LUẬN VĂN:
Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện
chứng cho học viên trường chính trị Hà Nam
hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới quan khoa học là cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và định hướng đúng đắn cho hoạt động thực tiễn. Hay nói cách
khác, thế giới quan khoa học có vai trò quan trọng trong nhận thức và cải tạo thực tiễn.
Do đó, việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng - thế giới quan khoa
học cho đội ngũ cán bộ của Đảng không chỉ là việc làm thường xuyên, lâu dài mà còn là
vấn đề cấp thiết trong công cuộc đổi mới hiện nay của nước ta.
Trước diễn biến đa dạng phức tạp trên thế giới và trong nước đòi hỏi người cán
bộ phải có bản lĩnh chính trị, tri thức khoa học vững vàng để nhận thức và hoạt động
đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan của đất nước và xu thế của thời đại.
Hà Nam là một tỉnh nằm phía Nam của Thủ đô Hà Nội, chủ yếu dọc hai bên
đường quốc lộ 1A, mới được tái lập tháng 1/1997, có vị trí chiến lược an ninh - quốc
phòng, có điều kiện địa - chính trị thuận lợi. Song, trong những năm qua, tốc độ phát
triển kinh tế - xã hội, văn hóa chưa thật tương xứng với tiềm năng vốn có của nó.
Trường Chính trị Hà Nam là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống
chính trị từ tỉnh đến cơ sở (trừ cán bộ chủ chốt cấp huyện và cấp tỉnh). ở đó, cán bộ có
điều kiện tiếp cận nội dung kiến thức cơ bản để phục vụ hoạt động công tác của mình,
góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng của tỉnh.
Vì vậy, những hạn chế chung của tỉnh có thể do nhiều phương diện, trong đó
phải nói đến hiệu quả công tác đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý của nhà trường, đặc
biệt là công tác xây dựng thế giới quan khoa học cho họ. Cho nên, việc bồi dưỡng thế
giới quan khoa học là một trong những giải pháp cấp bách và chiến lược lâu dài cho đội
+ Khái niệm thế giới quan nói chung và thế giới quan duy vật biện chứng nói
riêng, vấn đề cấu trúc, vai trò của chúng.
+ Tầm quan trọng và tính tất yếu của việc giáo dục bồi dưỡng thế giới quan duy
vật biện chứng cho các đối tượng như sinh viên, cán bộ nói chung trong công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
+ Nêu ra những nhân tố cơ bản trong việc hình thành, tác động phát triển thế giới
quan duy vật biện chứng.
+ Từ đó, tác giả đưa ra một số những phương hướng chung và các giải pháp cụ
thể cho mỗi đối tượng nghiên cứu trên cơ sở đòi hỏi của thực tiễn trong mỗi giai đoạn
nhất định.
Tuy nhiên về " Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học
viên trường chính trị Hà Nam hiện nay " chưa có tác giả nào nghiên cứu. Dựa trên
thực tế giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan Mác - Lênin của Trường Chính trị Hà Nam trong
những năm qua cho đội ngũ cán bộ trong tỉnh và thông qua việc giảng dạy môn triết học,
tác giả mạnh dạn chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ triết học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Từ việc phân tích vai trò thế giới quan và thực trạng việc bồi dưỡng thế giới quan
của cán bộ tỉnh Hà Nam, luận văn đưa ra một số những giải pháp cụ thể nhằm bồi dưỡng
thế giới quan cho đội ngũ học viên của trường Chính trị tỉnh Hà Nam.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ khái niệm thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của nó trong hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
- Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng thế giới quan của cán bộ trong tỉnh Hà Nam.
- Đưa ra một số những giải pháp nhằm nâng cao thế giới quan khoa học cho đối
tượng là học viên học ở tại trường.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 2 chương, 5 tiết.
