LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG LÃNH đạo TĂNG CƯỜNG mối QUAN hệ GIỮA ĐẢNG với NHÂN dân từ năm 1986 đến năm 2006 - Pdf 42

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1: YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA

3

ĐẢNG VỀ TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA
ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996

12

1.1. Yêu cầu khách quan về tăng cường mối quan hệ giữa
Đảng với nhân dân

12

1.2. Chủ trương của Đảng về tăng cường mối quan hệ giữa
Đảng với nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996

30

Chương 2: ĐẢNG CHỈ ĐẠO TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ
GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN, THÀNH TỰU VÀ
KINH NGHIỆM

45

2.1. Đảng chỉ đạo tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với
nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996


Đảng nhanh chóng trưởng thành và lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác, làm nên cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đánh thắng các
cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hoàn thành sự
nghiệp giải phóng dân tộc, đưa cả nước đi lên xây dựng CNXH.
Những thành tựu vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong chặng đường tám
thập niên qua bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng. Quá
trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng ta rút ra bài học kinh
nghiệm quý báu có ý nghĩa sống còn và mang tính nguyên tắc là: mối quan hệ
máu thịt giữa Đảng và nhân dân là nguồn sức mạnh vô tận, là truyền thống vô
cùng quý báu của Đảng ta, là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng
lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đẩy mạnh công cuộc đổi mới
toàn diện đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Qua
hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa


4

lịch sử: đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh,
chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh vững chắc, quan hệ đối ngoại
được mở rộng. Bên cạnh những thời cơ và thuận lợi, nước ta còn đối mặt với
những khó khăn, thách thức lớn. Mặt trái của cơ chế thị trường tạo ra sự phân hoá
giàu nghèo trong nội bộ nhân dân dẫn đến sự biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội, các
hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối
sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm xói mòn quan hệ giữa
Đảng với nhân dân. Mặt khác, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược
“diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, lợi dụng các vấn đề phức tạp và
nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để phá hoại, chia rẽ mối quan hệ giữa
Đảng và nhân dân, làm suy giảm lòng tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của

hiện ở việc đẩy mạnh phong trào quần chúng thực hiện những nhiệm vụ cấp
bách gắn với việc đổi mới công tác quần chúng nhằm làm chuyển biến tình
hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước góp phần thắt chặt mối quan hệ
giữa Đảng và nhân dân.
Nông Đức Mạnh, Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Tạp chí Cộng sản, số 4 + 5 (2003).
Nguyễn Phú Trọng, Sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc,
Tạp chí Cộng sản, số 3 (2003). Lê Quang Đạo, Đại đoàn kết dân tộc - một
nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Tạp chí Lịch sử Đảng,
số 8 (2003). Nội dung xuyên suốt các bài viết trên tập trung làm rõ vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
nhằm phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp
đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Các bài viết cũng nêu bật vị trí, tầm quan trọng của khối đại đoàn kết
dân tộc, đồng thời nêu ra những chủ trương, giải pháp phát huy sức mạnh khối
đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Để xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả


6

các lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa quy chế dân chủ ở cơ sở đi vào cuộc sống,
thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra trong quá trình xây dựng,
hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách.
Vũ Oanh, Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, Nxb Sự
thật, Hà Nội, 1990. Cuốn sách gồm một số bài viết của đồng chí Vũ Oanh
giới thiệu Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám BCHTƯ Đảng khoá VI “Về đổi
mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và
nhân dân”. Các bài viết làm rõ sự cần thiết phải đổi mới công tác quần chúng
của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, tập trung phân

