HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN VN C
ĐảNG Bộ TỉNH THáI NGUYÊN
LãNH ĐạO PHáT TRIểN KINH Tế TƯ NHÂN
Từ NĂM 1997 ĐếN NĂM 2015
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: LCH S NG CNG SN VIT NAM
H NI - 2018
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN VN C
ĐảNG Bộ TỉNH THáI NGUYÊN
LãNH ĐạO PHáT TRIểN KINH Tế TƯ NHÂN
Từ NĂM 1997 ĐếN NĂM 2015
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: LCH S NG CNG SN VIT NAM
Mó s: 62 22 03 15
NGI HNG DN KHOA HC:
1. PGS, TS. Hong Th Kim Thanh
2. TS. ng Kim Oanh
H NI - 2018
nội dung luận án tập trung nghiên cứu
Chƣơng 2: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI
28
NGUYÊN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN TỪ NĂM 1997
ĐẾN NĂM 2005
2.1. Những nhân tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về
28
phát triển kinh tế tư nhân
2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
45
2.3. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
58
Chƣơng 3: ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT
76
TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015
3.1. Yêu cầu mới về phát triển kinh tế tư nhân và chủ trương của
152
PHỤ LỤC
169
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DNTN
: Doanh nghiệp tư nhân
KTTN
: Kinh tế tư nhân
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
1
2
đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện và thuận lợi hơn. Phương thức
quản lý của Nhà nước cũng được đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, KTTN ở Việt Nam
cũng đang bộc lộ những hạn chế, yếu kém chưa đáp được vai trò động lực của
nền kinh tế. KTTN phần lớn có quy mô nhỏ, cơ cấu ngành nghề còn bất hợp lý,
trình độ công nghệ lạc hậu, năng lực hội nhấp quốc tế còn hạn chế. Nhiều đơn vị
KTTN chưa thực hiện tốt quy định của pháp luật, trốn thuế, gian lận thương
mại, buôn bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, kinh doanh trái phép.
Thái Nguyên là tỉnh trung du, miền núi Bắc Bộ, có điều kiện tự nhiên xã hội thuận lợi để phát triển KTTN. Thực hiện chủ trương của Đảng về phát
triển KTTN, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã quán triệt và vận dụng linh hoạt
những chủ trương của Đảng vào điều kiện thực tiễn của địa phương nhằm
phát huy tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Nhờ đó, KTTN Thái Nguyên đã có
những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng tạo ra nhiều công ăn việc
làm cho người lao động, tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân; huy
động các nguồn lực đầu tư vào sản xuất, kinh doanh; đóng góp một phần
không nhỏ GDP vào ngân sách của tỉnh, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (CNH, HĐH).
Bên cạnh những kết quả đạt được, KTTN Thái Nguyên vẫn còn một
số hạn chế, yếu kém như: chưa phát huy hết những tiềm năng thế mạnh của
tỉnh; chạy theo lợi ích ngắn, hiệu quả kinh tế thấp, gây ô nhiễm môi trường;
trình độ công nghệ, năng lực cạnh tranh, chất lượng sản phẩm còn kém; tình
trạng vi phạm pháp luật, gian lận thương mại còn diễn ra phổ biến.
Trước tình hình thế giới có nhiều biến đổi, kinh tế Việt Nam ngày
càng hội nhập sâu rộng với quốc tế, việc nghiên cứu, đánh giá sự lãnh đạo của
đảng bộ các địa phương trong quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về
phát triển KTTN không chỉ góp phần chỉ ra những ưu điểm, hạn chế trong quá
trình chỉ đạo, đúc rút một số kinh nghiệm của Đảng bộ địa phương, mà còn
triển KTTN từ năm 1997 đến năm 2015.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Luận án giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu từ năm
1997 đến năm 2015, tức là qua 04 nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên: nhiệm kỳ XV (1997 - 2000), nhiệm kỳ XVI (2001 - 2005), nhiệm kỳ
XVII (2006 - 2010), nhiệm kỳ XVIII (2011 - 2015). Luận án lấy mốc thời
gian từ năm 1997 là năm tái lập tỉnh Thái Nguyên năm 2015 là năm kết thúc
nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII.