Chương 1
Thế giới quan của đội ngũ cán bộ
tỉnh hà nam hiện nay
1.1. Thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của thế giới quan duy vật
biện chứng đối với công tác lãnh đạo, quản lý
1.1.1. Thế giới quan duy vật biện chứng
Đứng trước bức tranh về thế giới (tự nhiên và xã hội) muôn hình, muôn vẻ và
sinh động, con người luôn đặt ra và giải quyết những vấn đề về mối quan hệ của mình với
thế giới, về nguồn gốc của thế giới, về vị trí của mình trong xã hội, về ý nghĩa cuộc sống
của mình và thể hiện quan điểm, tư tưởng qua các lý thuyết xã hội. Đó chính là sự lựa
chọn và định hướng cuộc sống, tức là sự thể hiện thế giới quan của mình.
Thuật ngữ "thế giới quan" xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XVIII do nhà triết
học cổ điển Đức là Cantơ nêu ra. Từ đó, nó được sử dụng rộng rãi trong các tác phẩm của
các nhà triết học sau này. Đặc biệt, với sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin, khái niệm
thế giới quan đã phát triển lên một tầm cao mới mang tầm vóc lớn lao.
Thế giới quan nào ra đời cũng đều nhằm giải quyết ba vấn đề cơ
bản sau:
- Thế giới mà con người đang sống là gì?
- Trong thế giới đó con người sống vì cái gì và sống như thế nào?
- Khả năng con người tác động lại thế giới ra sao?
Trả lời những câu hỏi đó, thế giới quan đã vạch ra được mối quan hệ giữa con
người với thế giới và xác định vị trí con người trong thế giới đó.
Thế giới quan được hình thành và phát triển trong xã hội dưới hai hình thức:
đặt ra các vấn đề như: liệu nhận thức có đáp ứng những mục đích sống đã được con
người lựa chọn và con đường thực hiện những mục đích ấy có tuân theo những quy luật
phát triển của thế giới khách quan hay không? Liệu quan hệ giữa tri thức con người với
thực tiễn cải tạo thế giới khách quan, cải tạo chính bản thân mình có tương ứng với
những đòi hỏi và những khuynh hướng phát triển hợp quy luật của hiện thực hay không?
Và bằng cách nào mà tư duy và hành động của mình, con người có thể thể hiện sự thống
nhất giữa mình và thế giới, hiểu được tương lai, triển vọng của mình? Khi trả lời những
câu hỏi đó, thế giới quan đã thể hiện chức năng, định hướng lớn lao của mình.
Trong lịch sử tư tưởng làm người đã có nhiều định nghĩa khác nhau
về thế giới quan, chẳng hạn, G-Gertx đã cho rằng: "Chúng tôi hiểu thế giới quan như một hệ
thống nhất định những lời giải đáp những vấn đề về cội nguồn của thế giới và nguồn gốc, về
ý nghĩa cuộc sống và đặc trưng của tiến bộ xã hội" [16, tr. 42]. Hoặc trong cuốn Từ điển
Tiếng Việt, Minh Tâm đã định nghĩa: "Thế giới quan là hệ thống những quan điểm mang
tính khái quát về thế giới nói chung, về những quy trình tự nhiên và xã hội được thực
hiện trong thế giới đó, về mối quan hệ của con người đối với hiện thực xung quanh" [39,
tr. 17]... Chúng tôi nhận thấy các định nghĩa trên đều đúng, nhưng bao quát và rõ hơn cả
là theo cách định nghĩa của Akitốp, bởi vì trong định nghĩa này, ông đã nêu nên, các yếu
tố nhận thức và giá trị, yếu tố khách quan và chủ quan thống nhất chặt chẽ với nhau, các
tri thức của khoa học về thế giới hòa với niềm tin của con người. Ông viết: "Tổng hợp tất
cả những quan niệm, chính kiến về thế giới, về cấu trúc và nguồn gốc của nó, ý nghĩa và
giá trị của đời sống con người, lòng tin của con người trong hiện thực gọi là thế giới
quan" [1, tr. 167].