và nhân dân. Thực tiễn sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước
Đông Âu chỉ ra: một khi nhân dân thờ ơ và quay lưng lại với Đảng và Nhà
nước thì sự sụp đổ của một chế độ xã hội là khó tránh khỏi. Thực tiễn công
cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành
tựu quan trọng, tuy nhiên nước ta cũng đứng trước những nguy cơ, thách thức
lớn. Mặt khác, yêu cầu mới của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đặt ra
đòi hỏi Đảng phải tăng cường hơn nữa mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và
nhân dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì hạnh phúc
của nhân dân.
Hai là, những giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay. Các công trình đưa ra
hệ thống các giải pháp: Đảng phải xây dựng đường lối, chủ trương, chính
sách phù hợp với lợi ích, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ mới để tăng
cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Cải cách hành chính sâu rộng
phục vụ sự nghiệp đổi mới kinh tế, đảm bảo sự chủ động hội nhập phục vụ
đắc lực sự nghiệp CNH, HĐH. Đổi mới công tác vận động nhân dân trong
tình hình hiện nay. Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với giai cấp công
nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức trong giai đoạn cách mạng hiện nay.


8

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của thanh niên, phụ nữ
trong sự nghiệp đổi mới. Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảm bảo vai trò của
thông tin đại chúng và nắm bắt dư luận xã hội trong xây dựng Đảng hiện
nay...
Nhóm các luận văn, luận án đã bảo vệ như: Luận văn thạc sĩ lịch sử
của Trần Đình Định (1999) Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn

Nhóm các bài báo đăng tải trên các tạp chí, tiêu biểu là:
TS Đoàn Thế Hanh, Quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền với dân trong
tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 1 (2003). Trần Quang
Nhiếp, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp
cách mạng, Tạp chí Cộng sản, số 31 (2003). Các bài viết khẳng định Hồ
Chí Minh đã kế thừa lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa
Đảng và nhân dân trong sự nghiệp cách mạng và nâng lên một tầm cao
mới. Đồng thời trình bày nội dung chủ yếu tư tưởng Hồ Chí Minh về mối
quan hệ giữa Đảng và nhân dân cùng sự vận dụng của Đảng ta trong công
cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay.
PGS, TS Trần Hậu, Những biểu hiện sinh động về chính sách đại đoàn
kết dân tộc đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11
(2007). PGS, TS Đoàn Ngọc Hải, Quán triệt quan điểm của Đảng về xây
dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn mới, Tạp chí
Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 4 (2003). Các bài viết tập trung nhấn
mạnh đại đoàn kết dân tộc là đường lối nhất quán của Đảng Cộng sản Việt
Nam từ ngày thành lập đến nay, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu trong
chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hiện nay. Đại đoàn kết dân tộc thực sự là nhân tố có ý nghĩa quyết
định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Các bài
viết luận giải, phân tích quan điểm của Đảng về xây dựng khối đại đoàn kết


10

dân tộc trong giai đoạn mới. Trên cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân
tộc để không ngừng củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.
Dương Quốc Dũng, Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở
liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí
thức, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 63 (2000). Nguyễn Quang

cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong 10 năm đầu đổi mới.
Đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, rút ra một số kinh
nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với
nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996 vận dụng tăng cường mối quan hệ giữa
Đảng với nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
4- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo tăng cường
mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong 10 năm đầu đổi mới (1986- 1996).
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về
tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.
- Về thời gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu từ năm 1986 đến năm 1996.
- Về không gian: Trên phạm vi cả nước.
5- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng
về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử,
phương pháp lôgíc và sự kết hợp hai phương pháp này, đồng thời còn sử dụng các
phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh... trong từng nội dung cụ thể.
6- Ý nghĩa của luận văn


12

Thành công của luận văn góp phần làm sáng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo
của Đảng trong quá trình lãnh đạo tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với
nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996.
Những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn tăng cường mối quan hệ giữa Đảng
với nhân dân trong 10 năm đầu đổi mới sẽ góp phần tăng cường hơn nữa mối

