTNL 13D


được, em không sao chép bất kỳ của một cá nhân hay cơ quan nào khác. Em xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà trường về sự cam đoan này.
Sinh viên
Hoàng Kiều Hương


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

TỪ VIẾT TẮT
CBCC
CNH, HĐH
HCNN
HĐND


(Phụ lục II)

2

Bảng 2.2. Bảng tổng hợp số lượng, chất lượng của cán bộ, công
chức cấp xã tại huyện Sơn Động năm 2016

30

3

Bảng 2.3. Trình độ chuyên môn đào tạo của đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã tại huyện từ năm 2014 đến 2016

(Phụ lục II)

4

Bảng 2.4. Trình độ chuyên môn của đội ngũ CBCC cấp xã tại
huyện Sơn Động từ năm 2014 đến 2016

(Phụ lục II)

5

Bảng 2.5. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá mức độ hoàn thành
công việc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp xã năm 2015

39

35
37


LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH) và hội nhập kinh tế quốc tế. Song song với quá trình đó là sự phát triển
không ngừng về kinh tế - xã hội, sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đời sống nhân
dân ngày càng được nâng cao. Quá trình đó đã tạo cho đất nước chúng ta những cơ
hội lớn, bên cạnh đó cũng có những thách thức không nhỏ mà chúng ta cần phải cố
gắng để vượt qua. Tình hình mới đòi hỏi những người cán bộ, công chức (CBCC)
trong cơ quan hành chính nhà nước (HCNN), không chỉ ở cấp Trung ương mà cả
cấp địa phương cũng phải có đủ năng lực, giỏi về chuyên môn và tốt về phẩm chất
mới có thể đưa nước ta vượt qua những thách thức và khó khăn để đưa nước ta tiến
lên con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta đã chọn. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói “Cán bộ là gốc của vấn đề”. Đội ngũ CBCC nước ta là lực lượng nòng
cốt của bộ máy HCNN, đóng vai trò rất quan trọng, CBCC là công bộc của dân, là
người thực thi chính sách của Nhà nước, là người đại diện cho quyền lợi của nhân
dân. Như vậy, người CBCC phải không ngừng học hỏi, trao dồi các kiến thức, phát
huy nội lực của bản thân để tạo sức mạnh cho tập thể.
Trong bộ máy HCNN, cấp xã là cấp vô cùng quan trọng, trực tiếp thực hiện
các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, của Nhà nước đến với nhân dân
trên mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy năng lực
làm việc của CBCC cấp xã tại huyện Sơn Động còn nhiều mặt yếu kém, chưa đáp
ứng được yêu cầu trong công cuộc đổi mới dẫn đến nhiều bất cập trong công tác
quản lý cũng như trách nhiệm phục vụ nhân dân. Với đề tài “Nâng cao năng lực
thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Sơn Động, tỉnh
Bắc Giang”, em muốn đóng góp một chút ít công sức của mình vào việc nghiên cứu
thực trạng và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ
CBCC trong bộ máy HCNN cấp xã để hoàn thiện hơn về trình độ chuyên môn và

Nhận thức được tầm quan trọng và ảnh hưởng của nó tới hiệu quả thực thi
công vụ, em đã lựa chọn đề tài “Nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ

9


cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp của mình. Em mong rằng đề tài nghiên cứu sẽ đóng góp một phần
vào việc đổi mới và nâng cao năng lực công tác tại các cơ quan HCNN cấp xã nói
chung và cơ quan HCNN cấp xã tại huyện Sơn Động nói riêng.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đề tài liên quan đến vấn đề năng lực thực thi công vụ của đội ngũ CBCC là
một đề tài đã và đang được rất nhiều độc giả và nhà nghiên cứu quan tâm. Trên thực
tế, đã có rất nhiều người nghiên cứu về vấn đề này như:
Trong bài báo cáo “Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cán bộ,
công chức tại Ủy ban nhân dân quận Cẩm Lệ - TP Đà Nẵng” (2010) của Phùng Thị
Sửu, tác giả đã đưa ra năm giải pháp chính nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ
CBCC tại UBND quận Cẩm Lệ. Tuy nhiên, tác giả chưa hoàn toàn làm rõ được nội
dung và cách thức thực hiện của giải pháp đó. Mặt khác, hệ thống cơ sở lý luận về
năng lực của CBCC trong bài báo cáo này chưa được hoàn chỉnh, còn xơ xài và đặc
biệt là cơ sở lý luận này dựa trên văn bản pháp luật cũ, không còn phù hợp với hệ
thống văn bản pháp luật hiện hành.
Bài viết “Giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức
hành chính” của Nguyễn Thị Thanh Loan được đăng tải trên Tạp chí Quản lý nhà
nước (2016) đã đưa ra bốn giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của
đội ngũ công chức hành chính. Đó là: Thứ nhất, nâng cao ý thức trách nhiệm của
công chức trong thi hành công vụ; thứ hai, bổ khuyết những hạn chế về năng lực,
trình độ thông qua đào tạo, bồi dưỡng; thứ ba, đổi mới công tác quản lý công chức,
thí điểm áp dụng sát hạch công chức; thứ tư, tăng cường chế độ thanh tra, kiểm tra
công vụ, giám sát của nhân dân.