Từ những quan niệm trên đây, có thể hiểu: Thế giới quan là hệ thống những quan
điểm của một chủ thể (có thể là của một người, một tập đoàn người, một giai cấp hay
toàn xã hội) về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trước thế giới. Trên cơ sở đó, thế
giới quan định hướng, chỉ dẫn cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con
người.
Về cấu trúc của thế giới quan bao gồm một số nhân tố cơ bản sau đây:
mình cho là cao cả. Như thế, niềm tin là yếu tố cấu thành quan trọng của thế giới quan.
Nếu nó được xác lập trên nền tảng tri thức khoa học thì nó sẽ thúc đẩy xã hội phát triển.
Lý tưởng:
Trong thế giới quan, cùng với tri thức và niềm tin thì lý tưởng là yếu tố định
hướng cực kỳ quan trọng. Lý tưởng như là hình mẫu, mục tiêu tối thượng về một cái gì
đó của một cá nhân, nhóm người, giai cấp hay toàn xã hội muốn vươn tới hiện thực.
Lý tưởng là một hình thức tư tưởng được xác lập trên cơ sở tri thức và niềm tin
của một giai cấp trong toàn xã hội đặt ra nhằm định hướng hoạt động cho mọi thành viên
trong xã hội thực hiện mục đích của mình, nhằm cải tạo thế giới "đang có" thành thế giới
"phải có". Lý tưởng mang tính lịch sử về bản chất, nó có thể tiến bộ hay lạc hậu tùy thuộc
vào hình thái của các mối quan hệ xã hội. Những quan niệm của con người về tương lai,
về lý tưởng, đó là sự tìm tòi và sẽ hình thành một hình thức tâm lý với tư cách là niềm hi
vọng. Không có niềm hy vọng như là một sự khao khát hiến dâng mình cho tương lai thì
không thể có một lập trường sống tích cực. Đó là các nhân tố cơ bản có quan hệ chặt chẽ
với nhau cấu thành thế giới quan, để thể hiện những quan điểm của chủ thể về thế giới, về
những hiện tượng tự nhiên, xã hội và các quy luật phát triển của chúng; về bản thân con
người,vai trò của con người trước thế giới.
Mối quan hệ giữa triết học với thế giới quan:
Như trên đã trình bày, thế giới quan đã chỉ ra mối quan hệ giữa con người với thế
giới, cái chủ quan và cái khách quan đã bao hàm trong mình vấn đề cơ bản của triết học,
thậm chí vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề chính trong kết cấu của thế giới quan.
Nhưng xét về mặt lịch sử, thế giới quan ra đời sớm hơn triết học. Nó ra đời trong thời kỳ
bộ tộc, trên cơ sở sự phản ánh hoang đường về thực tế. Và hình thức thế giới quan đầu
tiên ấy gọi là thế giới quan thần thoại. Còn triết học là khoa học chỉ xuất hiện khi có sự
tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay, gắn liền với sự ra đời của chế độ chiếm
hữu nô lệ. Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới, về vị trí
của con người trong thế giới đó. Vì vậy, triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan
làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh
nhất giữa lời nói, việc làm, giữa chân - thiện - mỹ... Một thế giới quan như thế phải được
xây dựng trên những tư tưởng triết học của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin. Bởi
lẽ, việc trang bị thế giới quan duy vật biện chứng sẽ giúp chúng ta có niềm tin vững chắc
vào sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội; nâng cao năng lực nhận thức và tổ chức thực tiễn.
Nó có tác dụng đối với mọi người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ - những người lãnh đạo
nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng trong tình hình cách mạng
mới.
1.1.2. Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với người cán bộ lãnh
đạo, quản lý ở Hà Nam
Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước ta được phân thành bốn cấp: trung
ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận; xã, phường, thị trấn. Nhưng
khi nói đến hết cơ cấu bộ máy chính quyền nhà nước thì được phân thành hai cấp: trung
ương và địa phương (về đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những người cán bộ lãnh
đạo, quản lý từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở, trừ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và cán bộ chủ chốt cấp
huyện).
