So sánh nhân vật nữ trong truyền kỳ mạn lục (nguyễn dữ) và tiễn đăng tân thoại (cù hựu) - Pdf 32

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh

----------------------

Nguyễn Thị Cẩm Tú

So sánh nhân vật nữ trong ''truyền kỳ mạn lục''
(Nguyễn Dữ) và ''tiễn đăng tân thoại'' (Cù Hựu)
Chuyên ngành :Lý luận văn học
Mã số: 60.22.32

Luận văn thạc sĩ ngữ văn
TS. phạm tuấn vũ

Ngời hớng dẫn khoa học:

Vinh - 2007

Mục lục
Trang
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4. Mục đích yêu cầu
5. Phơng pháp nghiên cứu

1
1
4

Tài liệu tham khảo

2

5
5
6
6
7
7
11
22
22
22
35
35
39
39
39
56
56
63
65
65
74
84
87


Mở đầu

Trong công trình Lịch sử văn học Việt Nam (tập 2), Bùi Văn Nguyên đã
cho rằng : Đọc Truyền kỳ mạn lục, chúng ta cũng có thể đọc đợc bộ mặt của
xã hội thời xa qua nhiều khía cạnh. Giá trị Truyền kỳ mạn lục không phải chỉ ở
chỗ đã tố cáo đợc bề mặt xã hội thời đó mà còn ở chỗ đã bớc đầu phê phán
những ràng buộc của xã hội phong kiến đối với ngời phụ nữ [21, 256]. Tác
giả khẳng định Chán ghét cảnh thối nát của quan trờng, ông (Nguyễn Dữ) mợn văn chơng để vạch trần những xấu xa, những tội ác của giai cấp thống trị,
tố cáo những thói tệ đơng thời và đồng thời cũng nói lên đợc một phần nỗi đau
đớn xót xa của những con ngời bình thờng, đặc biệt là phụ nữ. [21, 261]
Giáo trình Văn học Việt Nam từ thế kỷ X - đến giữa thế kỷ X VIII của
Đại học s phạm ghi nhận vấn đề ngời phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục. Các tác
giả cho rằng Truyền kỳ mạn lục ca ngợi tình cảm vợ chồng gắn bó thuỷ chung,
ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của ngời phụ nữ và cảm thông với những nỗi bất
hạnh của họ lại là một đóng góp của Nguyễn Dữ.
Các nhà nghiên cứu khẳng định việc viết về ngời phụ nữ là một đóng
góp lớn của Nguyễn Dữ. Trong bài Tìm hiểu khuynh hớng sáng tác trong
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Nguyễn Phạm Hùng cho rằng trong khi
thể hiện vấn đề dân tộc, địa vị của các lực lợng phong kiến thống trị, ngời tri
thức phong kiến thì vấn đề ngời phụ nữ đợc Nguyễn Dữ trình bày khá sâu sắc.
Khi bàn về phẩm chất dân tộc trong Truyền kỳ mạn lục, tác giả nhấn mạnh:
Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục đã mở đầu một cách đích thực khuynh hớng văn học nêu cao tinh thần dân tộc qua việc ngợi ca, khẳng định con ngờinhất là ngời phụ nữ bình thờng bị vùi dập nhng vẫn sáng ngời phẩm chất cao
quý[8,114].
Nhiều nhà nghiên cứu nớc ngoài đã viết về tác phẩm của Nguyễn Dữ,
trong số đó có công trình nghiên cứu so sánh rất công phu của nhà nghiên cứu
Đài Loan- Trần ích Nguyên: Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và
Truyền kỳ mạn lục. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tỉ mỉ và
khá đầy đủ về nguồn gốc, nội dung, kỹ xảo, nội hàm của Truyền kỳ mạn lục và
Tiễn đăng tân thoại, sự ảnh hởng của hai tác phẩm này đến nền văn học mỗi
nớc. Trần ích Nguyên khẳng định: Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại
và Truyền kỳ mạn lục là một việc không thể xem nhẹ trong nghiên cứu so sánh


Đối tợng nghiên cứu là So sánh nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục
(Nguyễn Dữ) và Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu).
Luận văn tập trung đi vào tìm hiểu những điểm tơng đồng và khác biệt
về nhân vật nữ trong hai tác phẩm. Văn bản Truyền kỳ mạn lục và Tiễn đăng
tân thoại mà chúng tôi dựa vào nghiên cứu đợc in trong Tiễn đăng tân thoại
và Truyền kỳ mạn lục, Phạm Tú Châu dịch, Trần Thị Băng Thanh giới thiệu và
chỉnh lý, NXB Văn học, Hà Nội 1997.

