LUẬN VĂN:
Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cỏn bộ
lónh đạo chủ chốt cấp tỉnh trong giai đoạn
hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh là vấn đề
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài. Bởi lẽ, năng lực tư duy lý luận là
cơ sở quan trọng để cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh hoạch định đường lối, chủ trương, chỉ đạo
hoạt động thực tiễn.
Đường lối, chủ trương của Đảng là đường lối chung, khái quát ở tầm vĩ mô, khi
triển khai ở các địa phương đặc biệt là ở cấp tỉnh đòi hỏi một sự năng động, sáng tạo thì
kết quả mới cao. Để đáp ứng được yêu cầu đó, những cán bộ lãnh đạo chủ cốt của tỉnh
phải có trình độ tư duy lý luận mới đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ trong giai đoạn
hiện nay.
Sẽ là sai lầm khi cho rằng, ở địa phương chỉ là nơi triển khai nghị quyết của Trung
ương, nên yêu cầu về năng lực tư duy lý luận không cao. Thực ra, việc triển khai nghị
quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở địa phương đòi hỏi một sự năng
duy" của GS.TS Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Cộng sản, Số 10-1987; "Tư tưởng Hồ Chí
Minh về vai trò của năng lực trí tuệ và lý luận" của PGS Trần Đình Huỳnh, Tạp chí Xây
dựng Đảng, Số 2-1995; "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luận
Mác - Lênin ở các trường Chính trị tỉnh" luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Đình Trãi
Cùng với những công trình nghiên cứu chuyên sâu về trình độ tư duy, năng lực tư
duy của cán bộ, đảng viên còn có những bài viết, những công trình nghiên cứu đánh giá về
những hạn chế, yếu kém về tư duy lý luận của cán bộ, đảng viên, chẳng hạn như: "Chống
chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều
trong quá trình đổi mới"; "Mấy vấn đề về đổi mới tư duy", Học viện Nguyễn ái Quốc, Hà
Nội, 1988; "Một số căn bệnh trong phương pháp tư duy của cán bộ ta", Tạp chí Triết học,
số 2-1988
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về năng lực tư duy lý luận như một phẩm chất tư duy của
người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay với tư cách là một luận văn
thạc sĩ khoa học triết học thì chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu. Vì vậy, việc chọn nghiên
cứu đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, nhằm góp phần vào công tác cán bộ trong
sự nghiệp đổi mới hiện nay ở tỉnh Bắc Giang nói riêng và trong cả nước nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: Trên cơ sở làm rõ vai trò của năng lực tư duy lý luận đối
với hoạt động lãnh đạo của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh và thực trạng năng lực
tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ này (qua thực tế Bắc Giang), đề xuất một số phương
hướng và giải pháp chủ yếu nhằm từng bước nâng cao năng lực tư duy lý luận cho họ.
Nhiệm vụ của luận văn:
- Làm rõ vai trò năng lực tư duy lý luận đối với hoạt động lãnh đạo của người cán
bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh và những yêu cầu nâng cao năng lực tư duy lý luận trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua thực tế Bắc Giang).
- Phân tích thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ
chốt cấp tỉnh từ năm 1986 đến nay và những nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất một số phương hướng và những giải pháp chủ yếu để từng bước nâng
cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh hiện nay.
7. ý nghĩa của luận văn
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, hoạch định chiến
lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh Bắc Giang.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để giảng dạy, học tập triết học nói chung
và phần lý luận nhận thức nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
2 chương, 5 tiết. Chương 1
Năng lực tư duy lý luận
và vai trò của nó đối với hoạt động lãnh đạo
của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh
1.1. Năng lực tư duy lý luận
1.1.1. Bản chất tư duy lý luận
Để xác định được nội dung của phạm trù năng lực tư duy lý luận, trên cơ sở ấy mà
nhận rõ vai trò của nó cũng như nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cấp tỉnh, trước hết cần làm rõ nội dung khái niệm tư duy.
Để hiểu khái niệm tư duy, một mặt chúng ta phân biệt nó với "ý thức" và "nhận
thức" vì chúng là những khái niệm có mối liên hệ mật thiết, thống nhất hữu cơ với nhau.
Mặt khác, chúng ta nghiên cứu tư duy như một phạm trù có tính lịch sử.