Theo cách hiểu thông thường và khá phổ biến ở nước ta hiện nay, khái niệm cán
bộ lãnh đạo còn gắn liền với khái niệm cán bộ quản lý, được hiểu là những người có chức
vụ và trách nhiệm điều hành, cầm đầu trong các cơ quan, các tổ chức sự nghiệp, kinh
doanh. Nội hàm cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý có những điểm giống nhau: Cả cán bộ
lãnh đạo và cán bộ quản lý đều là chủ thể ra quyết định, điều khiển hoạt động của một tổ
chức, người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện chức năng quản lý và người quản lý
cũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo, nên khó có thể phân biệt một cách rạch ròi đâu
là người lãnh đạo và đâu là người quản lý.
Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và quản lý không hoàn toàn thống nhất với nhau.
Trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hướng cho khách thể thông qua hệ
thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách "làm thức tỉnh" hành vi của đối tượng,
định hướng hoạt động của đối tượng và xã hội. Trong Từ điển tiếng Việt ghi: "Lãnh đạo
bằng đề ra đường lối chủ trương và tổ chức, động viên thực hiện" [39, tr. 720]. Còn hoạt
tr. 260]. Người cán bộ không chỉ dừng lại ở những tri thức kinh nghiệm lẻ tẻ, rời rạc mà
sau mỗi việc đã làm phải biết tổng kết thực tiễn, khái quát, nâng lên thành lý luận để lý
luận lại chỉ đường, dẫn lối cho hoạt động thực tiễn của người cán bộ.
Bên cạnh tư chất và tài năng, đòi hỏi người cán bộ lãnh độ, quản lý phải trau dồi
chủ nghĩa tập thể chống chủ nghĩa cá nhân, thói quan liêu cửa quyền hách dịch, đặc
quyền đặc lợi; luôn gương mẫu, trung thực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải
gắn bó với nhân dân, giữ đúng lời hứa với dân, luôn khiêm tốn và ham học hỏi. Những
phẩm chất đạo đức đó không phải từ trên trời rơi xuống, không phải là bẩm sinh, nhưng
cũng không thể không vươn tới được. Nó là kết quả của quá trình tu dưỡng, rèn luyện bền
bỉ lâu dài của mỗi người. Do đó, người cán bộ phải phấn đấu vừa "hồng" vừa "chuyên",
tiêu biểu mẫu mực trước quần chúng nhân dân. Để làm được điều đó đòi hỏi người cán
bộ phải có đủ tư chất, tài năng và có đạo đức tốt: "Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư".
Ngày nay, đất nước ta đang tiếp tục thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Đó là thời kỳ có nhiều thay đổi và có vận hội mới, đồng thời cũng không ít
những nguy cơ và thử thách. Song mục tiêu đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta là:
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực
lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng
xã hội chủ nghĩa..., tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng
bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp hiện đại [14, tr. 89].
Vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý từ cấp tỉnh đến cấp xã càng ngày
càng quan trọng thể hiện trong mọi mặt của sự nghiệp đổi mới đất nước. Từ việc củng cố,
xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đảm bảo cho các chi bộ,
Đảng bộ là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị ở mỗi cấp, lãnh đạo toàn diện các mặt
của đời sống xã hội, xây dựng chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch,
vững mạnh; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh
được thể hiện một số mặt cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ lãnh đạo,
quản lý nâng cao năng lực nhận thức; đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu
phát triển thực tế ở địa bàn.
Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ có phương pháp biện
chứng làm việc và nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng. Nó xác lập và tạo niềm tin cho
lập trường của người cán bộ, bác bỏ những quan điểm sai lầm của thế giới quan duy tâm
và tôn giáo.
Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ ngày càng đi sâu vào
bản chất sự vật, nắm bắt được cái phổ biến tất yếu, những mối liên hệ ẩn giấu đằng sau
các sự kiện riêng biệt. Từ đó giúp họ thấy được quy luật, nguồn gốc, xu hướng, phương
thức vận động, biến đổi, phát triển của sự vật hiện tượng. Đồng thời, thế giới quan duy
vật biện chứng cũng tạo cho họ có khả năng phân tích và tổng hợp, trừu tượng và khái
quát. Nhờ vào khả năng phân tích mà họ có thể thấy được cơ cấu bên trong, tính chất,
chức năng của các bộ phận, yếu tố. Trên cơ sở đó với phương pháp tổng hợp, người cán
bộ biết liên kết, thống nhất lại các bộ phận yếu tố đã phân tích, vạch ra mối liên hệ của
chúng nhằm nhận thức cái toàn thể trong tính muôn vẻ của nó, giúp cho người cán bộ
nắm bắt sâu sắc bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng. Năng lực trừu tượng giúp
người cán bộ biết gạt bỏ những mặt, yếu tố không cơ bản nào đó trong tổng thể phong
phú của sự vật mà nắm được cái bản chất có tính quy luật của nó. Năng lực khái quát
giúp cho cán bộ nắm được đặc tính chung từ những vấn đề nhưng việc nắm vững vấn đề
lý luận chung sẽ là tiền đề, phương pháp tốt nhất để giải quyết những vấn đề cụ thể. V.I.
Lênin viết:
Người nào bắt tay vào giải quyết những vấn đề riêng, trước khi giải
quyết những vấn đề chung, thì kẻ đó trên mỗi bước đi sẽ không sao tránh khỏi,
vấp phải những vấn đề chung một cách không tự giác mà mù quáng vấp phải
những vấn đề đó trong từng trường hợp riêng, thì có nghĩa là đưa chính sách
của mình đến chỗ có những dao động tồi tệ nhất và mất tính nguyên tắc [25, tr.
bản và sự ra đời của chế độ xã hội mới: Xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mà giai
cấp công nhân là Người gánh vá sứ mệnh lịch sử đó. Nếu công lao Mác và Ăngghen đã
đưa ra những dự đoán thiên tài về một chế độ xã hội mới tốt đẹp thì Lênin bằng tài năng
vĩ đại của mình đã phát triển, vận dụng tư tưởng của Mác và Ăngghen vào thực tiễn nước
Nga và cách mạng xã hội chủ nghĩa đã nổ ra và thắng lợi. Thắng lợi của cách mạng tháng
Mười cùng với sức mạnh và tính ưu việt của Nhà nước công nông đầu tiên đã tạo ra điều
kiện khách quan, chỗ dựa vững chắc, nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với giai cấp vô sản và
nhân dân lao động trên khắp các châu lục trên con đường giải phóng dân tộc và tiến lên
xã hội chủ nghĩa.
Sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã đóng góp to lớn cho việc giữ gìn hòa
bình, bình đẳng và tiến bộ xã hội, làm nức lòng triệu triệu trái tim trên thế giới. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nói: "Giống như mặt trời chói lọi, cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp
năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất. Trong lịch
sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế" [5,
tr. 67].
Mặc dù hiện nay, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu tan vỡ và chủ nghĩa đi
vào thoái trào, nhưng đó chỉ là sự khủng hoảng trong sự trưởng thành, nhất định loài
người vẫn tiến lên chủ nghĩa xã hội, đó là qui luật phù hợp với dòng chảy lịch sử.
Sự kiên định và phát triển con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn cùng với
những thành công trong công cuộc đổi mới, cải cách ở Việt Nam và Trung Quốc đã càng
củng cố lòng tin của nhân loại đối với tính ưu việt và trường tồn của chủ nghĩa xã hội.
