Đề bài: Em hãy tìm hiểu rõ mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại theo tư tưởng Hồ Chí Minh.Để thực hiện tốt điều này,
Hồ chủ tịch và Đảng đã giải quyết trong suốt tiến trình cách mạng Việt
Nam như thế nào?
TÓM TẮT NỘI DUNG BÀI VIẾT
I.Hồ Chí Minh và mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
trong tư tưởng của Người.
1. Tiểu sử Hồ Chí Minh và quá trình hoạt động cách mạng.
2.Hoàn cảnh ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh.
2.1.Tình hình thế giới.
2.2. Hoàn cảnh Việt Nam.
3.Nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh.
3.1.Truyền thống,lịch sử,văn hóa của dân tộc Việt Nam.
3.2.Tinh hoa văn hóa nhân loại.
4.Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại.
II.Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.
1.Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô sản thế giới.
1.1.Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời.
1.2.Cuộc vận động dân chủ 1936-193
1.3. cuộc tổng khởi nghĩa dành chính quyền vào tháng 8-1945 của nước ta.
2.Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế
trong sáng.
1
3. Giữ vững độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ
của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời
trong một gia đình nho học. Bà là một phụ nữ thông minh, cần cù chịu khó,
thương yêu chồng con và giàu lòng nhân ái. Bằng nghề làm ruộng và dệt vải
bà đã hết lòng chǎm lo cho chồng và các con. Cuộc đời của bà tuy ngắn ngủi
nhưng đã để lại hình ảnh về một phụ nữ Việt Nam sống có tình nghĩa và có
3
ảnh hưởng rất lớn tới tư cách của các con mình. Bà Hoàng Thị Loan qua đời
tại Huế nǎm 1901, lúc 33 tuổi.
Chị gái Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn Thị Thanh, sinh nǎm 1884. Chị
đã tham gia nhiều phong trào yêu nước, nhiều lần bị thực dân Pháp và triều
đình phong kiến bắt giam. Nguyễn Thị Thanh qua đời tại quê hương nǎm
1954, thọ 70 tuổi.
Anh trai Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Khiêm, sinh nǎm 1888.
Từ tuổi thanh niên,Nguyễn Sinh Khiêm đã đi nhiều nơi truyền thụ kiến thức,
mở mang vǎn hoá. Do tham gia các hoạt động yêu nước chống thực dân và
phong kiến nên Nguyễn Sinh Khiêm đã từng bị tù đày nhiều nǎm. Nguyễn
Sinh Khiêm qua đời nǎm 1950, thọ 62 tuổi.
Với tinh thần yêu nước nồng nàn, với sự sáng suốt về chính trị, Nguyễn
Tất Thành đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các
phong trào yêu nước hồi bấy giờ và quyết tâm đi tìm con đường đúng đắn để
cứu dân, cứu nước.
Tháng 6/1911, Người ra nước ngoài, đi đến nước Pháp và nhiều nước châu
Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Người hòa mình với những côngnhân và
những người dân thuộc địa, vừa lao động để sống, vừa học tập, nghiên cứu
các học thuyết cách mạng. Năm 1917, thắng lợi vang dội của cách mạng
tháng Mười Nga đã đưa Hồ Chủ tịch đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Ra sức
nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã nhận rõ đường lối duy nhất
đúng đắn để giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.
của Quốc tế Cộng sản, đồng thời theo dõi sát phong trào cách mạng trong
5
nước và có những chị thị quý báu cho Ban chấp hành Trung ương Đảng ta.
Năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài Người về nước triệu tâp hội
nghị n thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối
đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là Việt
Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), gấp rút xây dựng lực lượng, đẩy mạnh
phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa
giành chính quyền trong cả nước.
Ngày 22/12/1944, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải
phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay và xây
dựng căn cứ địa cách mạng.
Tháng 8/1945, trong không khí sôi sục cách mạng của thời kỳ tiền khởi
nghĩa, Người cùng Trung ương triệu tập đại hội quốc dân ở Tân Trào. Đại
hội đã cử Người làm chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân
chủ Cộng hòa. Người đã phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong
cả nước. Ngày 2/9/1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước nhân dân
cả nước và nhân dân toàn thế giới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa, Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.
Trong những ngày đầu cách mạng, nước ta có nhiều khó khăn chồng chất và
bị bao vây bốn phía. Nạn đói do phát xít Nhật - Pháp gây ra đã giết hại hơn
hai triệu người Việt Nam. Tháng 9/1945 câu kết với các đế quốc Mỹ, Anh và
bọn phản động Quốc dân Đảng Trung Quốc, thực dân Pháp trở lại xâm lược
nước ta một lần nữa, âm mưu xóa bỏ mọi thành quả của Cách mạng tháng
Tám.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn
dân ra vừa đánh trả bọn thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, vừa đối phó
với bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc.