Theo Mác, ý thức chỉ là vật chất được di chuyển vào trong bộ óc người và được cải
biến đi ở trong đó [41, tr. 35]. Còn Lênin thì cho rằng ý thức là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan [24, tr. 138]. Nói ý thức là hình ảnh chủ quan là theo nghĩa sự phản ánh thế
giới bởi bộ óc người gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có
lựa chọn, nhằm tạo ra những hình ảnh sâu sắc và nhiều mặt về thế giới khách quan. Tuy là
biện chứng, quá trình ấy bao gồm hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
Tuy khác nhau về chất nhưng nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có sự thống nhất
hữu cơ, tác động biện chứng với nhau. Chúng bổ sung, hỗ trợ cho nhau, đem lại cho con
người những hiểu biết ngày càng đầy đủ hơn, toàn diện hơn và sâu sắc hơn về các sự vật,
hiện tượng, quá trình trong thế giới.
Tóm lại, nhận thức là quá trình phản ánh và tái tạo lại hiện thực trong đầu óc của
con người, được quyết định bởi những quy luật phát triển xã hội và gắn liền với hoạt động
thực tiễn [72, tr. 407].
Vậy tư duy khác gì với nhận thức?
Tư duy không phải là hệ ý thức mà là hình thức cao của sự phản ánh tích cực thực
tại khách quan của con người [72, tr. 634].
Đó là hoạt động phản ánh ở giai đoạn cao nhất của nhận thức. Nếu chỉ bằng cảm
giác, tri giác thì nhận thức của con người rất hạn chế, bởi vì con người không thể bằng cảm
giác mà nhận thức, mà hiểu được những vấn đề như tốc độ ánh sáng, âm thanh hay những
hiện tượng xã hội phức tạp khác Muốn hiểu được những vấn đề đó không thể có gì thay
thế ngoài việc sử dụng sức mạnh của tư duy.
Tư duy là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan. Đó là quá trình
năng động, sáng tạo, nó có thể phản ánh được những mối liên hệ bản chất, tất nhiên bên
trong của sự vật, đem lại cho nhận thức khoa học những tri thức mới về tính quy luật chi
phối sự vận động và phát triển của sự vật.
Tư duy phải gắn liền với ngôn ngữ, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, tư duy
phải được biểu đạt thành ngôn ngữ, nhờ đó mà con người có thể sáng tạo ra những khái
niệm và những phạm trù khoa học, nêu lên những quy luật của các khoa học và do đó hiểu
sâu sắc hơn bản chất của các sự vật. Nếu không có ngôn ngữ sẽ không có phương tiện để
tư duy và tư tưởng của loài người không thể lưu giữ kế thừa và phát triển được.
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng, tư duy là sản vật của bản nguyên siêu tự nhiên, độc
lập, không phụ thuộc vào vật chất, đó là "ý niệm tuyệt đối", "ý niệm siêu nhiên" song, sự
phát triển của khoa học đã bác bỏ những quan điểm đó và đã chứng minh được rằng tư duy
là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người. Hoạt động của bộ óc
động này càng phát triển thì tư duy, trí tuệ của con người cũng càng phát triển theo.
Ăngghen đã nhận định rằng: "Trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta
đã học cải biến tự nhiên" [40, tr. 720].
Như vậy, thông qua hoạt động thực tiễn của mình, con người đã chủ động nhận
thức và cải tạo thế giới. Tư duy của con người là do hiện thực khách quan quy định; nhưng
chính hoạt động thực tiễn của con người lại là cơ sở, động lực cơ bản cho sự xuất hiện và
phát triển của tư duy, thực tiễn cũng là tiêu chuẩn để kiểm tra, điều chỉnh quá trình tư duy,
xác nhận cho tính đúng đắn của tư duy, loại bỏ những sai lầm, tạo sự phát triển liên tục của
tư duy con người.
Tư duy của con người luôn mang tính sáng tạo, hoạt động của tư duy luôn vươn
tới những nhận thức mới thông qua hoạt động thực tiễn và nhận thức. Hoạt động thực tiễn
là cơ sở, động lực của tư duy. Do vậy, khi hoạt động thực tiễn còn ở một trình độ thấp thì
ứng với nó là cấp độ tư duy ở trình độ thấp. Khi hoạt động thực tiễn đạt đến trình độ cao
hơn thì phương pháp tư duy, trình độ tư duy cũng được nâng lên.