Trong những thập kỷ gần đây, chủ nghĩa tư bản đã có những điều chỉnh nào đó, do cuộc
đấu tranh của nhân dân lao động, do phải tồn tại bên cạnh hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện
thực, do tác động cuộc cách mạng khoa học, công nghệ... song xã hội đó vẫn không làm
thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa tư bản và lao động, giữa người bóc lột và người bị bóc
lột. ở đó, năng suất lao động càng cao thì bóc lột càng nhiều, đó là một sự thật hiển nhiên.
Việc thấm nhuần sâu sắc thế giới quan duy vật biện chứng sẽ giúp người cán bộ
nhận thức đúng bản chất của chủ nghĩa tư bản, các quy luật vận động khách quan của lịch
hoạt động nhận thức và thực tiễn tiếp theo.
Tổng kết thực tiễn là những kết luận chung được rút ra sau khi kết thúc, hoàn
thành xong một công việc nào đất. Trong đó người cán bộ phải thật khách quan, khoa học
khi đánh giá kết luận, tìm ra những nguyên nhân thành công và thất bại ở mỗi công việc.
Trên cơ sở ấy rút ra được những tri thức, hiểu biết mới tức là tri thức kinh nghiệm để
định hướng cho hoạt động thực tiễn tiếp theo.
Có thể nói, hoạt động của con người nói chung và người cán bộ lãnh đạo quản lý
nói riêng rất cần tri thức kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm đã giúp cho người cán bộ
trong thời gian qua giải quyết được nhiều vấn đề cụ thể, đơn giản đặc biệt là đối với đội
ngũ cán bộ cơ sở. Nhưng chỉ dừng lại ở tri thức kinh nghiệm thì sẽ lại khó tránh khỏi
lúng túng, bất lực thậm chí sai lầm khi giải quyết những vấn đề phức tạp trước yêu cầu
của thời kỳ mới. Muốn vậy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý khi giải quyết công việc phối
kết hợp nhuần nhuyễn, hợp lý giữa kinh nghiệm với lý luận khoa học, phải nắm vững
nguyên lý, yêu cầu của thế giới khách quan, phải nắm bắt thực tiễn những vấn đề cần
tổng kết, phân tích, tổng hợp, chắt lọc những thông tin cơ bản, chủ yếu để đút rút ra bài
học kinh nghiệm kết hợp với tri thức lý luận khoa học nhằm giải quyết công việc có hiệu
quả. Đó là nhiệm vụ thường xuyên mà người cán bộ lãnh đạo quản lý cần làm. Chỉ trên
cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng người cán bộ mới tổng kết thực tiễn đút rút kinh
nghiệm một cách khoa học, kịp thời phát hiện ra cái mới, cái tiến bộ và tạo điều kiện cho
chúng phát triển. Những kinh nghiệm được rút ra đó không chỉ phù hợp với thực tế khách
quan phong phú và đa dạng mà nó còn có tác dụng mạnh mẽ điều chỉnh bổ sung cho các
đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước nói chung và những chiến lược,
sách lược cho địa phương mình phụ trách nói riêng.
Thứ tư: Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ lãnh đạo, quản
lý trau dồi và nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng.
Thế giới quan duy tâm và phản động phản ánh sau lệch hiện thực khách quan, bảo vệ
lợi ích giai cấp bóc lột và đánh lạc hướng nhằm ngăn cản nhân dân lao động đấu tranh tự
giải phóng mình. Ngược lại, thế giới quan duy vật biện chứng phản ánh đúng đắn hiện thực
Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư.
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề đạo đức phải đặc biệt quan tâm, nhất là đối với
cán bộ, đảng viên. Chúng ta vui mừng trước những thành tựu đạt được trong công cuộc
đổi mới, tuy nhiên nền kinh tế thị trường, giao lưu mở cửa với bên ngoài thì mặt trái của
nó đang đặt ra những vấn đề đạo đức bức xúc, cần giải quyết. Nền văn minh hiện cũng
cần đạo đức tương ứng. Đạo đức ấy không tìm ở đâu khác, mà nền tảng của nó chính là là
học tập thế giới quan duy vật biện chứng và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đẩy lùi chủ
nghĩa cá nhân, bệnh kiêu ngạo, quan liêu, óc địa phương hẹp hòi, tham ô lãng phí, hiếu
danh, chạy theo đồng tiền, bất chấp nhân phẩm con người... phải có trách nhiệm với nhân
dân, với Tổ quốc, có như vậy mới được dân tin và lôi kéo họ vào sự nghiệp cách mạng.