5


4. Mục đích yêu cầu
4.1. Đối sánh nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục với nhân vật nữ
trong Tiễn đăng tân thoại để nhận thức những sự tơng đồng và khác biệt lớn
trong tính cách và số phận.
4.2. Cắt nghĩa những sự tơng đồng và khác biệt đó từ các nguyên nhân
lịch sử xã hội, tâm lý dân tộc, truyền thống của văn học dân gian và từ các đặc
điểm của thể loại.
4.3. Từ đó đa thêm những cơ sở để khẳng định Nguyễn Dữ tiếp thu văn
chơng nớc ngoài một cách sáng tạo.
5. Phơng pháp nghiên cứu
4.1. Đặt nhân vật nữ của hai tác phẩm trong đời sống văn xuôi trung đại
Việt Nam những thế kỷ đầu với hai đặc điểm quan trọng: một là tiếp thu thành
tựu văn xuôi Trung Hoa một cách sáng tạo, hai là sử dụng chất liệu văn học
dân gian Việt Nam.
4.2. Luôn bám sát đặc trng của truyện truyền kỳ là phản ánh cuộc sống
và con ngời có sử dụng yếu tố kỳ (kỳ lạ, kỳ quái, kỳ diệu...). Cái kỳ ở đây
vừa là thế giới quan vừa là một thủ pháp nghệ thuật quan trọng.
4.3. Sử dụng các thao tác nghiên cứu: thống kê, phân tích, tổng hợp và
đặc biệt chú trọng thao tác so sánh.

trong thơ trữ tình.
Khái niệm nhân vật thờng đợc quan niệm với một phạm vi rộng hơn
nhiều, đó không chỉ là con ngời có tên hoặc không tên, đợc khắc họa sâu đậm
hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những con vật
bao gồm cả quái vật thần linh, ma quỷ ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con
ngời, đợc dùng nh những phơng thức khác nhau để biểu hiện con ngời.
Qua nhân vật nhà văn thể hiện quan điểm nghệ thuật và lý tởng thẩm mỹ
của mình về xã hội và con ngời. Vì đợc miêu tả qua các biến cố, xung đột,
mâu thuẫn và các chi tiết nên nhân vật luôn gắn liền với cốt truyện, do đợc
khắc họa qua xung đột cho nên nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động có
tính cách đợc bộc lộ dần trong không gian, thời gian và mang tính chất là một
quá trình.
Bản chất văn học là mối quan hệ đối với đời sống, nó tái hiện đời sống
qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò nh những tấm gơng của cuộc đời.

7


Văn chơng phản ánh đời sống bằng hình tợng, trong tác phẩm tự sự nhân vật
là phơng tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tợng. Nhân
vật văn học vốn là hiện tợng hết sức đa dạng, các nhân vật đợc xây dựng thành
công thờng là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại. Tuy nhiên, trong các
nhân vật, xét về mặt nội dung, cấu trúc chức năng có thể thấy nhiều hiện tợng
lặp lại tạo thành các loại nhân vật.
Trong tác phẩm văn học thờng có một hoặc nhiều nhân vật. Các tác
phẩm tự sự và kịch thờng có nhiều nhân vật. Trong trờng hợp đó không phải
mọi nhân vật trong tác phẩm văn học đều có vai trò nh nhau trong kết cấu và
cốt truyện tác phẩm. Dựa vào những tiêu chí khác nhau để phân biệt các nhân
vật trên những khía cạnh nh kết cấu, ý thức hệ và cấu trúc. Dựa vào vị trí đối
với nội dung cụ thể với cốt truyện của tác phẩm, nhân vật văn học đợc chia