Về không gian: Luận án nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ
năm 1997 đến năm 2015 bao gồm 9 đơn vị hành chính: thành phố Thái
Nguyên, thành phố Sông Công, thị xã Phổ Yên, huyện Định Hóa, Võ Nhai,
Phú Lương, Phú Bình, Đồng Hỷ, Đại Từ.
Về nội dung nghiên cứu: Luận án nghiên cứu chủ trương và quá trình
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo phát triển KTTN từ năm 1997 đến năm
2015. Cụ thể ở các nội dung sau: ban hành các chủ trương, cơ chế, chỉ đạo tạo
mọi điều kiện thuận lợi để phát triển KTTN; công tác xây dựng, phát triển tổ
chức đảng trong các doanh nghiệp; phát triển nguồn lực (nhân lực và cơ sở
vật chất) cho phát triển KTTN; công tác kiểm tra, giám sát biểu dương khen
thưởng; phát triển KTTN: về số lượng, chất lượng, về vốn, lao động, ngành
nghề sản xuất kinh doanh.
4. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên lý luậ n của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của thành phần KTTN
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩ a xã hội.
Quan điểm của Đảng về phát triển thành phần KTTN trong thời kỳ đổi
mới, được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết Đại hội Đảng, nghị quyết
Luận án hệ thống hóa các quan điểm chủ trương của Đảng và Đảng bộ
tỉnh Thái Nguyên về phát triển KTTN. Qua đó, góp phần làm rõ nội dung,
phương thức, quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển KTTN
từ năm 1997 đến năm 2015.
Luận án cung cấp nguồn tư liệu về công tác lãnh đạo phát triển KTTN
ở địa phương, góp phần làm phong phú lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhấp quốc tế.
6
5.2. Đóng góp về thực tiễn
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy
và học tập tại các cơ sở đào tạo ở Thái Nguyên và khu vực miền núi Bắc Bộ.
Kết quả nghiên cứu của luận án giúp cho các cấp ủy đảng và chính
quyền trong tỉnh tham khảo, vận dụng vào thực tiễn lãnh đạo phát triển KTTN
ngày càng đảm bảo về số lượng và chất lượng.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận án gồm 4 chương, 9 tiết.
7
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Kinh tế tư nhân thời kỳ trước đổi mới là vấn đề khá nhạy cảm và phức
tạp cả về lý luận, thực tiễn. KTTN là thành phần kinh tế tồn tại lâu dài trong
lịch sử. Tuy nhiên, ở Việt Nam trước đổi mới KTTN không được chú trọng
đường lối đổi mới kinh tế ở Việt Nam. Ngoài ra, bài báo cũng xem xét, đề cập
đến việc thành lập các mô hình doanh nghiệp mới, bao gồm cả tác động của
đầu tư nước ngoài đối với khu vực KTTN trong nước.
Cuốn sách: Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, của Nguyễn Hữu Hải [50]. Công trình đã
chỉ rõ vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong phát triển kinh tế - xã hội,
thực trạng công tác quản lý các doanh nghiệp và đề xuất những cơ chế mới
nhằm quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách hợp lý, hiệu quả hơn.
Trần Thị Hạnh: Việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay [52], công trình đã đề cập đến những vấn đề chung
của KTTN, đặc điểm của thành phần KTTN ở nước ta hiện nay, đồng thời
đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực KTTN.
Công trình Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện
nay, của Nguyễn Hữu Thắng [94]. Tác giả đã trình bày quan điểm, phương
thức quản lý của nhà nước đối với KTTN, kinh nghiệm quản lý nhà nước đối
với KTTN của một số nước trên thế giới.
Phạm Thăng : Tiếp tục phát triển kinh tế tư nhân
bày khái quát quan điểm của Đảng về phát triển KTTN
[93], bài báo trình
, thực trạng và tiềm
năng, xu thế và giải pháp phát triển KTTN ở Việt Nam.
Phạm Thành Long: Kinh tế tư nhân thời kỳ phát triển mới [69], tác giả
đã trình bày sự phát triển của thành phần KTTN sau khi Luật Công ty được
thực hiện, vai trò của nó trong phát triển kinh tế - xã hội và những giải pháp
nhằm thúc đẩy phát triển KTTN.
