Trờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
==========
Hoàng Thị Thu Hiền
So sánh cốt truyện, nhân vật trong
truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) và truyện
cổ tích (Ngời việt)
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngành cử nhân ngữ văn
-------------------------------------
Chuyên ngành: văn học trung đại việt nam
Vinh, 5/ 2007
1
Trờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
***********************
Tóm tắt khoá luận tốt nghiệp
đề tài
so sánh cốt truyện , nhân vật trong
truyền kỳ mạn lục ( nguyễn dữ ) và truyện
cổ tích ( ngời việt )
1.2.2.2.1
1.2.2.2
Phần mở đầu
Lý do chọn đề tài...
Mục đích yêu cầu..
Lịch sử vấn đề...
Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu ...
Phơng pháp nghiên cứu
PHần nội dung chính
Chơng 1: Những vấn đề chung
Thể loại truyện truyền kỳ và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ
Thể loại truyện truyền kỳ
Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ
Một vài nét về tác giả Nguyễn Dữ
Tác phẩm Truyền kì mạn lục
Những nguồn ảnh hởng của Truyền kì mạn lục
Về khái niệm truyện cổ tích và vấn đề phân loại truyện cổ tích ngời
Việt.....................
Về khái niệm truyện cổ tích
Vấn đề phân loại truyện cổ tích ngời Việt
Một số cách phân loại truyện cổ tích ở Việt Nam.
Truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích sinh hoạt
Truyện cổ tích thần kì
Truyện cổ tích sinh hoạt
Chơng 2: Những điểm tơng đồng và khác biệt về
3
4
5
5
5
6
6
6
8
8
8
10
14
14
16
16
18
18
20
22
22
22
23
24
25
25
26
28
30
3.1.2
3.1.3
3.2
3.2.1
3.2.1.1
3.2.1.2
3.2.1.3
3.2.2
3.3
3.3.1
3.3.1.1
3.3.1.2
3.3.1.3
3.3.2
Khái niệm nhân vật, các kiểu nhân vật và chức năng của nhân vật..
Khái niệm nhân vật
Các kiểu nhân vật
Chức năng của nhân vật
Những điểm tơng đồng về nhân vật giữa Truyền kì mạn lục cua
Nguyễn Dữ với truyện cổ tích (ngời Việt). Nguyên nhân của sự tơng đồng đó..
Những điểm tơng đồng
Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) và Truyện cổ tích (ngời Việt) đều
có số lợng nhân vật đông đảo, đa dạng và phân tuyến rõ ràng
Truyền kì mạn lục mợn mô-tip nhân vật trong truyện cổ tích
(ngời Việt)..................
Một số điểm tơng đồng khác.
Nguyên nhân của sự tơng đồng..
Những điểm khác biệt giữa nhân vật trong Truyền kì mạn lục
(Nguyễn Dữ) với Truyện cổ tích (ngời Việt). Nguyên nhân của sự
46
51
54
56
57
57
57
59
61
63
65
66
Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Hoàng Minh Đạo, các
thầy cô trong khoa ngữ văn (tr ờng đại học Vinh), cùng bạn
bè đã tận tình giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành khóa
luận này.
Vinh, tháng 5 2007
Hoàng Thị Thu Hiền
5
Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Trong khuôn khổ của một khoá luận, chúng tôi sẽ tập trung làm sáng tỏ hai
vấn đề chính đó là:
- Tìm ra sự tơng đồng và dị biệt về cốt truyện trong Truyền kì mạn lục
(Nguyễn Dữ) và truyện cổ tích (Ngời Việt). Lý giải nguyên nhân của sự tơng
đồng và dị biệt đó.
- So sánh tìm ra sự tơng đồng và dị biệt về nhân vật trong hai loại truyện trên,
đồng thời cũng lý giải nguyên nhân của sự tơng đồng và dị biệt đó.
Khi giải quyết đợc mục đích yêu cầu này, cũng đồng nghĩa với việc chúng tôi
sẽ góp một phần vào việc làm sáng tỏ mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn
học viết nói chung và mối liên hệ giữa Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) với truyện
cổ tích (Ngời Việt) nói riêng đồng thời thấy đợc tài năng sáng tạo thực sự của
Nguyễn Dữ.