8


3

Chuyện gã Trà Đồng giáng sinh

4

Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây

5

Chuyện đối tụng ở Long cung

6

Chuyện nghiệp oan của Đào thị

7

Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên

8

Chuyện yêu quái ở Xơng Giang

9


Ngô Chi Lan

Bảng 2 : Nhân vật nữ trong Tiễn đăng tân thoại

3

Đằng Mục rợu say chơi vờn Tụ Cảnh

4

Chiếc đèn mẫu đơn

5

Cuộc kỳ ngộ ở Vị Đờng

6

Động Thân Dơng

7

Nàng ái Khanh

Nhân vật nữ
Chính
Phụ
Khánh
Nơng
Hng Nơng

2
Lầu Liên Phợng

Chức Nữ
Cô gái

9

hai thị nữ


1.2.1.2. Phân tích số liệu
Dựa vào kết quả khảo sát, thống kê đặt trong sự so sánh hai tác phẩm,
xét số lợng tác phẩm là đối tợng khảo sát, chúng tôi có kết quả sau đây:
* Truyền kỳ mạn lục:
13/20 tác phẩm có nhân vật nữ, chiếm 65% số lợng tác phẩm.
Trong số 13 tác phẩm có nhân vật nữ đó có:
+ 8/13 tác phẩm, nhân vật nữ là nhân vật chính (chiếm 62%).
+ 6/13 tác phẩm, nhân vật nữ vừa là nhân vật chính vừa là nhân vật
trung tâm, chiếm 46% tác phẩm
+ 5 /13 tác phẩm tên nhân vật nữ đợc đặt cho tên tác phẩm (chiếm
38%).
+ 9 nhân vật nữ thực trong 7/13 tác phẩm (chiếm 54%).Trong đó có 5
nhân vật nữ thực đóng vai trò vừa là nhân vật chính vừa là nhân vật trung tâm
(chiếm 38%).
+ 8 nhân vật nữ siêu thực trong 6/13 tác phẩm (chiếm 46%). Trong đó
có 5 nhân vật nữ siêu thực trong vai trò là nhân vật phụ (chiếm 38%).
* Tiễn đăng tân thoại:
10/20 tác phẩm có nhân vật nữ (chiếm 50% ).
Trong số 10 tác phẩm có nhân vật nữ đó có:

tả thế giới một cách hình tợng. Nếu không có nhân vật nhà văn không thể tái
hiện cuộc sống muôn hình vạn trạng, không thể khái quát đợc những quy luật
cuộc sống con ngời. Qua nhân vật nhà văn còn thể hiện quan niệm của mình
về con ngời, về cuộc sống. Vì thế, có thể xem nhân vật là yếu tố then chốt của
tác phẩm tự sự, một tác phẩm có thể không có cốt truyện nhng nhân vật thì
không thể không có, dù là một truyện ý tởng.
Lựa chọn cách xây dựng nhân vật, nhà văn thể hiện nhận thức của mình
về con ngời, về thế giới và thông qua nhân vật dẫn dắt độc giả vào đời sống
một thời kỳ lịch sử nhất định, đồng thời tác giả thể hiện ý đồ nghệ thuật của
mình. Nhà văn sáng tạo ra nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá
nhân nào đó, về một loại ngời, về một vấn đề nào đó của hiện thực. Cho nên
tìm hiểu nhân vật là góp phần tìm ra t tởng, tình cảm và tài năng sáng tạo của
ngời cầm bút.
Qua sự thống kê ở trên, bớc đầu chúng ta có thể nhận thấy sự lựa chọn
nhân vật, xây dựng những mối quan hệ giữa các nhân vật là điểm hội tụ nội
dung tác phẩm, là phơng tiện nghệ thuật thể hiện quan niệm về con ngời, về
xã hội của mỗi tác giả.
Với Truyền kỳ mạn lục, nhân vật đã thực sự đóng vai trò rất quan trọng
trong việc thể hiện t tởng, chủ đề tác phẩm cũng nh tấm lòng của tác giả đối
với hiện thực cuộc sống. Đúng nh Nguyễn Đăng Na nhận xét: Nguyễn Dữ đã