9
10
với sự phát triển của nền kinh tế đất nước và đưa ra một số giải pháp để đẩy
mạnh phát triển KTTN trong thời gian tới
.
Công trình: Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân - lý
luận và chính sách, của Hà Huy Thành [95]. Tác giả đã đề cập đến những vấn
đề lý luận chung về thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân, tổng
quan thực trạng phát triển KTTN ở nước ta thời kỳ đổi mới. Đồng thời, công
trình nêu nên những quan điểm, chính sách và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy
sự phát triển của khu vực KTTN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Bài báo: Những lợi thế tương đối của kinh tế tư nhân trong cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, của Mai Tết [91].
Tác giả đã trình bày sự cần thiết phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
kinh tế, chỉ ra vị trí, vai trò của thành phần KTTN, nêu ra những thuận lợi của
KTTN và những hạn chế, yếu kém của KTTN. Từ đó, tác giả khẳng định cần
phải tạo môi trường thuận lợi hơn nữa cùng với những chủ trương, chính sách
hợp lý để KTTN ngày càng phát triển hơn.
Cuốn sách: Thành phần kinh tế tư tư bản tư nhân trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, của Nguyễn Thanh Tuyền [124]. Tác giả đã trình
bày có hệ thống khái niệm KTTN và lịch sử phát triển của thành phần KTTN
ở Việt Nam. Công trình cũng đánh giá vị trí, vai trò của thành phần KTTN
sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới và nêu ra những kiến nghị, các định
hướng và những giải pháp để phát triển KTTN trong tương lai.
Cuốn sách: Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư
nhân ở nước ta hiện nay, của Hồ Văn Vĩnh [176]. Công trình đã đề cập đến
những vấn đề lý luận chung về KTTN, chỉ ra được bản chất, vai trò của
KTTN trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước
ta và quản lý nhà nước đối với thành phần KTTN. Đồng thời, tác giả đã dành
nhiều nội dung để trình bày về thực trạng KTTN và quản lý nhà nước đối với
trường định hướng XHCN.
Bài báo: Xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay,
của Lương Đình Hải [51]. Tác giả đã chỉ rõ sự phát triển của KTTN sau gần
20 năm thực hiện đường lối đổi mới, những đóng góp của thành phần KTTN
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, tác giả đã chỉ ra những xu
hướng phát triển của KTTN ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
và hội nhập kinh tế quốc tế.
12
Nguyễn Lê Hoa: Một số vấn đề trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt
Nam [55]. Tác giả đã phân tích, chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong quá
trình phát triển KTTN Việt Nam, từ đó nêu ra những định hướng đối với sự
phát triển của KTTN.
Cuốn sách: Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập, của
Trịnh Thị Mai Hoa [56]. Công trình được chia thành ba phần chính: Phần thứ
nhất, đề cập đến những vấn đề chung của KTTN, việc phát triển KTTN trong
nền kinh tế nhiều thành phần và những điều kiện để phát triển KTTN ở Việt
Nam. Phần thứ hai tập trung đề cập đến việc phát triển KTTN trong quá trình
thúc đẩy phát triển kinh tế, tác giả đã làm nổi bật thành phần KTTN thời kỳ
trước đổi mới và trong thời kỳ đổi mới, cũng như nhận thức của Đảng về
thành phần KTTN. Đồng thời, công trình cũng đề cập đến những yếu tố thuận
lợi và khó khăn để KTTN Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.
Nguyễn Thị Thanh Hoài: Giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế tư
nhân ở Việt Nam [58]. Tác giả đã khái quát thực trạng KTTN ở Việt Nam, từ
đó đề ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy thành phần KTTN phát triển nhanh
hơn trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Bài viết: Kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân và chủ nghĩa xã hội, của
Nguyễn Tấn Hùng [60], tác giả trình bày mối quan hệ, vị trí, vai trò của
KTTN trong việc phát triển kinh tế thị trường. Cũng như phát triển kinh tế thị
hội đất nước, việc để đảng viên làm KTTN là nhằm phát huy năng lực, sức
sáng tạo thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra một số lưu
ý trong quá trình đảng viên được làm KTTN.