Như vậy, tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức nảy sinh trên cơ sở nhận
thức cảm tính. Đó là trình độ phản ánh khái quát hóa, trừu tượng hóa, mang tính tích cực
sáng tạo, hướng sâu vào nhận thức bản chất, quy luật vận động và phát triển của thế giới
khách quan.
Tư duy là quá trình suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng kết hợp các khái niệm, phạm trù
theo các nguyên tắc, quy luật lôgíc hình thức và lôgíc biện chứng nhằm đạt đến chân lý.
Tư duy là quá trình sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần, là sự tìm tòi đề xuất
những nhận thức mới và không ngừng bổ sung phát triển các nhận thức đó trên cơ sở hoạt
động thực tiễn của con người.
ở trình độ tư duy, sự vật được phản ánh khái quát trong các hình thức khái niệm,
phán đoán, suy lý. Tư duy luôn gắn liền với ngôn ngữ, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư
duy, tư duy phải được diễn đạt thành ngôn ngữ bởi vì đó là hiện thực trực tiếp của tư tưởng,
là phương tiện để diễn đạt kết quả của sự nhận thức, để lưu giữ và tiếp tục phát triển kết quả
của nhận thức đó.
Tư duy xuất hiện, biến đổi và phát triển trong quá trình hoạt động thực tiễn của
để. Tư duy lý luận cũng có khả năng dự báo khoa học về xu hướng vận động, phát triển
của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, nó đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của khoa
học cũng như thực tiễn xã hội. Tư duy lý luận cũng chính là biểu hiện trình độ phát triển cao
của năng lực tư duy lý luận.
Từ những điều trình bày trên đây, chúng ta thấy: ý thức, nhận thức, tư duy là
những khái niệm có sự thống nhất hữu cơ với nhau; chúng đều là sự phản ánh hiện thực
khách quan bởi bộ óc người, cùng bị chi phối bởi những quy luật sinh học và xã hội trong
đó các quy luật xã hội giữ vai trò quyết định. Nhưng chúng không phải là những khái niệm
đồng nhất.
Trong mối quan hệ nội tại giữa ý thức, nhận thức và tư duy, cần thấy rằng, ý thức
là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người, nó là phạm trù đối lập với vật chất.
Nhận thức là quá trình phản ánh đó. Tư duy là trình độ cao của nhận thức. Như thế, nhận
thức, tư duy đều là quá trình hoạt động để mang lại tri thức về sự vật. Tư duy cũng thuộc
hoạt động nhận thức nhưng là giai đoạn cao của quá trình nhận thức. Nhận thức là quá
trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Nói đến
tư duy lý luận là nói đến tư duy ở trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa, phản ánh gián
tiếp nhưng sâu sắc về mối liên hệ bản chất, tính tất yếu, tính quy luật của sự vật, hiện
tượng.
1.1.2. Năng lực tư duy lý luận và những yếu tố ảnh hưởng đến nó
Năng lực tư duy lý luận là một trong những phạm trù quan trọng của nhận thức
luận. Đã có những công trình, những bài viết đề cập đến bản chất, cấu trúc và vai trò của
năng lực tư duy lý luận hướng tới việc làm sâu sắc thêm lý luận nhận thức và làm cơ sở lý
luận cho việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho con người Việt Nam hiện nay. Khi bàn
về khái niệm năng lực tư duy, có ý kiến cho rằng, "năng lực tư duy là tổng hợp những
phẩm chất trí tuệ đáp ứng yêu cầu nhận thức thế giới và bảo đảm cho hành động sáng tạo
của con người". Năng lực đó "được biểu hiện ở khuynh hướng nhận thức và hành động, ở
kết quả xử lý thông tin và nhất là kết quả hoạt động. Phương pháp tiếp cận vấn đề khác
nhau chính là biểu hiện trình độ khác nhau của năng lực tư duy" [34, tr. 26]. Trong quan
các phương pháp ấy theo một trật tự lôgic phù hợp với lôgíc vốn có của đối tượng nhận
thức.
Quá trình tư duy được thể hiện ở các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy lý.