11


phóng thành công con tàu văn xuôi tự sự vào quỹ đạo nghệ thuật, văn học lấy
con ngời làm đối tợng và trung tâm phản ánh [17,19]
Trớc hết, phải khẳng định sự ảnh hởng của Tiễn đăng tân thoại đối với
Truyền kỳ mạn lục là một sự thật. Cù Tông Cát viết Tiễn đăng tân thoại vào
năm Hồng Vũ 11(1378) đời Minh Thái Tổ. Đây là một tập truyền kỳ u tú của
Trung Quốc thế kỷ XIV. Đến những năm 70, 80 của thế kỷ XVI, sau khi

chỗ nó đấu tranh cho con ngời, cho quyền sống của con ngời, vì con ngời
(nhất là phụ nữ), mang tinh thần nhân đạo chủ nghĩa. Và đơng nhiên, nó
chống lại những gì bất công, tàn bạo, trái với con ngời, với một tinh thần dân
chủ mà thời đại cho phép. Đó chính là khuynh hớng t tởng của những nhà văn
lớn của giai đoạn này, đang hoà nhập vào một trào lu rộng lớn trong suốt
nhiều thế kỷ- trào lu văn học có tinh thần nhân đạo chủ nghĩa [9,119].
Sự xuất hiện nhân vật ngời phụ nữ trong Tiễn đăng tân thoại còn có lý
do khác. Cù Hựu viết nhiều về chuyện tình ái, từ đó ông xây dựng nhiều nhân
vật phụ nữ, mà chủ yếu là những nhân vật chính diện. Sở dĩ nh vậy vì sự
khống chế của giai cấp thống trị đầu đời Minh trên lĩnh vực văn hoá. Văn học
Trung Quốc thời kỳ này ít thể hiện những vấn đề chính trị, nếu có thì cũng ca
ngợi, nhuận sắc hồng nghiệp. Giai cấp thống trị đã khống chế văn chơng rất
chặt, thờng vì nhầm một chữ, một câu mà mang họa. Bản thân Cù Hựu cũng bị
đày đi Bảo An 10 năm vì thơ. Bởi thế, để có thể chuyển tải một cách kín đáo
phần nào t tởng nhân sinh của mình, Cù Hựu xây dựng những nhân vật nữ.
Bên cạnh đó còn do các yếu tố nh đời sống lịch sử xã hội, bối cảnh thời đại,
cuộc đời của mỗi tác giả chi phối dẫn đến ý đồ, mục đích nghệ thuật khác
nhau.
1.2. 2.1. Vai trò đời sống lịch sử xã hội đối với hai tác phẩm
Có ý kiến cho rằng: Tác phẩm là cái thai của tác giả, tác giả là cái thai
của thời đại, nói cách khác, giữa tác phẩm văn học và hoàn cảnh thời đại có
mối liên hệ khăng khít, không thể tách rời nhà phê bình văn học luôn dựa
vào mức độ chân thực của tác phẩm phản ánh về thời đại để đánh giá một bộ
tiểu thuyết thành công hay không?... , có nh vậy thì việc bình phẩm văn học
mới thoát khỏi rơi vào ảo tởng [16,77-78]. ở đây chúng ta cũng sẽ tìm hiểu
hai tác phẩm này miêu tả bức tranh thời đại nh thế nào?
Dới ngòi bút của Nguyễn Dữ và Cù Hựu, các nhân vật phụ nữ thờng có
chung cuộc đời tăm tối bởi họ là nạn nhân của xã hội phong kiến trì trệ với
những cơng thờng đạo lý khiến ngời phụ nữ bị trói buộc trong ''tam tòng tứ
đức'', với những quan niệm cổ hủ nam nữ thụ thụ bất thân, họ là nạn nhân

Thị Thiết, Thuý Tiêu, Lệ Nơng v.v... trong đau đớn, vùi dập vẫn bừng cháy
niềm khao khát khôn nguôi về hạnh phúc tình yêu, công bằng, về quyền đợc
sống, đợc hởng thụ và hiến dâng. Nhà văn đã mợn hình ảnh ngời phụ nữ để nói lên
cảnh đau thơng của dân tộc trong thời kỳ này.
Cù Hựu viết Tiễn đăng tân thoại trong thời phong kiến thịnh trị. Lúc
này cuộc khởi nghĩa do Chu Nguyên Chơng lãnh đạo giành thắng lợi và lập
nên triều đại nhà Minh. Giai cấp thống trị đang có những chính sách tiến bộ
để xây dựng vơng triều mới nên cha bộc lộ những mâu thuẫn nội tại của nó.
Vì thế trong văn của Cù Hựu, ông không tập trung miêu tả sự suy vi, tàn lụi
của xã hội. Vấn đề mà ông hớng đến và khai thác là gắn con ngời với những
khát khao tình yêu, hạnh phúc. Đó là Lan Anh, Huệ Anh say đắm với tình yêu,