Công trình: Mấy suy nghĩ về Đảng viên làm kinh tế tư nhân, của Đàm
Kiến Lập [66]. Tác giả đề cập vấn đề thứ nhất, cho phép đảng viên làm KTTN
là cần thiết nhưng phải có điều kiện; thứ hai, căn cứ chủ yếu để xác định thực
chất sở hữu tư bản chủ nghĩa hay XHCN, để phân biệt KTTN tư bản chủ
nghĩa với kinh tế mang tính chất XHCN, suy đến cùng là ở chỗ ai được hưởng
lợi ích; thứ ba, chủ trương, chính sách cần động viên và cải tạo điều kiện cho
đảng viên làm KTTN theo định hướng XHCN.
14
Bài báo: Bàn thêm vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân, của Đỗ Thế
Tùng [122]. Tác giả đã đề cập đến vai trò của thành phần KTTN cũng như
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về KTTN và
đảng viên làm KTTN, từ đó tác giả đã nêu ra bốn quan điểm mà Đảng cần
phải cụ thể hóa trong việc cho phép đảng viên làm KTTN.
Bài viết: Mấy vấn đề phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam,
của Cao Sỹ Kiêm, Hoàng Hải [65]. Các tác giả đã nêu bật được vai trò của
doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từ đó đã
chỉ ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển trong
thời gian tới đó là: cần sớm xây dựng khung pháp lý chung cho các thành phần
kinh tế cùng bình đẳng và phát triển; ban hành Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu
tư, Luật Chống độc quyền...; lựa chọn lĩnh vực phát triển; hình thành các quỹ
hỗ trợ phát triển và giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao trình độ quản
lý, kỹ năng trong kinh doanh; đổi mới công nghệ và khai thác thị trường mới.
Cuốn sách: Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới - Thực
trạng và vấn đề, của Đinh Thị Thơm [98]. Công trình đề cập đến KTTN sau
hai thập niên đổi mới, những vấn đề lý luận về kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư
những vấn đề phát huy vai trò động lực của nó thúc đẩy tăng trưởng, phát
triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010, của Vũ Hùng Cường [29]. Bài
viết đã làm rõ hơn vai trò của khu vực KTTN trong nền kinh tế hiện đại, đồng
thời phân tích những rào cản phát triển đối với khu vực KTTN ở Việt Nam từ
năm 2001 đến năm 2010, từ đó đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm
phát huy hơn nữa vai trò động lực của khu vực KTTN để tạo ra những bước
đột phá về phát triển kinh tế trong giai đoạn tiếp theo.
Cuốn sách: Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam, của Nguyễn Kế Tuấn [119]. Công trình đã phân
tích sự phát triển nhận thức của Đảng về phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, nhấn mạnh vấn đề sở hữu tư nhân và vai trò của thành phần KTTN, các
loại hình của doanh nghiệp. Từ đó, tác giả đã nêu ra những giải pháp nhằm
đẩy mạnh phát triển các thành phần kinh tế, trong đó có KTTN.
16
Công trình: Đảng viên làm kinh tế t ư nhân, thực trạng và giải pháp ,
của Trần Nguyễn Tuyên [123]. Tác giả đánh giá khái quát thực trạng đảng
viên làm KTTN , đề xuất định hướng và giải pháp cần thiết nhằm đưa chính
sách, chủ trương của Đảng vào cuộc sống , đảm bảo đảng viên làm KTTN có
hiệu quả về phương diện kinh tế - xã hội cũng như đảm bảo các nguyên tắc
của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Đề tài: Quá trình hình thành quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về vai trò kinh tế tư nhân, của Trần Thị Bì nh [14]. Tác giả đã làm rõ quá trình
hình thành quan điểm của Đảng về phát triển KTTN từ năm
1986 đến năm
2010, những thành tựu, hạn chế và đưa ra một số giải pháp , kiến nghị để tiếp
tục phát triển KTTN ở Việt Nam.
sự nghiệp đổi mới, của Nguyễn Thị Hồng Mai [75]. Tác giả đã trình bày quá
trình đổi mới nhận thức của Đảng về thành phần KTTN, từ việc không thừa
nhận sự tồn tại, coi đây là thành phần kinh tế phải cải tạo hay "xóa bỏ" đến
việc thừa nhận và tạo điều kiện thuận lợi để KTTN phát triển, đề ra thể chế
bằng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tiếp đó, tác giả đề
cập đến quá trình thực hiện, thúc đẩy KTTN phát triển trên các lĩnh vực và
các cơ chế, chính sách. Từ đó, tác giả chỉ ra bốn kết quả đạt được trong quá
trình Đảng lãnh đạo phát triển KTTN từ năm 1986 đến năm 2015.