Những hình thức này quan hệ mật thiết với nhau và giữ vai trò quan trọng trong tư duy
khoa học. Chính vì thế, năng lực tư duy còn thể hiện ở năng lực lựa chọn các vấn đề có
liên quan để liên kết các hình thức tư duy mà tìm ra các kết luận nhất định. Chẳng hạn,
năng lực lựa chọn các khái niệm để hình thành một phán đoán đúng và liên kết các phán
đoán để có suy lý đúng nhằm phát hiện khái niệm mới. Như vậy, năng lực tư duy bao gồm
cả năng lực lựa chọn, sắp xếp, kết hợp các phương pháp, hình thức tư duy và khả năng sử
dụng thành thạo, nhuần nhuyễn mỗi phương pháp, mỗi hình thức tư duy theo những cách
thức, tác dụng riêng của nó cho phù hợp với tính quy định khách quan của các đối tượng
nhận thức.
Năng lực tư duy là khả năng sử dụng một cách thành thạo, nhuần nhuyễn cả nội
dung và phương pháp của tư duy để phát hiện vấn đề và xây dựng được những phương án
tối ưu để giải quyết vấn đề đó.
Năng lực tư duy thường được tiếp cận ở các kiểu: Năng lực tư duy thực hành,
năng lực tư duy hình tượng và năng lực tư duy lý luận Xét theo cấp độ phát triển của
năng lực tư duy có thể phân ra thành năng lực tư duy kinh nghiệm và năng lực tư duy lý
luận. Năng lực tư duy lý luận khác với năng lực tư duy kinh nghiệm. Năng lực tư duy lý
luận là khả năng tư duy về những vấn đề chung, tổng thể, toàn vẹn, nắm bắt đối tượng
trong tính chỉnh thể của sự tồn tại, vận động và phát triển. Đó là khả năng tư duy khoa học,
sáng tạo trong sử dụng các khái niệm phạm trù để phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng
hóa, khái quát hóa đem lại những tri thức mang tính chính xác, sâu sắc, chặt chẽ, lôgíc và
hệ thống, phù hợp với tính quy luật khách quan của hiện thực. Hơn nữa, năng lực tư duy lý
luận còn có sức mạnh đưa lý luận vào cuộc sống, cụ thể hóa lý luận thành mục tiêu, phương
hướng, giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề của cuộc sống có hiệu quả cao. Như vậy,
năng lực tư duy lý luận còn được thể hiện ở khả năng xác lập tri thức, khả năng xác lập
quan hệ giữa các tri thức và khả năng đối tượng hóa tri thức.
Năng lực tư duy lý luận và trình độ tư duy lý luận là những phạm trù dùng để chỉ
Thứ hai, quá trình giáo dục, đào tạo, quá trình học tập rèn luyện một cách tự giác
để nâng cao trình độ tri thức, trí tuệ có ảnh hưởng trực tiếp, đóng vai trò quyết định đến
năng lực tư duy lý luận. Trình độ tri thức, trí tuệ là điều kiện tiên quyết để con người phát
triển năng lực của mình về mọi mặt. Để đạt được một trình độ tri thức, trí tuệ nhất định,
không có con đường nào khác ngoài việc phải thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và tự
đào tạo. Quá trình này mang lại cho con người không chỉ nội dung các tri thức mà còn là
những phương pháp tư duy khoa học ngày một hoàn thiện hơn. Đó chính là nền tảng, là cơ
sở để con người mài dũa khả năng tư duy, rèn luyện năng lực tư duy nhạy bén sáng tạo.
Nếu bị hạn chế về tri thức, trí tuệ thì không thể nâng cao được năng lực tư duy lý luận.