14


Hng Nơng chờ đợi trong héo mòn đến chết, lại quyết trở về để đợc sống trong
tình yêu
1.2.2.2 ảnh hởng của cuộc đời hai tác giả đối với các tác phẩm
Hà Thiện Hán cho biết Nguyễn Dữ từng làm quan nhng thất vọng trớc
thời thế hỗn loạn, lấy cớ phụng dỡng mẹ già đã từ quan về ở ẩn chốn núi rừng
Thanh Hoá, mấy năm không đặt chân đến chốn thị thành (Tựa Truyền kỳ
mạn lục). Cù Hựu cũng là ngời có tài mà không đợc trọng dụng. Suốt đời ông
chỉ đợc giữ vài chức quan nhỏ, bổng lộc ít ỏi. Cù Hựu đã có lúc vì thơ mà mắc
họa, đã từng bị đa đi đồn thú ở Bảo An tỉnh Thiểm Tây mời tám năm. Cuối đời
ông từ quan về quê làm nghề dạy học. Trớc thực tại nhiễu nhơng cả hai tác giả
đều có thái độ thất vọng, bất mãn, gần nh bất lực. Có thể nói, tác giả tiểu
thuyết truyền kỳ đều là những kẻ có tài, đều sinh ra và lớn lên vào thời trung
đại và có cuộc đời không phẳng lặng [11,52]. Những điểm khác biệt trong
cuộc đời của hai tác giả biểu lộ qua thế giới quan của mình trong tác phẩm,
chi phối đến cách xây dựng nhân vật của hai nhà văn cũng nh ảnh hởng tới

phụ nữ có vị trí chủ đạo. Những con ngời vốn xuất thân rất bình thờng, có khi
tầm thờng nh ca kỹ, tỳ thiếp nhng lại mang những phẩm chất rất đáng trân
trọng, ngợi ca. Hình tợng ngời phụ nữ trở thành nhân vật chính, nhân vật trung
tâm trong rất nhiều truyện của Truyền kỳ mạn lục. Đó là Nhị Khanh (Chuyện
ngời nghĩa phụ Khoái Châu), Vũ Thị Thiết (Chuyện ngời con gái Nam Xơng),
Đào Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của Đào thị), Lệ Nơng (Chuyện Lệ Nơng)

Tiễn đăng tân thoại là một tác phẩm nổi tiếng trên văn đàn văn học
trung đại Trung Quốc. Tác phẩm đợc lu truyền và ảnh hởng sâu rộng trong và
ở nớc ngoài nh Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, gợi ý cho nhà văn trong ngoài
nớc cải biên, sáng tác thành truyền kỳ, thoại bản và kịch bản. Trong tác phẩm
này, ngời phụ nữ gắn với những mối tình say đắm thuỷ chung đợc thử thách
qua nhiều loạn ly và nhiều ngăn trở nh Hng Nơng (Chiếc thoa vàng hình kim
phợng), Thuý Thuý (Nàng Thuý Thuý), cô gái (Cô gái áo xanh)... hoặc là
những cuộc gặp gỡ kỳ lạ với thần tiên ma quỷ chốn Thiên Thai, dới thuỷ cung,
âm phủ, hang động hay trong chùa nh Lệ Khanh (Chiếc đèn mẫu đơn), những
cô gái (Động Thân Dơng), Cô gái con lão chủ quán (Cuộc kỳ ngộ ở Vị Đờng)... Đây là đề tài đợc tác giả chú trọng.
ở cả hai tác phẩm đều có hai loại nhân vật có thực và nhân vật siêu
thực, nhng trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ để cho loại nhân vật thực
hoàn toàn nắm vai trò chính yếu của cốt truyện. Tiễn đăng tân thoại cũng có
điều này song chỉ chiếm số lợng nhỏ, chỉ có nhân vật ái Khanh và Lu Thuý
Thúy là nhân thực trong vai trò là nhân vật chính. Nhân vật nữ chủ yếu là
những hồn ma, yêu nữ mang dáng dấp con ngời.
Để cho nhân vật chính là những con ngời thực, Nguyễn Dữ đã có dụng
ý, bởi vì hơn ai hết chỉ có con ngời thực mới thật sự đảm đơng công việc đời
thờng một cách trọn vẹn, chỉ có con ngời thực mới có thể sống trong xã hội