Những công trình khoa học trên đã phân tích, đánh giá quá trình hình
thành chủ trương, đường lối của Đảng về KTTN trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN. Kết quả nghiên cứu từ các đề tài giúp cho tác giả luận án
có thể tham khảo phục dựng lại một cách khách quan quá trình Đảng bộ tỉnh
Thái Nguyên lãnh đạo phát triển KTTN từ năm 1997 đến năm 2015. Từ đó,
rút ra những kinh nghiệm chủ yếu từ thực tiễn đưa KTTN của tỉnh ngày càng
phát triển hơn trong giai đoạn tiếp theo.
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế tƣ nhân ở các
địa phƣơng trong cả nƣớc
Đề tài: Kinh tế tư nhân ở thành phố Đà Nẵng
- thực trạng và giải
pháp, của Trần Văn Năm [77]. Tác giả đã làm rõ khái niệm về KTTN, các
loại hình của KTTN, sự cần thiết khách quan của KTTN ở Việt Nam cũng
18
như vai trò của KTTN đối với sự phát triển kinh tế ở Đà Nẵng. Qua đó phân
tích, trình bày có hệ thống quá trình hình thành, thực trạng phát triển của
KTTN, thực trạng về quản lý nhà nước đối với KTTN ở Đà Nẵng và nêu bật
những thành tựu, hạn chế, cùng những giải pháp để phát triển KTTN ở Đà
a Đảng trong lãnh đạo phát triển
KTTN, tổng kết một số kinh nghiệm và kiến nghị để tiếp tục phát triển KTTN
ở tỉnh Quảng Ngãi.
Đề tài: Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ
năm 2000 đến năm 2010, của Hoàng Nam Hưng [61]. Tác giả đã trình bày
khái quát những chủ trương của Đảng về phát triển KTTN thời kỳ đổi mới;
đồng thời làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An vận dụng những quan điểm
đó vào phát triển KTTN của tỉnh; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và kinh
nghiệm chủ yếu trong quá trình lãnh đạo phát triển KTTN.
Công trình: Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh
nghiệp tư nhân ở tỉnh Thừa Thiên - Huế, của Phạm Thị Thương [99]. Luận án
đã làm rõ quan niệm về lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNTN
dưới góc độ kinh tế chính trị. Phân tích, đánh giá thực trạng đảm bảo lợi ích
kinh tế của người lao động trong các DNTN ở tỉnh Thừa Thiên - Huế. Từ đó,
đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của
người lao động trong các DNTN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế trong
những năm tiếp theo.
Đề tài: Phát triển kinh tế tư nhân ở Thái Bình giai đoạn 2001 - 2010 và
giải pháp đến năm 2020, của Nguyễn Thị Luyến [73]. Công trình đã hệ thống
hóa những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về KTTN. Phân tích,
đánh giá thực trạng của KTTN ở Thái Bình trong quá trình chuyển đổi sang
kinh tế thị trường. Từ đó đề xuất những phương hướng và các giải pháp cụ thể
phát triển thành phần kinh tế này, trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2011 - 2020.
Công trình: Vai trò động lực của kinh tế tư nhân trong sự phát triển
kinh tế - xã hội ở Nghệ An hiện nay, của Trần Thị Bình [15]. Đề tài đã làm rõ
tính tất yếu của sự tồn tại và phát triển của khu vực KTTN cũng như vai trò
động lực của khu vực KTTN trong nền kinh tế thì trường định hướng XHCN.
Thực trạng vai trò động lực của khu vực KTTN đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở Nghệ An từ năm 2000 đến năm 2014. Từ những kết quả nghiên cứu,