nhân mà còn đại biểu cho quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động bởi vì giai
cấp công nhân chỉ có thể tự giải phóng được mình nếu đồng thời giải phóng
cho các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội thoát khỏi áp bức bóc lột.
Quần chúng nhân dân có vai trò to lớn trong lịch sử, song quần chúng nhân dân
phải được tổ chức chặt chẽ, đặt dưới sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp
công nhân mới phát huy được sức mạnh của mình. Liên hệ chặt chẽ giữa Đảng
và quần chúng nhân dân là nguồn sức mạnh to lớn của Đảng, là quy luật tồn tại
của các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế. Trong sự nghiệp đấu tranh
chống giai cấp tư sản, giải phóng giai cấp và nhân loại, xây dựng xã hội mới,
Đảng Cộng sản phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân, coi đó là điều
kiện cơ bản bảo đảm thắng lợi của cách mạng vô sản. C.Mác và Ph. Ăngghen
đòi hỏi Đảng Cộng sản, đội tiên phong cách mạng của giai cấp công nhân phải
được vũ trang bằng lý luận tiên tiến, có trình độ giác ngộ cao, đồng thời trong
thực tiễn, Đảng là người kiên quyết nhất và biết lôi cuốn quần chúng hành
động.
V.I.Lênin đã kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.
Ăngghen về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong thời kỳ CNTB phát
triển thành chủ nghĩa đế quốc. V.I.Lênin nhấn mạnh cách mạng là sự nghiệp
của quần chúng nhân dân, Đảng là tổ chức tự nguyện đấu tranh vì sự nghiệp
giải phóng quần chúng khỏi ách áp bức và bóc lột. Quần chúng cần có Đảng
với tư cách là người lãnh đạo họ trong cuộc đấu tranh ấy. Nếu không có sự
đồng tình và ủng hộ của quần chúng thì mọi đường lối, chủ trương của Đảng


14

không thể trở thành hiện thực. V.I.Lênin coi sự đồng tình và ủng hộ của các
tầng lớp nhân dân là điều kiện và mục tiêu hoạt động của giai cấp vô sản:
Không có sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động
đối với đội tiên phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản, thì

luôn chăm lo xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng, đó là
một nguyên tắc đối với việc xây dựng một chính đảng kiểu mới của giai cấp
công nhân. Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan hệ biện chứng,
tin cậy, tín nhiệm lẫn nhau. V.I.Lênin chỉ rõ:
Đội tiên phong chỉ làm tròn sứ mệnh của nó khi nó biết gắn bó với quần
chúng mà nó lãnh đạo và thực sự dẫn dắt tập thể quần chúng tiến lên. Nếu
không liên minh với những người không phải là đảng viên cộng sản trong
các lĩnh vực hoạt động hết sức khác nhau thì không thể nói tới một thành
công nào trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản cả [32, tr.28].
V.I.Lênin nhiều lần chỉ ra nguy cơ xa rời quần chúng đối với một đảng cầm
quyền: đối với Đảng Cộng sản thì một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng
sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng, đó là một tai họa thực sự. Đảng Cộng
sản liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, một trong những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng chính đảng của giai cấp công nhân. Mối
quan hệ giữa Đảng Cộng sản với quần chúng nhân dân là mối quan hệ bản chất
quyết định đến toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, ảnh hưởng tới sự thành bại
của cách mạng, sự mất còn của chế độ, vận mệnh của Đảng và dân tộc. Vận dụng
sáng tạo và phát triển nguyên lý này là yêu cầu khách quan đối với các Đảng
Cộng sản, đòi hỏi các Đảng Cộng sản phải thể hiện bản lĩnh chính trị, năng lực trí
tuệ và sự sáng tạo trong việc phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân tham
gia xây dựng CNXH, qua đó xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt.
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
Ngay từ đầu và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn quan tâm đặt biệt đến quần chúng nhân dân lao động, bản thân