16



khát vọng bình thờng: yêu và đợc yêu, sống là bổn phận, trách nhiệm của ngời
vợ, ngời mẹ nữa mà là những con ngời chỉ có ớc vọng về phần xác thịt, sống
theo bản năng. Do đó, những ngời phụ nữ đóng vai trò nhân vật phụ trong
Truyền kỳ mạn lục hầu hết không có phẩm chất nổi bật, một phần có lẽ thời

17


gian cho họ xuất hiện quá ngắn ngủi số trời đã định, kỳ về đến nơi, biết làm
sao đợc... Chỉ nội trong đêm nay thôi. Hễ lúc nào có trận gió đông nổi lên ấy
là lúc chúng em thác hoá (Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây), phần nữa, do họ không
có nhiều xung đột, mâu thuẫn với cuộc đời thực. Nguyễn Dữ đã mợn những
hồn hoa nh Liễu (Hồng Nơng), Đào (Nhu Nơng) để thể hiện vẻ đẹp thể chất
của ngời phụ nữ: Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây, và những nhân vật kỳ ảo này dù
là hồn ma cũng mang vẻ đẹp yêu kiều, diễm lệ: Chuyện cây gạo, Chuyện yêu
quái ở Xơng Giang ...
Trong Truyền kỳ mạn lục ngời phụ nữ đóng vai trò nhân vật chính cha
thể hiện đợc khát vọng, ớc mơ của mình ở cõi đời này, cũng nh ngời phụ nữ
trong Tiễn đăng tân thoại, cuộc sống hiện thực của họ không thể thoả mãn đợc
tình yêu tự do, hạnh phúc. Do đó, ở phần cuối mỗi tác phẩm bao giờ cũng có
sự tái sinh qua yếu tố kỳ ảo hoang đờng. Vấn đề này chúng tôi sẽ đi vào cụ thể
hơn trong phần sau.
Truyền kỳ mạn lục đặc biệt đề cao vẻ đẹp của ngời phụ nữ trên phơng
diện tinh thần. Nếu chỉ để con ngời hiện lên giữa cuộc đời trần trụi thì cha đủ
để tác giả ca ngợi mà tác giả đã có sự kết hợp giữa ba cõi: Tiên- trần- âm phủ.
Tạo ra khung cảnh kỳ ảo giữa hai cõi âm - dơng, tiên- trần, mục đích của
Nguyễn Dữ là nói lên khát vọng tìm lại nhau của con ngời. Vũ Nơng trở về
trên dòng sông huyền ảo rồi nhanh chóng biến mất. Đó là cuộc gặp gỡ và chia
ly giữa một bên là thực, một bên là h ảo. ở đó vẫn là hai thế giới cách trở
không thể hoà nhập: cõi âm và cõi dơng. Và sự thật đau lòng: hai ngời đã

son), dân nữ (ngời phụ nữ thờng dân). Nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục
rất đa dạng, xuất hiện và biến thái dới nhiều hình thức. Trong Tiễn đăng tân
thoại, nhân vật nữ cũng xuất hiện từ những cuộc đời, những số phận khác
nhau nhng phần nhiều là những tiểu th khuê các.
Cha bao giờ Văn học viết Việt Nam cho đến thế kỷ XVI lại có hình tợng ngời phụ nữ xuất hiện nhiều nh trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.
Nếu nh ở giai đoạn thế kỷ X- XIV, các tác giả truyện ngắn lấy thần thánh, lấy
những nhân vật truyền thuyết hoặc lấy các cao tăng, đạo sĩ ... làm nhân vật
trung tâm cho tác phẩm của mình thì giờ đây, Nguyễn Dữ đã lấy ngời thực,
việc thực; đặc biệt là lấy những con ngời có số phận bất hạnh nh Vũ Thị Thiết,
Lệ Nơng, Đào Hàn Than... làm đối tợng phản ánh. Rõ ràng Nguyễn Dữ là ngời
mở đầu cho khuynh hớng phản ánh cuộc sống phức tạp của ngời phụ nữ. Viết
về ngời phụ nữ, Nguyễn Dữ là ngời đầu tiên có bớc công phá để khẳng định
giá trị tốt đẹp của con ngời mà dới chế độ xã hội cũ họ là thân phận nhỏ nhoi,
thấp kém, dễ lụi tàn. Chúng ta trân trọng t tởng nhân văn của Nguyễn Dữ, một
nhà nho ẩn dật suốt đời. Ông đồng cảm với số phận của ngời phụ nữ, khẳng
định vẻ đẹp phẩm chất, tính cách của họ.