Thứ ba, môi trường kinh tế - xã hội, nền tảng văn hóa, khoa học của xã hội có ảnh
hưởng quan trọng đến năng lực tư duy lý luận của con người. Sự phát triển về năng lực tư
duy lý luận phụ thuộc vào môi trường kinh tế - xã hội mà trong đó chủ thể tư duy sống và
hoạt động. Đó là toàn bộ những điều kiện, hoàn cảnh khách quan liên quan đến đời sống,
đến quá trình học tập, rèn luyện và công tác của mỗi người. C. Mác đã chỉ rõ, "con người
là sản phẩm của hoàn cảnh", hoàn cảnh kinh tế - xã hội như thế nào sẽ sản sinh ra con
người thực tiễn như thế ấy. Bản thân tư duy cũng là sự phản ánh của tồn tại xã hội, là sản
phẩm của lịch sử - xã hội. Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã góp phần hình thành thói
lười suy nghĩ, tìm tòi, tư tưởng thụ động, trông chờ, ỷ lại. Cơ chế kinh tế thị trường dễ hình
thành được phong cách tư duy năng động, sáng tạo Năng lực tư duy lý luận của con
người đặc biệt phụ thuộc vào nền tảng văn hóa, khoa học mà xã hội đạt được. Thật vậy,
năng lực tư duy lý luận chịu sự chi phối chặt chẽ bởi sự phát triển của bản thân khoa học
và trình độ văn hóa xã hội. Nền tảng văn hóa với sức mạnh cuốn hút của cái chân, thiện,
mỹ, có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển các tư chất đặc thù của mỗi người, mở rộng,
khơi sâu thêm nền tảng tâm - sinh lý, khơi dậy mọi năng lực tiềm ẩn của con người. Cùng
với sự phát triển của khoa học, năng lực tư duy lý luận cũng có quá trình phát sinh, phát
triển của mình; nó không phải là một cái gì vĩnh viễn, sinh ra và mãi mãi như vậy. Khi
đánh giá về sự phát triển của năng lực tư duy lý luận, Ăngghen nhận xét: "Tư duy lý luận
của mỗi một thời đại, cũng có nghĩa là cả thời đại chúng ta là một sản phẩm lịch sử mang
những hình thức rất khác nhau trong những thời đại khác nhau và do đó có một nội dung rất
cái chi phối mục đích hoạt động của con người là lợi ích.
Nhu cầu, lợi ích có ảnh hưởng thường xuyên và trực tiếp đến ý thức, động cơ hoạt
động thực tiễn, học tập và rèn luyện để nâng cao năng lực tư duy lý luận. Người có động
cơ không trong sáng, trong hoạt động, học tập, rèn luyện chỉ vì lợi ích cá nhân, trước mắt,
lợi ích cục bộ thì khó có thể rèn luyện được năng lực tư duy lý luận sắc bén. Hoặc có
được năng lực tư duy lý luận tốt những người đó có động cơ không trong sáng thì cũng chỉ
là "người có tài mà không có đức cũng trở thành vô dụng".
Những điều kiện, hoàn cảnh và nhân tố trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác
động bổ sung lẫn nhau tạo thành một hệ thống các yếu tố cùng tác động đến năng lực tư
duy lý luận. Nếu những yếu tố trong hệ thống ấy cùng tác động đến năng lực tư duy lý
luận theo một chiều tích cực sẽ có tác dụng phát triển năng lực tư duy lý luận nhanh chóng
hơn. Ngược lại, sự tác động không thuận chiều giữa các yếu tố trong hệ thống sẽ làm cho
năng lực tư duy lý luận khó có khả năng phát triển. Tuy nhiên, phải thấy rằng các yếu tố đó
có vai trò, tác dụng, có mức độ ảnh hưởng rất khác nhau đối với năng lực tư duy. Trong
đó, yếu tố bẩm sinh, di truyền, sự phát triển của khoa học và thực tiễn xã hội là điều kiện
cần thiết; quá trình giáo dục, đào tạo đóng vai trò chủ đạo; quá trình tự giáo dục rèn luyện
để có được động cơ trong sáng là yếu tố mang tính quyết định trực tiếp đến việc phát triển
năng lực tư duy lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Năng lực của con người không
phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có. Như
vậy, cùng với thực tiễn xã hội và sự phát triển của khoa học, quá trình học tập nâng cao
trình độ trí tuệ, trình độ lý luận là cơ sở chủ yếu của năng lực tư duy lý luận.
Năng lực tư duy lý luận chịu sự chi phối chặt chẽ bởi sự phát triển của khoa học và
thực tiễn xã hội. Vì thế, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học và thực tiễn, do
nhu cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển của con người, năng lực tư duy lý luận
cũng luôn trong quá trình phát sinh, phát triển và ngày càng hoàn thiện nâng cao hơn. V.I.