16

Người là tấm gương và biểu tượng cao đẹp của mối quan hệ giữa Đảng với
nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc

chính là điểm xuất phát và cũng là nội dung và mục tiêu phấn đấu của Đảng
ta. Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định rằng Đảng ta không có lợi ích nào
khác ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, rằng Đảng chỉ mưu
giải phóng cho dân nên mọi việc đều vì lợi ích của dân mà làm và chịu trách
nhiệm trước dân. Đặc biệt là khi Đảng ta đã trở thành đảng cầm quyền, Hồ
Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng phải luôn luôn nhớ
rằng mình là “đầy tớ” của nhân dân chứ không phải là “quan” của dân. Trong
Di chúc lịch sử của Người, một lần nữa Hồ Chí Minh khẳng định:
Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự
thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo,
là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân [42, tr. 510].
Đây là một luận điểm mới mẻ, sáng tạo của Hồ Chí Minh, một đóng góp
quan trọng vào lý luận xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Luận
điểm này chỉ rõ cái bản chất nhất trong mối quan hệ giữa đảng cầm quyền với
nhân dân: dân là chủ, Đảng là “đầy tớ” nghĩa là Đảng phải trung thành và tận
tụy phục vụ nhân dân. Trong vai trò của Đảng đối với dân, cái chung của
người lãnh đạo và của người đầy tớ là vì dân, phục vụ nhân dân. Chính vì vậy
mà Hồ Chí Minh đã đồng nhất vai trò của Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là
người đầy tớ của nhân dân.
Liên hệ với quần chúng, chăm lo củng cố, hoàn thiện mối quan hệ giữa
Đảng với nhân dân là mối quan tâm thường xuyên của Hồ Chí Minh. Giữ
vững và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là một quá trình
liên tục, bền bỉ phấn đấu của Đảng, là sự tác động qua lại giữa Đảng và nhân
dân. Trong mối quan hệ đó, Đảng có trách nhiệm chính, Đảng phải chủ động
liên hệ mật thiết với quần chúng, kiên quyết giữ vững liên minh công nông


18



1.1.2. Thực trạng quá trình Đảng lãnh đạo giải quyết mối quan hệ giữa Đảng
với nhân dân thời kỳ trước đổi mới
Đảng ta ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng
Việt Nam luôn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về vai trò của quần chúng nhân dân, về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân để
đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng
dân tộc. Những thắng lợi mà Đảng và nhân dân ta giành được trong cuộc đấu
tranh giành độc lập dân tộc và giải phóng đất nước là kết tinh cao nhất, là biểu
hiện sinh động nhất của mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân.
Sau khi giành được độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, Đảng lãnh đạo
nhân dân ta bước vào công cuộc xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước. Cách mạng
nước ta có những nhân tố thuận lợi mới nhưng cũng đang đứng trước nhiều khó khăn
gay gắt. Từ điểm xuất phát thấp về kinh tế, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh
lâu dài, nhân dân ta vừa phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và
bảo vệ Tổ quốc XHCN, vừa làm nghĩa vụ quốc tế. Đồng thời, phải đáp ứng cùng một
lúc những yêu cầu vừa cơ bản, vừa cấp bách là ổn định và cải thiện đời sống nhân
dân, tích lũy để xây dựng CNXH và củng cố quốc phòng.
Qua 10 năm cả nước quá độ lên CNXH, bên cạnh một số thành tựu đạt
được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhìn chung mối quan hệ giữa
Đảng và nhân dân thời kỳ 1976-1985 bộc lộ nhiều hạn chế, thậm chí có lúc, có
nơi có biểu hiện lỏng lẻo và rạn nứt, tình trạng mất dân chủ diễn ra ở nhiều nơi,
nhiều cấp, đặc biệt ở cấp cơ sở, quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm, cơ chế
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ chưa được thực
hiện có nền nếp với quy chế đồng bộ, thống nhất. Niềm tin của nhân dân đối với
sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành, quản lý của Nhà nước bị giảm sút nghiêm