Phạm vi nghiên cứu:
- Đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của đội ngũ CBCC cấp xã
trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2016.
- Đề tài nghiên cứu tại 23 xã, thị trấn thuộc huyện Sơn Động, tỉnh Bắc
Giang.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Năng lực thực thi công vụ của đội ngũ CBCC cấp xã tại huyện Sơn Động,
tỉnh Bắc Giang còn nhiều hạn chế dẫn đến hiệu quả làm việc chưa cao, do đó cần
thiết phải nâng cao năng lực thực thi công vụ thông qua nhiều hình thức và biện
pháp khác nhau.

12


7. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quan sát: Đây là phương pháp được sử dụng để quan sát kỹ
năng giao tiếp hành chính, kỹ năng soạn thảo văn bản, thái độ của CBCC cấp xã đối
với công việc, đối với công dân đến làm việc.
Phương pháp điều tra, khảo sát: Xây dựng phiếu điều tra và tiến hành khảo
sát ý kiến của 300 CBCC cấp xã đang làm việc tại huyện Sơn Động về kỹ năng thu
thập và xử lý thông tin của họ.
Phương pháp phỏng vấn: Với vấn đề khó định lượng như khả năng giao tiếp
của CBCC cấp xã, cùng với phương pháp quan sát, tiến hành phỏng vấn thêm 10
CBCC cấp xã với 5 câu hỏi hỏi phỏng vấn chính, nhằm tìm hiểu điều gì gây trở ngại
hoạt động giao tiếp của người CBCC cấp xã, cũng như tâm tư, quan điểm của họ
trong quá trình giao tiếp hành chính.
Phương pháp thống kê, tổng hợp: Tổng hợp một số văn bản quy phạm pháp
luật liên quan tới vấn đề nghiên cứu và một số tài liệu liên quan đến số lượng, chất
lượng CBCC cấp xã như Báo cáo số lượng, chất lượng CBCC cấp xã của Ủy ban
nhân dân huyện Sơn Động các năm 2014, 2015, 2016…; và những thông tin thu

1.1.1.1. Công vụ
Ở Việt Nam, khái niệm công vụ chưa được hiểu một cách thống nhất:
+ Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Công vụ là một hoạt động do
công chức nhân danh Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp
luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội” [41]. Đây là một định
nghĩa thể hiện khá đầy đủ quyền và nghĩa vụ của công chức trong thực hiện nhiệm
vụ, đó là làm những gì pháp luật cho phép và được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, chủ
thể thực thi công vụ trong khái niệm này chỉ bao gồm công chức nhân danh Nhà
nước mà bỏ qua đội ngũ cán bộ và những người được Nhà nước trao quyền – những
người cũng phục vụ lợi ích của Nhà nước và của nhân dân theo quy định của pháp
luật và được pháp luật bảo vệ.
+ Trong giáo trình Pháp luật về công vụ và đạo đức công vụ của Phạm Hồng
Thái: Công vụ là hoạt động nhằm phục vụ lợi ích công, lợi ích xã hội, lợi ích của
Nhà nước và nhân dân. Chủ thể thực hiện theo định nghĩa này lại quá rộng vì hoạt
động nhằm phục vụ lợi ích công, lợi ích xã hội, lợi ích của Nhà nước và nhân dân
không chỉ có CBCC mà còn có những cá nhân, tổ chức khác như tổ chức y tế, tổ
chức phi Chính phủ,…
+ Tại Điều 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Hoạt động công
vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công
chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan” [39]. Như vậy,
hoạt động công vụ chính là những nhiệm vụ, quyền hạn mà người CBCC phải thực
hiện trong khuôn khổ quy định của pháp luật.
Từ những cách hiểu trên, có thể đưa ra một khái niệm có thể phản ánh đầy đủ
nhất bản chất của công vụ như sau: Công vụ là hoạt động mang tính quyền lực pháp