3 Lịch sử vấn đề.
Qua các tài liệu đã có dịp tiếp xúc và tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng: khi
bàn về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, cũng nh ảnh hởng của
truyện dân gian đối với truyện trung đại Việt Nam, các tác giả đã chỉ ra một vài
nét về sự ảnh hởng của truyện dân gian đối với Truyền kỳ mạn lục tác phẩm
văn xuôi tự sự trung đại tiêu biểu của Nguyễn Dữ. Cụ thể là: trong cuốn: Văn học
dân gian Việt Nam (tập 2), Hoàng Tiến Tựu khái quát Chính truyện kể dân gian
mà chủ yếu là truyện cổ tích đã góp phần quan trọng vào sự hình thành loại
truyện thơ và loại truyện vừa viết bằng tảo văn trong nền văn học viết nớc ta thời
phong kiến. Những truyện cổ tích đợc viết dới lại dới hình thức tản văn trung
Lĩnh Nam chích quái , Việt điện u linh, Thánh Tông di thảo, ( của vua Lê Thánh
Tông), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ)đã góp phần quan trọng vào việc hình
thành loại truyện vừa trong văn học Việt Nam thời trung đại [ 22, 18].
7
Còn trong bài viết Bàn về yếu tố văn học dân gian trong Truyền kì mạn
(Nguyễn Dữ và Tiễn đăng tân thoại) (Cù Hựu) hay khóa luận của sinh viên
Nguyễn Hoài Thanh tiến hành So sánh yếu tố kỳ trong Truyền kỳ mạn lục
(Nguyễn Dữ) và Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu). ở những khóa luận này không
những chỉ ra những điểm tơng đồng và dị biệt giữa Truyền kỳ mạn lục và Tiễn
đăng tân thoại trong việc sử dụng yếu tố kỳ và xây dựng hình tợng phụ nữ mà
còn tìm ra đợc những điểm giống và khác nhau ở hai phơng diện trên giữa
Truyền kỳ mạn lục và truyện dân gian Việt Nam. Qua đó khẳng định tinh thần
dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Dữ. Mặc dù vay mợn thể loại và nguyễn mẫu
truyện Trung Quốc nhng dới ngòi bút tài hoa của mình, Nguyễn Dữ đã tạo ra
những truyện tởng nh bắt chớc, sao chép ấy mang đậm màu sắc dân tộc. Tuy
nhiên, sự so sánh này chỉ mang tính chất gợi mở, cha đi vào cụ thể.
Nh vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu Truyền kỳ mạn lục trong mối quan hệ với
văn học dân gian của dân tộc đã đợc đề cập đến. Song, đó chỉ là một vài gợi ý,
nhận định mà cha đi sâu vào phân tích tỉ mỉ, kĩ lỡng. Vấn đề so sánh giữa cốt
truyện và nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích (ngời Việt) đến nay
vẫn cha có tác giả nào nghiên cứu chuyên sâu. Cho nên, thực hiện đề tài này,
chúng tôi muốn góp một phần nhỏ nhằm làm sáng rõ hơn sự tiếp thu, ảnh hởng
truyện dân gian mà cụ thể ở đây là truyện cổ tích (ngời Việt) về phơng diện cốt
truyện và nhân vật cũng nh sự sáng tạo trên hai phơng diện này của Nguyễn Dữ
khi sáng tác Truyền kỳ mạn lục của mình.
4 Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu.
4.1 Phạm vi nghiên cứu.
Đối với tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thì chúng tôi tiên hành
khảo sát tất cả 20 truyện trong đó văn bản và chúng tôi sử dụng là cuốn Cù Hựu,
Tiễn đăng tân thoại, Nguyễn Dữ Truyền kỳ mạn lục do Phạm Tú Châu dịch,
Trần Thị Băng Thanh (su tầm) [8]. Đối với truyện cổ tích (ngời Việt), do phạm vi
và điều kiện nghiên cứu của đề tài nên chúng tôi chủ yếu khảo sát truyện cổ tích
trong cuốn Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam (phần truyện cổ tích ngời Việt) do
1.1. Thể loại truyện truyền kỳ và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ.
1.1.1 Thể loại truyện truyền kỳ.
Truyện truyền kỳ là một thể loại tự sự cổ điển của văn học Trung Quốc
thịnh hành ở thời Đờng, tên gọi này cuối đời Đờng mới có. Kì nghĩa là không
có thực, nhấn mạnh tính chất h cấu. Thoạt đầu tiểu thuyết truyền kỳ (truyện
truyền kỳ) mô phỏng truyện chí quái thời lục triều, sau phát triển độc lập [10,
T286]. Là hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, vốn bắt nguồn từ truyện
kể dân gian, sau đó đợc các nhà văn nâng lên thành văn chơng bác học, sử dụng
những môtip kỳ quái hoang đờng, lồng trong một cốt truyện có ý nghĩa trần thế,
phần lớn là chuyện tình để gợi hứng thú cho ngời đọc [6, T183].
Còn theo cuốn Ngữ văn 10 (tập hai), Phan Trọng Luận, (tổng chủ biên),
các soạn giả định nghĩa: Truyền kỳ là một thể văn xuôi tự sự thời trung đại phản
ánh hiện thực qua những yếu tố kỳ lạ hoang đờng. Trong truyện truyền kỳ, thế
giới con ngời và thế giới cõi âm với những thánh thần , ma quỷ có sự tơng giao.