20


Hai là, tỡnh trạng quan liờu húa, xa dõn và sự giảm sỳt vai trũ lónh đạo của
các cấp ủy đảng và tổ chức đảng.
Sau khi trở thành đảng cầm quyền lónh đạo nhân dân xây dựng CNXH trên
cả nước, do yêu cầu quản lý và xõy dựng đất nước Đảng phải có phương thức
lónh đạo mới nhưng Đảng vẫn giữ nguyên phương thức lónh đạo mang tính
hành chính, mệnh lệnh, bao biện, làm thay Nhà nước nên bộ máy của Đảng trở
nên cồng kềnh, tạo nờn nhiều tầng nấc trung gian và chồng chéo với bộ máy của
Nhà nước. Điều đó dẫn đến sự cách trở giữa cơ quan lónh đạo của Đảng với dân,
làm cho Nhà nước vừa mất chức năng quản lý, vừa ỷ lại, quan liờu húa, xa dõn
dẫn đến Đảng ngày càng xa dân.
Trong lĩnh vực kinh tế, sự lónh đạo theo kế hoạch hóa tập trung chạy theo
chỉ tiêu pháp lệnh đó định sẵn không xuất phát từ điều kiện, khả năng thực tế,
không quan tâm tới người lao động đó làm nảy sinh thỏi độ thờ ơ của người lao
động với các chủ trương kinh tế của Đảng và Nhà nước, từ đó tạo nên một khoảng
cách lớn giữa ý Đảng và lũng dõn. Kết quả là Đảng không hiểu tâm tư, nguyện
vọng của nhân dân, cũn nhõn dõn thỡ khụng thiết tha, gắn bú, thiếu tin tưởng vào
sự lónh đạo của Đảng. Điều đó tất yếu dẫn đến những chủ trương, chính sách xa
thực tế, không hợp lũng dõn, khụng được sự đồng tỡnh, ủng hộ của nhõn dõn.
Không chỉ riêng cơ quan lónh đạo của Đảng xa dân mà ngay tổ chức cơ sở
đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở cũng xa cách nhân dân.
Nội dung, phương thức lónh đạo không được đổi mới dẫn đến vai trũ cỏc tổ
chức đảng không được phát huy, sức chiến đấu giảm sút, tổ chức đảng không trở
thành cầu nối giữa Đảng với nhân dân. Thêm vào đó, khuynh hướng phổ biến
coi nhẹ vai trũ và trỏch nhiệm của tổ chức đảng so với các cơ quan Nhà nước và
các tổ chức kinh tế đó đặt tổ chức đảng vào vị thế thứ yếu trong đời sống kinh tế
- xó hội. Ngoài ra, tỡnh trạng chậm thể chế húa cỏc văn bản hướng dẫn và nội
dung cụng tỏc lónh đạo đó gõy ra khụng ớt khú khăn, lúng túng cho công tác vận
động quần chúng của Đảng. Sự hạn chế về năng lực, trỡnh độ và vai trũ của bớ


tỡm kiếm và lợi dụng những kẽ hở trong chủ trương, chính sách của Đảng, pháp


23

luật của Nhà nước để làm giàu bất chính đang diễn ra khá phổ biến nhưng chưa
được xử lý kịp thời. Mười năm sau khi cả nước thống nhất, quỏ độ lờn CNXH
(1976 - 1986) trờn 19 vạn đảng viờn khụng đủ tư cỏch đó bị đưa ra khỏi Đảng.
Sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên không những làm
hỏng đội ngũ đảng viên mà qua đó cũn làm suy yếu bộ máy Đảng, bộ máy Nhà
nước, làm rối loạn trật tự kỷ cương, đạo đức xó hội gõy tỏc hại đến uy tín, thanh danh
của Đảng, cản trở việc tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, làm mất lũng tin của
nhõn dõn vào Đảng, nghiêm trọng hơn là tạo cơ hội để các thế lực thù địch xuyên tạc,
phá hoại, chia rẽ dẫn đến phá vỡ mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân.
Việc nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng
viên và xây dựng Đảng ngang tầm đũi hỏi thời kỳ mới là nhiệm vụ then chốt, cú
ý nghĩa quyết định tới thắng lợi của sự nghiệp đổi mới sau này.
Bốn là, công tác quần chúng của Đảng cũn nhiều yếu kộm, tỡnh hỡnh mất
đoàn kết trong nội bộ Đảng cũn diễn ra ở nhiều nơi.
Trong thời gian qua, công tác quần chúng của Đảng đó được nhiều nơi chú
ý hơn, gắn công tác xây dựng Đảng với củng cố Mặt trận và các đoàn thể nhân
dân, phân công đảng viên làm công tác quần chúng. Tuy nhiên, công tác quần
chúng của Đảng cũn bộc lộ nhiều yếu kộm thể hiện rừ nhất là nhiều cấp ủy cũn
lỳng tỳng trong chỉ đạo công tác vận động quần chúng. Nhiều tổ chức quần
chúng của Đảng trước đây làm tốt công tác vận động quần chúng như đoàn
thanh niên, hội phụ nữ... thỡ nay đang tỏ ra bất cập về khả năng thu hút đoàn
viên, hội viờn của mỡnh do cỏc tổ chức đó không thỏa món được nguyện vọng
và đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân. Đáng lo ngại là những địa
bàn tập trung đông dân cư như làng, xó, phường cỏc tổ chức đoàn thanh niên,
hội phụ nữ trở thành hỡnh thức, thiếu nội dung để hoạt động. Nhiều đảng viên