19


Chơng 2
Những sự tơng đồng và khác biệt của tính cách
và số phận nhân vật nữ trong hai tác phẩm
2.1 Những sự tơng đồng và khác biệt về tính cách
Tính cách có vai trò quan trọng đối với cả nội dung và hình thức của tác
phẩm văn học. Đối với nội dung, tính cách có nhiệm vụ cụ thể hóa sự thực
hiện của chủ đề t tởng tác phẩm, thông qua sự hoạt động và mối liên hệ giữa
các tính cách, ngời đọc sẽ đi đến một sự khái quát hóa về mặt nhận thức, t tởng. Tính cách cũng là nhân tố chủ yếu tạo nên diễn biến của các sự kiện
trong quá trình phát triển của cốt truyện. Cũng qua hệ thống tính cách, ngời
đọc có thể đánh giá khả năng biểu hiện nội dung của các yếu tố hình thức nh

hệ với gia đình và trong mỗi gia đình cụ thể ngời phụ nữ đợc thể hiện đầy đủ
những phẩm chất, tính cách. Đặc biệt trong mối quan hệ vợ chồng, ngời phụ
nữ hiện lên cùng với những phẩm hạnh hoàn hảo, sự tháo vát của ngời đàn bà,
những sự đấu tranh mạnh mẽ để bảo vệ tình yêu. Xây dựng ngời phụ nữ trong
mối quan hệ với vợ chồng, Nguyễn Dữ tập trung phản ánh những đức tính tốt
đẹp của ngời phụ nữ, đồng thời lý giải căn nguyên nỗi khổ mà họ phải gánh
chịu, qua đó, phản ánh xã hội đơng thời.
2.1.1.1. Sự thuỷ chung, đức hy sinh, lòng vị tha
Nàng Nhị Khanh, Vũ Nơng, Lệ Nơng, Thuý Tiêutrong Truyền kỳ mạn
lục của Nguyễn Dữ, hay nàng Nhị Khanh, Thuý Thuý trong Tiễn đăng tân
thoại của Cù Hựu đều là những ngời phụ nữ thuỷ chung son sắt với tình yêu,
là những ngời tiết tháo, trọn đạo với chồng con. Cả hai tác giả đều đặt nhân
vật vào những hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt để bộc lộ những nét tính cách
cao cả đó. Và gắn với những số phận bi kịch đó, tác giả đã thể hiện sự chia sẻ,
đồng cảm. Trong đau khổ, khó khăn ấy họ đã vợt lên cái xấu xa, các thế lực để
giữ tấm lòng trong sạch, tự đấu tranh để bảo vệ cho tình yêu hạnh phúc, quyền
sống của mình. Cả hai tác giả đã phần nào đề cập đến vấn đề nhân sinh và với
một tấm lòng cao cả.
Trong Tiễn đăng tân thoại ngời phụ nữ tiêu biểu cho đức hy sinh, thuỷ
chung, tiết liệt là La ái ái (Nàng ái Khanh). Một cô gái thông minh, làm thơ

21


từ rất giỏi, vì thế mọi ngời đều mến mộ và kính trọng nên gọi nàng là ái
Khanh và cũng chính vì điều đó chàng trai nhà họ Triệu, cũng con nhà trâm
anh quyết hỏi đợc nàng làm vợ. Về nhà chồng, ái Khanh giữ đạo làm vợ rất
siêng năng, gia pháp cũng rất nghiêm chỉnh, lựa lời ăn nói, không đúng lễ ắt
không làm khiến chàng họ Triệu yêu chiều và kính nể. Hạnh phúc đó cha đợc
bao lâu, chồng nàng phải lên đờng đi nhận chức quan ở Giang Nam. Mặc dù