15


lý được thực thi bởi đội ngũ CBCC Nhà nước hoặc những người được Nhà nước
trao quyền nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong quá trình


- Cơ chế đảm bảo thực thi công vụ: Do công vụ là một hoạt động đặc biệt,
khác với các hoạt động thông thường khác nên thực thi công vụ phải theo quy trình
chặt chẽ, đảm bảo tính pháp lý, tính quy tắc, thủ tục, công khai, bình đẳng, có sự
tham gia của các chủ thể có liên quan.
1.1.1.2. Cán bộ cấp xã
Theo Luật Cán bộ, công chức của Quốc hội khóa 12, kỳ họp thứ 4 số
22/2008/QH12 ngày 03 tháng 11 năm 2008 (gọi tắt là Luật Cán bộ, công chức năm
2008), cán bộ được quy định như sau:
“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước” [39].
“Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt
Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính
trị - xã hội” [39].
Theo đó, cán bộ cấp xã có các chức vụ sau:
- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy cấp xã;
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã;
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;
- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã;
- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh cấp xã;
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cấp xã;
- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam cấp xã (đối với xã, phường, thị trấn có
hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam cấp xã.


Do đặc tính của nền hành chính nhà nước và do quy định của pháp luật, đặc
biệt trong Luật Cán bộ, công chức, những nhiệm vụ và quyền hạn của CBCC cấp xã

18


được quy định nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã có đức
có tài, hết lòng phục vụ nhân dân. Nghĩa vụ của CBCC cấp xã được quy định rõ
trong các văn bản vừa là yêu cầu để CBCC cấp xã rèn luyện, phấn đấu, vừa là cơ sở
để kiểm tra, đánh giá của cấp có thẩm quyền và sự giám sát của nhân dân trong quá
trình hoạt động của CBCC cấp xã. Nghĩa vụ của CBCC cấp xã trong thi hành công
vụ được quy định tại Điều 62 Luật Cán bộ, công chức như sau:
- Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn được giao;
- Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của
cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi
phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước;
- Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;
- Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao;
- Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là
trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường
hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người
thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi
hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết
định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình;
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan và điều lệ của
tổ chức mà mình là thành viên.
Đi đôi với nghĩa vụ, luật pháp cũng quy định quyền hạn của CBCC cấp xã và
nó là yếu tố đảm bảo cho việc hoàn thành các nghĩa vụ. Việc xác định rõ những

Năng lực cũng có thể được hiểu là “sự kết hợp của kiến thức, kỹ năng, thái
độ có ảnh hưởng đến phần lớn các công việc của một cá nhân và có mối liên quan
trực tiếp đến kết quả thực hiện công việc; nó được cải thiện thông qua đào tạo và
phát triển” – European Commission (2007). Quan điểm này nhấn mạnh đến mối
quan hệ giữa năng lực và kết quả hoàn thành công việc, và ở đây, năng lực không tự
nhiên có được mà phải trải qua sự rèn luyện, đào tạo và phát triển.
Theo từ điển Việt Nam của Viện Ngôn ngữ học (Nxb Đà Nẵng) và Trung tâm
Từ điển học (2000): Năng lực được hiểu là khả năng điều kiện chủ quan hoặc tự

20


nhiên sẵn có; phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành
một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao. Theo quan điểm này, năng lực của
một cá nhân có thể có sẵn do tài năng bẩm sinh hoặc qua đào tạo, rèn luyện. Yếu tố
tâm, sinh lý được đề cao trong thực hiện công việc, nó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả
công việc đó. Khi mà người lao động có tâm, sinh lý tốt thì sẽ tạo ra động lực thúc
đẩy khiến bản thân hoàn thành công việc có chất lượng, hiệu quả hơn.
Với cách tiếp cận từ góc độ tâm lý học, Tiến sỹ Vũ Duy Yên cho rằng “Năng
lực là tổng hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc
trưng của một hoạt động nhất định, nhằm bảo đảm việc hoàn thành có kết quả tốt
nhất trong lĩnh vực hoạt động ấy” [26, tr126]. Những thuộc tính đó là những kiến
thức, tính cách, sở thích, năng khiếu... riêng biệt của mỗi cá nhân phù hợp với yêu
cầu của công việc, từ đó có thể thực hiện công việc một cách hiệu quả nhất.
Theo thuật ngữ hành chính: Năng lực là khả năng về thể chất và trí tuệ của cá
nhân con người, hoặc khả năng của một tập thể có tổ chức tự tạo lập và thực hiện
được các hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội nhằm thực hiện được
mục tiêu, nhiệm vụ do mình đề ra hoặc do Nhà nước hay chủ thể khác với kết quả
tốt nhất. Theo quan điểm này, năng lực của cá nhân không chỉ có kiến thức, trí tuệ
mà còn cần phải có sức khỏe thể chất đủ để đảm bảo việc thực hiện công việc một