dân ta kiên trỡ cuộc đấu tranh chống đế quốc, tay sai không quản hy sinh gian
khổ, nhưng chỉ đến khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lónh đạo thỡ khỏt vọng
độc lập dân tộc và CNXH mới trở thành hiện thực. Có độc lập dân tộc nhưng


25

không đi lên CNXH thỡ nền độc lập đó không được bền vững vỡ chỉ đi lên
CNXH thỡ mới xoỏ bỏ được chế độ áp bức bóc lột, mới có điều kiện đem lại
ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam là
bộ phận ưu tú của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Sự ra đời, tồn
tại và phát triển của Đảng là nhu cầu khách quan vỡ sự nghiệp giải phúng dõn
tộc, vỡ hạnh phỳc của nhõn dõn, ngoài lợi ớch của Tổ quốc, của nhõn dõn,
của dõn tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Trong những bước ngoặt của
lịch sử, Đảng ta luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, trách nhiệm to lớn
trước nhõn dõn và vận mệnh của dân tộc. Mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và
nhân dân là nền tảng vững chắc không gỡ phỏ vỡ được tạo nên sức mạnh vô
địch đưa sự nghiệp cỏch mạng đến thắng lợi. Chớnh vỡ cú sự thống nhất đó
mà nhân dân ta đó tin tưởng vào sự lónh đạo của Đảng, một lũng một dạ
chiến đấu, hy sinh vỡ độc lập tự do dưới lá cờ vẻ vang của Đảng. Cũn Đảng
coi nhân dân là chỗ dựa vững chắc, là nguồn trí tuệ và sức sáng tạo vô tận cho
mỡnh.
Nhân dân là lực lượng cơ bản có sức mạnh to lớn để đưa đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng vào thực tiễn cuộc sống, những sáng kiến,
nguyện vọng của nhân dân là cơ sở, nguồn gốc, là những gợi ý để Đảng xây
dựng, hoàn thiện và điều chỉnh chủ trương, chính sỏch cho phự hợp với thực
tiễn vỡ lợi ớch của nhõn dõn. Khi những sỏng kiến, nguyện vọng chính đáng
của nhân dân được Đảng nâng lên thành đường lối, chính sách thỡ chớnh
nhõn dõn lại là lực lượng thực hiện đưa đường lối vào thực tiễn cuộc sống và
tỡm ra biện phỏp thực hiện đạt hiệu quả cao nhất. Thông qua việc thực hiện

kinh tế - xó hội cho việc phỏt triển lực lượng sản xuất, củng cố và hoàn thiện
quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN, phát huy tối đa tiềm năng, sức
mạnh và quyền làm chủ của nhân dân dưới sự lónh đạo của Đảng, sự quản lý,
điều hành của Nhà nước để đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước đem lại
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status