Nhớ mẹ già mang bệnh,
Tự lo thuốc, cháo,
Mồ cao chôn chặt,
áo sô tiễn đi.
Đêm bói hoa đèn,
Sáng chờ khớu báo,
Ngày cài cửa, ma dập hoa lê!
Ai ngờ đâu
Ân tình thôi vĩnh biệt, th chẳng thấy về!
Gơm đao khắp chốn vung lia
Sao mệnh bạc thời suy họa áp kề.
Hớng màn vàng bớc tới,
Hạc kinh, vợn oán,
Thơm tho khăn lụa,
Ngọc nát hoa lìa.
Muốn giữ trọn trinh,
Phải liều một chết
Khỏi bị ngời đời kháo thị phi.
Chàng hãy nhớ
Họa là trong tranh vẽ
Gặp lại Thôi Huy
Tác giả đã để cho nhân vật đợc bộc bạch những nỗi niềm tự trong thẳm
sâu, đợc chồng thấu hiểu những sự đắng cay. Đó chính là cái nhìn đầy thông
cảm đối với nhân vật, và phần nào khắc đậm hình ảnh ái Khanh- một ngời
phụ nữ chính chuyên, giàu đức hy sinh.
Nguyễn Dữ cũng dành bút lực của mình ngợi ca về ngời phụ nữ. Trong
Truyền kỳ mạn lục họ là những tấm gơng của sự thuỷ chung, tiết liệt. Đó là
nàng Nhị Khanh trong Chuyện ngời nghĩa phụ Khoái Châu và Vũ Thị Thiết
trong Chuyện ngời con gái Nam Xơng là hai ngời phụ nữ tiêu biểu cho phẩm
cách ấy. Hai ngời đàn bà sống trọn nghĩa với chồng nhng rốt cuộc phải nhận

về, Trơng Sinh nghe con nói, đinh ninh là vợ h, mối nghi ngờ ngày càng sâu
Khi nàng hỏi, thì lại dấu, không kể lời con, chỉ lấy chuyện bóng gió này nọ
mà mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi. Chàng đã nghe một lời nói ngây thơ
nhng chứa lợng thông tin không đầy đủ của con thơ.
ở đây thật, giả lẫn lộn. Vũ Nơng đã đem một cái giả để thay cho một
cái thật, dùng cái bóng của mình để khoả lấp nỗi nhớ thơng chồng. Trơng Sinh
lại lầm lẫn giữa cái giả và sự thật. Sự lầm lẫn ấy đã xảy ra một bi kịch không
thể cứu vãn. Trơng Sinh mất niềm tin đối với vợ. Bị chồng nghi oan, mắng
nhiếc, nàng chỉ biết khóc và có những lời giãi bày, mong đợc cởi mối nghi
ngờ. Không đợc chồng tin tởng, nàng đành mợn đến cái chết để giữ tiết hạnh.
Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc,

24


tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan
trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nớc xin làm ngọc Mỵ Nơng, xuống đất
xin làm cỏ Ngu Mỹ. Nhợc bằng, lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dới xin
làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho quạ, chẳng những là chịu khắp mọi
ngời phỉ nhổ. Lời thề thốt thể hiện nỗi oan khuất của nàng. Qua lời thề ấy Vũ
Nơng hiện lên là một con ngời trung hậu. Tìm đến cái chết là cách duy nhất
Vũ Nơng có thể chứng tỏ đợc tấm lòng trinh bạch của mình. Cuộc sống đối
với nàng không có niềm tin thì làm sao có thể là chỗ dựa tuyệt đối cho nàng
Thiếp sở dĩ nơng tựa vào chàng vì có thú vui nghi gia nghi thất, có sự yên ổn
đợc tựa bóng cây cao. Cuộc đời không dành cho nàng chỗ đứng để khẳng
định nhân phẩm nàng đã quyết chọn cái chết, chỉ có cái chết mới giúp nàng
thoát khỏi sự ruồng rẫy của chồng.
Nàng khát khao vơn tới một bến bờ hạnh phúc, khẳng định giá trị cao
đẹp của mình: một ngời vợ chung tình với chồng, một ngời con trọn bề hiếu
đạo. Phẩm chất đáng quý ấy của Vũ Nơng khiến ngời đọc trân trọng bao nhiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status