chính sách pháp luật của Nhà nước một phần được quyết định bởi sự triển khai ở cơ
sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gắn với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng
quần chúng. Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ
thuộc vào chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã.
CBCC cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành đồng thời nắm bắt tình
hình triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp
luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ
sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, vị trí, vai trò của CBCC cấp xã là
cầu nối giữa Đảng, Chính phủ và quần chúng nhân dân.
CBCC cấp xã là người gần gũi dân, sát dân nhất cho nên họ là người trực
tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng tình cảm của dân để phản ánh lên các cấp chính
quyền. Họ có vai trò trực tiếp đảm bảo kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các
quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân,

22


đảm bảo trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Họ là những người
đóng vai trò tiên phong, đi đầu trong đấu tranh chống các hiện tượng quan liêu,
tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác, làm cho tổ chức Đảng, bộ máy chính
quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
CBCC cấp xã là lực lượng xung kích quyết định việc tổ chức thực hiện xây
dựng Nông thôn mới (NTM) ở cơ sở. CBCC cấp xã là những người trực tiếp quán
triệt các Chỉ thị, Nghị quyết về xây dựng NTM để cụ thể hóa thành Đề án, quy
hoạch xây dựng tại địa phương; trực tiếp tham mưu, triển khai thực hiện việc huy
động sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân trong việc phát triển kinh tế xã
hội, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, tích
cực tham gia phong trào xây dựng NTM.
CBCC cấp xã là những người trực tiếp cụ thể hóa các chủ trương, chính

phương vẫn còn không ít CBCC cấp xã chưa đạt chuẩn về trình độ đào tạo chuyên
môn nghiệp vụ, nhất là đối với những CBCC cao tuổi.
Tính chuyên nghiệp, chuyên môn hoá trong hoạt động thực thi công vụ của
CBCC cấp xã chưa cao. Phần lớn CBCC cấp xã là người sinh sống tại địa phương
nên có ưu điểm là am hiểu về văn hoá, phong tục, tập quán và tâm lý, tình cảm của
người dân, thuận lợi trong việc tổ chức, vận động nhân dân thực hiện các chủ
trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định của chính
quyền địa phương. Tuy nhiên, cũng chính vì là người địa phương nên CBCC cấp xã
bị chi phối bởi nhiều mối quan hệ tình cảm dòng tộc, "trong họ ngoài làng", tạo nên
lối làm việc "duy tình", chủ quan cá nhân, giải quyết công việc bằng kinh nghiệm,
ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ của chính quyền cơ sở. Hơn nữa,
do tư tưởng cục bộ, địa phương của CBCC và nhân dân còn khá phổ biến, nên
không thực sự ủng hộ, hợp tác đối với những công chức cấp xã là người địa phương
khác.
CBCC cấp xã là lực lượng mang tính “động”, thường xuyên có sự thay đổi.
Mặc dù đã thực hiện quy định về tiêu chuẩn cụ thể và nhiệm vụ của từng chức danh
CBCC cấp xã, nhưng trên thực tế vị trí công việc của CBCC cấp xã thường thiếu ổn
định so với CBCC cấp huyện, cấp tỉnh do có sự luân chuyển, điều động, bố trí lại
nhiệm vụ, nhất là sau mỗi kỳ bầu cử.

24


CBCC cấp xã phải thực hiện một khối lượng công việc rất lớn, trên phạm vi
rộng và phải kiêm nhiệm nhiều việc. CBCC cấp xã được đào tạo ở một chuyên
ngành nhất định nhưng khi thực thi công vụ ở cơ sở lại phải thực hiện việc tham
mưu quản lý và thực thi công vụ trên quy mô, phạm vi rộng với nhiều lĩnh vực,
chuyên ngành khác nhau. Chính những điều này đã tạo ra những áp lực rất lớn cho
CBCC cấp xã, đồng thời dễ nảy sinh tiêu cực, ảnh hưởng đến việc nâng cao chuyên
môn nghiệp vụ của CBCC và chất lượng, hiệu quả, hiệu lực của hoạt động thực thi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status