Cuộc họp lần thứ 24, năm 1987 tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của
7
liên hợp quốc UNESCO ra nghị quyết về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ
tịch Hồ Chí Minh "Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và là một nhà
văn hóa lớn"
2.Hoàn cảnh ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh.
2.1.Tình hình thế giới
Giữa thế kỷ 19, Chủ nghĩa Tư bản từ tự do cạnh tranh đã phát triển sang
giai đoạn Đế quốc Chủ Nghĩa, xâm lược nhiều thuộc địa (10 Đế quốc lớn
Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan... dân số:
320.000.000 người, diện tích: 11.407.000 km2).
Bên cạnh mâu thuẫn vốn có là mâu thuẫn giữa Tư sản và Vô sản, làm nảy
sinh mâu thuẫn mới là mâu thuẫn giữa các nuớc thuộc địa và các nước Chủ
nghĩa Đế quốc, phong trào giải phóng dân tộc dâng lên mạnh mẽ nhưng
chưa ở đâu giành được thắng lợi.
Chủ Nghĩa Tư bản phát triển không đều, một số nước Tư bản gây chiến
tranh chia lại thuộc địa làm đại chiến Thế giới 2 nổ ra, Chủ Nghĩa Đế Quốc
suy yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho Cách Mạng Tháng 10 nổ ra và thành
công, mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ Chủ Nghĩa Tư Bản lên Chủ
Nghĩa Xã Hội, làm phát sinh mâu thuẫn mới giữa Chủ Nghĩa Tư Bản và Chủ
Nghĩa Xã hội.
Cách mạng Tháng 10 và sự ra đời của Liên Xô, của quốc tế 3 tạo điều kiện
tiền đề cho đẩy mạnh Cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa phát
triển theo xu hướng và tính chất mới.
8
Trần Quý Cáp, Nguyễn Hằng Chi lãnh tụ phong trào Duy Tân ở miền Tây bị
chém đầu... Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng
Nguyên Cần bị đày ra Côn Đảo,... Tình hình đen tối như không có đường
ra.
Trước bế tắc của Cách Mạng Việt Nam và bối cảnh thế giới đó, Nguyễn Tất
Thành tìm đường cứu nước, từng bước hình thành tư tưởng của mình, đáp
ứng những đòi hỏi bức xúc của dân tộc và thời đại.
3.Nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh.
3.1.Truyền thống,lịch sử,văn hóa của dân tộc Việt Nam
Là người con ưu tú nhất của dân tộc, Tư tưởng HCM bắt nguồn trước hết
từ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc; quê hương gia đình.
Chủ Nghĩa yêu nước Việt Nam: Tinh thần anh hùng bất khuất trong công
cuộc dựng nước và giữ nước là dòng chảy xuyên suốt lịch sử, là nhân tố
đứng đầu, là giá trị tinh thần con người Việt Nam, là đạo lý làm người, là
niềm tự hào dân tộc, là bản sắc văn hóa tạo thành động lực, thành sức mạnh
tồn tại và phát triển của dân tộc suốt 4000 năm. HCM khẳng định: "Dân tộc
ta có một lòng yêu nước nồng nàn, đó là truyền thống quý báu của ta. Từ
xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết
10
thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm,
khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước".
Truyền thống đoàn kết tương thân tương ái: Nhân nghĩa, thủy chung, cưu
mang đùm bọc, lá lành đùm lá rách,... truyền thống này bắt nguồn từ yêu cầu
chống thiên tai thường xuyên của dân tộc. Kế thừa nâng cao truyền thống
này trong quá trình Cách mạng, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu cán bộ, Đảng
viên, Nhân dân ta phải thực hiện bốn chữ: Đồng lòng, Đồng sức, Đồng tình,
Đồng minh.
dân, có lòng thương dân sâu sắc, ông chủ trương dựa vào dân để thực hiện
mọi cải cách Chính trị, xã hội, thường xuyên trăn trở con đường cứu nước,
cứu dân, luôn liên hệ với Phan Bội Châu, Nguyễn Thiệu Quý, Trần Thâu, ...
những người có tư tưởng yêu nước mưu đại sự.
Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu sắc lòng vị tha, nhân hậu, thủy chung cần
mẫn của người mẹ, tình yêu thương nhân hậu sâu nặng của ông bà ngoại,...
Tất cả những nhân cách gần gủi, thân thương đó là tác động mạnh mẽ tới
việc hình thành nhân cách Hồ Chí Minh từ tấm bé.