Lênin đã viết: "Trí tuệ con người đã tìm thấy nhiều điều kỳ diệu trong tự nhiên và sẽ tìm
thấy nhiều điều kỳ diệu hơn nữa, do đó làm tăng thêm quyền lực của mình với tự nhiên"
[29, tr. 348]. Lẽ dĩ nhiên, đó không phải là một quá trình tự phát mà là quá trình con người
tự giác rèn luyện, học tập nâng cao năng lực tư duy, tự giác tham gia tích cực vào hoạt
năng lực, về thể chất, về tâm tư và ước vọng riêng của các đối tượng lãnh đạo. Từ đó mà
tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng lãnh đạo làm việc đạt hiệu quả tối đa. Chính vì
thế, hoạt động lãnh đạo nếu được nâng lên trình độ nghệ thuật, khoa học làm việc với con
người, tác động đến con người để hình thành các quan hệ tốt đẹp giữa họ với nhau và với
công việc thì hiệu quả lãnh đạo sẽ cao hơn.
Hoạt động lãnh đạo có nhiều khâu, nhiều bước, có thể diễn đạt các khâu đó ở hai
trình độ; đó là, chủ thể lãnh đạo suy nghĩ, lựa chọn quyết định và điều hành tổ chức hành
động. Do đó, mặt hiện hữu của năng lực lãnh đạo là tổ chức hoạt động thực tiễn, còn mặt
năng lực tư duy trí tuệ, lý luận là cái ẩn giấu vào bên trong. Vì vậy, nhà lãnh đạo khác với
nhà khoa học. Nhà khoa học hoạt động chính là nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện,
nêu ra lý thuyết, lý luận, vạch ra phương án thực hành, ứng dụng. Người lãnh đạo cũng là
người lao động trí óc dù ở họ không phải là lao động tìm tòi, tạo ra lý luận khoa học mà
chủ yếu là lao động cụ thể hóa, hiện thực hóa lý luận. Nhưng để có thể hiện thực hóa lý
luận đòi hỏi họ phải suy nghĩ, nghiên cứu phát hiện các tình huống thực tiễn cụ thể, trên cơ
sở đó mà đề ra các biện pháp giải quyết tình huống, ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết
định thông qua hoạt động tập thể hoặc cá nhân.
ở đây cần phân biệt cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý. Trong nhiều trường hợp,
chức năng, nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý trùng lặp nhau. Sự phân loại
hai khái niệm này chỉ có tính chất tương đối. Tuy nhiên, hoạt động lãnh đạo và quản lý có
những điểm khác nhau căn bản về mục tiêu, nội dung, về phương pháp và phương tiện tác
động. Nếu như hoạt động lãnh đạo nhằm mục tiêu định hướng chung, thì mục tiêu của hoạt
động quản lý là tổ chức, sắp xếp, chỉ huy các vấn đề theo một trật tự nhất định. Do mục
tiêu có sự khác nhau, nên nội dung hoạt động lãnh đạo, quản lý cũng không đồng nhất, dù
trong lãnh đạo và quản lý có những khâu tưởng chừng như có sự trùng lặp. Nội dung lãnh
đạo là đề ra chủ trương, đường lối chung, phương hướng triển khai, thực hiện đường lối,
kiểm tra việc thực hiện và bổ sung, sửa chữa, phát triển đường lối theo yêu cầu của thực
tiễn. Nội dung của quản lý là xây dựng các phương án, các mô hình với những chỉ tiêu kế
hoạch cụ thể, xây dựng các mối quan hệ giữa các đối tượng quản lý và giữa đối tượng với
chủ thể quản lý một cách hợp lý nhất để đạt hiệu quả cao trong tổ chức thực hiện. Về
ương xuống cơ sở. Nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước có triển khai được ở
cấp quận, huyện hay không là tùy thuộc vào sự lãnh đạo của đội ngũ này. Mặt khác, tỉnh là
khâu đầu tiên tổng kết thực tiễn có quy mô nhằm phát hiện những vấn đề nảy sinh để Trung
ương nghiên cứu; bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương mới cho phù hợp thực tiễn.
Người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh là những người thuộc ban chấp hành tỉnh
đảng bộ, họ giữ các cương vị chủ chốt ở cấp tỉnh và cấp huyện.