Yêu cầu của thời kỳ mới ở nước ta đòi hỏi người cán bộ phải có phẩm chất đạo
đức và trình độ năng lực tương ứng. Việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện
chứng sẽ giúp cho người cán bộ tin tưởng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tin
vào sự nghiệp lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công nhân và sức mạnh của toàn dân, giúp
họ nâng cao năng lực nhận thức, hoạt động thực tiễn, đồng thời cũng hình thành ở họ
những phẩm chất đạo đức mới, nhằm thực hiện thắng lợi giai đoạn cách mạng mới đặt ra.
Muốn vậy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải học tập, nghiên cứu nguyên tắc, phương
pháp luận khoa học của thế giới quan duy vật biện chứng, đồng thời Đảng phải tăng
cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ.
1.2. Đặc điểm của thế giới quan của đội ngũ cán bộ tỉnh Hà Nam
1.2.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến thế giới quan của đội ngũ cán bộ ở Hà
Nam
1.2.1.1. ảnh hưởng của điều kiện địa lý, tự nhiên
Tự nhiên theo nghĩa rộng là toàn bộ thế giới vật chất khách quan. Xét về mặt tiến
hóa, con người có nguồn gốc tự nhiên, là sản phẩm và là sản phẩm cao nhất của quá trình
tiến hóa của thế giới vật chất. Chính môi trường tự nhiên là tiền đề cho sự tồn tại và phát
triển của con người. C.Mác khẳng định: "Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người",
"đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên" [31, tr. 135], hay nói
phương thức sản xuất nhỏ manh mún, cuộc sống bon chen đã tạo ra ở họ lối sống vị kỷ, cục
bộ địa phương gắn với tư duy bảo thủ, trì trệ, tư tuy kinh nghiệm phát triển... tất cả những
điều đó đã tác động không nhỏ đến việc hình thành, phát triển của thế giới quan của
người dân Hà Nam từ ngày xưa cho đến ngày nay.
1.2.1.2. ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội
Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, điều kiện địa lý và môi trường tự nhiên mới
chỉ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đời sống con người, còn yếu tố cơ bản quyết định là
phương thức sản xuất, hoạt động kinh tế của con người. Do vậy, việc nghiên cứu sự phát
triển kinh tế mà trước hết là trình độ của lực lượng sản xuất, trình độ phân công lao động
sẽ cho ta chìa khóa để hiểu được ý thức xã hội nói chung và thế giới quan ở người cán bộ
Hà Nam nói riêng.
Có thể nói, hàng trăm năm trước đây người dân Hà Nam chủ yếu làm nông
nghiệp, mặc dù có kết hợp đáng kể nghề thủ công và buôn bán nhỏ trong vùng. Đất nông
nghiệp được gọi là đồng chiêm trũng ấy chiếm khoảng 2/3% diện tích tự nhiên của tỉnh.
Đồng ruộng ở Hà Nam nằm sâu trong đất bùn, do các đồi núi và hệ thống đê đập che chở
nước phù sa ít nên những vùng đất này bị úng triền miên, màu đất thường đen hoặc nâu
nhạt, độ phì nhiêu kém, độ PH cao không thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp.
Vì vậy, vùng đất này được mệnh danh là "Sống ngâm da, chết ngâm xương". ở
mấy đình chùa ở Hà Nam người ta đã bắt gặp mấy câu thơ nói về vị trí quan trọng của
nghề nông: "Dĩ nông vi bản" (nông nghiệp là cái gốc bền vững của mỗi quốc gia và mọi
nhà).