3.2.Tinh hoa văn hóa nhân loại
12
Tinh hoa văn hóa phương Đông: Trước hết là Nho giáo: Hồ Chí Minh coi
trọng kế thừa và phát triển những mặt tích cực của Nho giáo. Đó là thứ triết
học hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời, triết lý nhân sinh: tu
thân, dưỡng tính, đề cao văn hóa, đạo đức, lễ giáo, nhân nghĩa, Trí, Tín, Cần,
Kiệm, Liêm, Chính. Người phê phán những hạn chế, tiêu cực của Nho giáo
như tư tưởng đẳng cấp, quân tử, tiểu nhân, chính danh định phận, coi khinh
phụ nữ, lao động chân tay, thuế nghiệp doanh lợi,...
Với Phật giáo, người tiếp thu tư tưởng vị tha, chân, thiện, từ bi, cứu nạn, cứu
khổ, thương người như thể thương thân, lối sống đạo đức, trong sạch giản dị,
chăm làm điều thiện (không nói dối, không tà dâm, không sát sinh, không
trộm cắp, không uống rượu,...)
Phật giáo Thiền tông vào Việt Nam đề ra luật chấp tác: Nhất nhật bất tác,
nhất nhật bất thực, thiền phái Trúc Lâm Việt Nam chủ trương nhập thế gắn
với dân chống kẻ thù xâm lược.
Người tiếp thu lòng nhân ái, hi sinh cao cả của Thiên chúa giáo.
Người tiếp thu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn (dân tộc độc lập, dân
quyền tự do, dân sinh hạnh phúc)
Người viết:
4.4. Mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng làm bạn với tất cả
mọi nước dân chủ.
II.Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.
1.Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô sản thế giới.
1.1Đầu tiên đó là việc ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam,điều đó có ý
nghĩa hết sức quan trọng:
Trong năm 1929, ở nước ta có ba tổ chức cộng sản ra đời và hoạt động
riêng lẽ, công kích lẫn nhau, tranh giành ảnh hưởng của nhau, gây trở ngại
cho phong trào cách mạng. Do đó, yêu cầu cấp thiết của cách mạng Việt
Nam là phải có một đảng thống nhất trong cả nước.
- Quốc tế Cộng sản chỉ thị cho những người cộng sản Đông Dương thực
hiện yêu cầu đó, nên Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập hội nghị thống nhất Đảng
tại Cửu Long ( Hương Cảng )
Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị, họp từ 3-2 đến 7-2-1930, đã thảo luận và
đi đến quyết định :
- Thống nhất các tổ chức Cộng sản thành một đảng duy nhất lấy tên Đảng
Cộng sản Việt Nam.
- Thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ( chính cương và sách
lược vắn tắt ) do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.
- Bầu Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang ý nghĩa lịch sử như
là Đại hội thành lập Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3-2-1930 ( tháng 10-1930 lấy tên là
Đảng Cộng sản Đông Dương ) là kết quả tất yếu của nhu cầu lịch sử của
cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp trong thời đại mới. Đảng là sản
15
tiến bộ.
Tình hình Việt Nam:-Chính sách thuộc địa của Pháp ở Việt Nam có một số
thay đổi (nới rộng một số quyền tự do dân chủ, thả nhiều tù chính trị, lập uỷ
ban điều tra tình hình thuộc địa, thi hành một số cải cách)Thuận lợi cho cách
mạng.
Các hoạt động chính:
*Phong trào Đông Dương đại hội:
- Đảng phát động tổ chức quần chúng họp thảo “dân nguyện” gửi đến phái
đoàn Quốc hội Pháp đòi dân sinh, dân chủ
- Phong trào khởi đầu Nam Kì: với sự thành lập của các “Uỷ ban hành
động” Sau đó là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam ... Trung kì (Quảng Trị,
Quảng Nam...). Pháp phải nhượng bộ, cho công nhân làm 8 giờ 1 ngày, cho
nghỉ ngày chủ nhật và nghỉ phép, ân xá tù chính trị. Phong trào phát triển
mạnh. Pháp đã đàn áp, cấm hoạt động.
*Phong trào đấu tranh đòi tự do dân sinh dân chủ.
- Đây là phong trào diễn ra đồng thời với phong trào “ĐDĐH” và xuyên suốt
trong suốt thời kì 1936-1939 đan xen với các phong trào khác
- Phong trào tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân tham gia (Nông dân,
công nhân, tiểu thương, học sinh-sinh viên ...)
*Đấu tranh nghị trường.