Hoạt động lãnh đạo của người cán bộ chủ chốt cấp tỉnh đòi hỏi phải ra được những
văn bản, quyết định đúng đắn nhằm chỉ đạo kịp thời các lĩnh vực phát triển theo đúng đòi
hỏi của thực tiễn và phù hợp với địa phương. Điều đó đòi hỏi ở người cán bộ lãnh đạo chủ
chốt cấp tỉnh, một mặt phải nắm chắc, hiểu sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước; mặt khác, phải tường tận tình hình thực tế của địa phương về mọi mặt
và xu hướng vận động của tình hình đó. Đồng thời, họ còn phải biết huy động sức mạnh trí
tuệ của tập thể, của quần chúng. Đó chính là những điều kiện để người lãnh đạo chủ chốt
cấp tỉnh xây dựng được các quyết định, các chương trình, kế hoạch vừa phù hợp với thực
tiễn địa phương vừa là sự cụ thể hóa sinh động, sáng tạo chủ trương đường lối, chính sách
của Trung ương. Những quyết định, chương trình, kế hoạch hóa vừa mang tính khái quát
chung, phản ánh mọi mặt đời sống xã hội của toàn tỉnh, vừa mang tính chất chỉ đạo cụ thể
đối với mỗi lĩnh vực, mỗi địa bàn thuộc tỉnh.
Trong hoạt động lãnh đạo cấp tỉnh, dù phạm vi tác động điều khiển có hẹp hơn cả
nước. Nhưng các lĩnh vực cần tác động điều khiển thì lại đa dạng phong phú không kém.
Xét theo lĩnh vực của đời sống xã hội, hoạt động lãnh đạo cấp tỉnh cũng tác động bao quát
mọi vấn đề từ chính trị, tư tưởng đến kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng Mỗi
lĩnh vực ấy lại còn bao gồm nhiều chuyên ngành, chuyên nghề khác nhau. Có thể ví mỗi
tỉnh như một quốc gia thu nhỏ. Do vậy, hoạt động lãnh đạo của người cán bộ chủ chốt cấp
tỉnh phải phản ánh được sự liên kết giữa các lĩnh vực, các ngành, nghề chuyên môn thành
một tổng thể các quan hệ ở tầm khái quát cao. Tuy nhiên, mỗi tỉnh đều có những đặc thù
riêng đòi hỏi người lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh phải hết sức tường tận những cái riêng của địa
bàn mà mình lãnh đạo, phát huy thế mạnh của cái riêng bằng sự lãnh đạo có trọng tâm, trọng
điểm. Tất cả những cái đó giúp cho người cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh tránh được lối suy nghĩ
ương sao cho hiệu quả nhất trên những đặc thù của tỉnh. Đó là quá trình sáng tạo, bền bỉ,
vừa làm vừa rút kinh nghiệm, kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh để cùng Trung
ương giải quyết.
1.2.2. Vai trò của năng lực tư duy lý luận đối với hoạt động lãnh đạo của
người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh
Những nội dung cơ bản trong hoạt động lãnh đạo ở cấp tỉnh đã phân tích ở trên
(1.2.1) cũng đồng thời thể hiện được những yêu cầu về năng lực tư duy lãnh đạo của người
cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh. Đó là sự nắm bắt sâu sắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng, dựa vào hệ thống lý luận ấy mà cụ thể hóa các
chính sách vào địa phương. Đồng thời, trong lãnh đạo, người cán bộ chủ chốt cấp tỉnh còn
phải thu nhận kịp thời những thông tin từ đời sống thực tiễn, xử lý các thông tin ấy một
cách nhanh chóng chính xác. Trên những cơ sở ấy mà vận dụng cái chung một cách đúng
đắn chính xác cho những lĩnh vực cụ thể ở địa bàn tỉnh. Đó chính là năng lực vận dụng
sáng tạo cái chung vào cái riêng. Cũng trong quá trình lãnh đạo yêu cầu về năng lực tư duy
lý luận của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh còn thể hiện ở năng lực tư duy về con
người, hiểu biết về con người để thu hút tập hợp họ, động viên, lôi cuốn họ để họ hoạt
động tích cực. Lãnh đạo ở cấp tỉnh vừa mang tính định hướng chung vừa mang tính thực