- Đây là hình thức đấu tranh mới mẻ của Đảng: + Nhằm vận động những
người tiến bộ trong hàng ngũ trí thức phong kiến, tư sản dân tộc, địa chủ ra
ứng cử vào các viện dân biểu (các cơ quan lập pháp)
18
+ Dùng báo chí để tuyên truyền, vận động cử tri bỏ phiếu cho những người
này
- Mục đích:Mở rộng lực lượng mặt trận dân chủ, vạch trần chính sách phản
động của thực dân và tay sai và bênh vực quyền lợi cho nhân dân. Ở mặt
với những lần xâm chiếm mở rộng lãnh thổ dần xuống phía nam của người
Chăm, người Khmer, Việt Nam có ranh giới địa lý gần như hiện nay vào
năm 1757
Đến giữa thế kỷ 19, cùng với Đông Dương, Việt Nam trở thành thuộc
địa của Pháp. Trong Thế chiến thứ hai, phát xít Nhật chiếm Việt Nam và
toàn thể Đông Dương, ngay sau khi hay tin quân Đồng Minh chiến
thắng, Việt Minh đã giành lại chính quyền từ tay Nhật. Ngày 2 tháng
9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước đầu tiên của nước Việt Nam hiện đại.
Sau Thế chiến thứ hai, người Pháp muốn chiếm lại thuộc địa Đông Dương
nhưng vấp phải sự phản kháng quyết liệt của người Việt Nam. Sau chiến
thắng của Việt Minh tại chiến trường Điện Biên Phủ ngày 7 tháng
5 năm 1954, Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương.Hiệp định Genève được
ký kết đã chấm dứt ách đô hộ gần một trăm năm của Pháp tại Việt Nam,
đồng thời chia đôi nước Việt Nam và lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới, định sau
2 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử cả nước.
22
Tuy nhiên, vì nhiều tác nhân bên ngoài nên trong hoàn cảnh lịch sử đó, Hiệp
định Genève đã bị phá vỡ. Nước Việt Nam Cộng hòa, thành lập ở miền
Nam, được Hoa Kỳ và một số nước đồng minh của Hoa Kỳ hậu thuẫn và các
nước trong thế giới tự do công nhận, với chính quyền nằm trong tay những
người không tham gia chống xâm lược hoặc thậm chí đã từng cộng tác
với Pháp. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo mô hình xã hội chủ nghĩa,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam, được thành lập tại miền
Bắc, là nước đượcLiên Xô, Trung Quốc hậu thuẫn và được các nước
trong khối xã hội chủ nghĩa khác công nhận và giúp đỡ. Chính quyền miền
Bắc có nòng cốt là Việt Minh.
thăm ba nước Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ trong vòng một tháng (226 đến 22-7-1955), đã mở đầu thời kỳ các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân
yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới ủng hộ và giúp đỡ sự nghiệp
chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Đánh giá về ý nghĩa quan trọng của sự ủng hộ, giúp đỡ từ bên ngoài đối
với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "10
năm trước đây (1945 - tác giả), chúng ta hầu như cô đơn, chỉ nhờ sức mạnh
đoàn kết mà cách mạng thắng lợi. Ngày nay, nhân dân ta lại có đại gia đình
gồm 900 triệu anh em từ Á sang Âu và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế
giới ủng hộ. Cho nên cuộc đấu tranh chính trị để thực hiện hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước tuy nhiều khó khăn, nhưng chúng ta
nhất định sẽ thắng lợi".
Ðảng, Nhà nước, nhân dân Cuba và đồng chí Fidel Castro đã dành cho
nhân dân ta sự ủng hộ và giúp đỡ vô cùng quý báu, có hiệu quả cả tinh thần
lẫn vật chất.
Với tinh thần "Vì Việt Nam, chúng ta sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình",
một phong trào quần chúng rộng rãi ủng hộ Việt Nam đã được triển khai
24
khắp cả nước với các hình thức rất phong phú; mít-tinh, xuống đường chống
đế quốc Mỹ, hội thảo, nói chuyện, thi tìm hiểu về Việt Nam, lập các tổ
nghiên cứu chuyên đề về Việt Nam tại các trường đại học, cơ quan, xí
nghiệp, đơn vị quân đội... Ðài phát thanh La Ha-ba-na đã dành riêng một
kênh phát bằng tiếng Anh sang Mỹ, ngày phát 6 buổi (kênh) để giới thiệu
với nhân dân Mỹ về tình hình Việt Nam và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước của nhân dân ta, góp phần cùng Việt Nam tranh thủ dư luận tiến bộ
Mỹ, ủng hộ Việt Nam, đòi chấm dứt chiến tranh. Ngay từ buổi đầu cách
mạng, khó khăn có nhiều,Cuba đã nhận lớp học sinh Việt Nam đầu tiên và
sau đó hàng nghìn sinh viên sang đào tạo ở nhiều ngành khác nhau.
Giữa lúc đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ở miền bắc, nhiều