Đó chính là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt của thể loại. Tuy nhiên đằng sau
những tình tiết phi hiện thực ngời đọc có thể tìm thấy những vấn đề cốt lõi của
hiện thực cũng nh những quan niệm và thái độ của tác giả [11, T55].
Từ những định nghĩa về truyện truyền kì trên ta thấy, ở thể loại truyện này
nổi lên hai đặc điểm chính: Thứ nhất đây là thể loaị văn xuôi tự sự; thứ hai, trong
truyện có những yếu tố hoang đờng , kì ảo góp phần xây dựng cốt truyện và có
vai trò quan trọng trong việc làm nổi bật ý nghĩa của câu chuyện đặc biệt là
trong việc phát triển cốt truyện.
Mặt khác, trong định nghĩa của nhóm biên soạn sách giáo khoa do Phan
Trọng Luận (chủ biên) còn cho ta thấy đợc thế giới nhân vật của truyện cổ tích
thần kì hết sức dặc biệt. Nó không chỉ là nhân vật con ngời bình thờng mà có
những lực lợng thần linh, ma quỷ, chúng tơng giao với nhau tạo nên sự hấp dẫn
đặc biệt của thể loại [11,55].
12
Nguyễn Dữ xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Cha là Nguyễn Trờng
Phiếu, tiến sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496) đời Lê Thánh
Tông. Theo Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển và một số bài tựu ở các
cuốn Truyền kì mạn lục thì về sau thì Nguyễn Dữ có đi thi hơng, đâụ hơng tiến
(tức cử nhân), sau thi hội, trúng tuyển tam trờng và có ra làm tri huyện. Làm
quan đợc một năm ông lấy lí do phải phụng dỡng mẹ già để cáo quan về ở ẩn, từ
đó trải mấy mơi sơng, chân không bớc đến thị thành. Thực ra, Nguyễn Dữ lui
về ẩn dật có lẽ vì đại thể bất an, vì bất mãn với kẻ đơng quyền hơn là vì phải
nuôi mẹ già cho trọn đạo hiếu. Cho nên, viết Truyền kì mạn lục chính là để kí
thác tâm sự, thể hiện hoài bão của mình.
1.1.2.2 Tác phẩm Truyền kì mạn lục.
Truyền kì mạn lục nghĩa là ghi chép tản mạn những truyện lạ. Đây là tập
văn xuôi chữ Hán, gồm 20 truyện. Các truyện đợc viết bằng lối tản văn xen lẫn
với văn biền ngẫu và những bài thơ. Trừ truyện Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa
ra, còn các truyện khác, phần cuối mỗi câu chuyện đều có lời bình. Tuy nhiên,
khác với lời bàn của Sơn Nam Thúc trong Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông),
lời bình ở các truyện trong Truyền kì mạn lục không bàn về nghệ thuật văn chơng, chủ yếu bàn về nội dung ý nghĩa [9,505] mà cụ thể ở đây là bày tỏ ý răn
đời, khuyến thiện, trừ ác, nhân danh đạo lý Nho giáo để giáo huấn về các mối
quan hệ luân thờng trong xã hội.
Có thể nói rằng, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là tác phẩm mở đầu và
cũng là tác phẩm đỉnh cao của loại truyện truyền kì trong văn học Việt Nam thời
trung đại. Bởi, so với các tác phẩm trớc và sau nó ( nh Thánh Tông di thảo Lê
Thánh Tông hay Truyền kì tân phá - Đoàn Thị Điểm,) thì Truyền kì mạn lục
không chỉ đơn thuần là những ghi chép tản mạn những truyện lạ nữa mà nó thực
sự là một sáng tác văn học với sự gia công, trau chuốt, gọt giũa hết sức cẩn thận.
Nên, truyện của Nguyễn Dữ có linh hồn riêng chứa đựng dụng ý nghệ thuật
nhiều thứ tiếng nớc ngoài.
1.1.2.3. Những nguồn ảnh hởng của Truyền kì mạn lục.
Khái niệm nguồn ở đây đợc chúng tôi sử dụng để chỉ những sáng tác mà
Nguyễn Dữ đã phóng tác, vay mợn, hay ảnh hởng để tạo nên Truyền kì mạn lục.
ở mục này, do giới hạn của đề tài nên chúng tôi chỉ nêu ra một vài điểm tơng
14
đồng cũng nh dị biệt tiêu biểu giữa Truyền kì mạn lục với các nguồn mà cụ thể
là có 3 nguồn ảnh hởng chính: Tiểu thuyết truyền kì đời Đờng, Tiễn đăng tân
thoại (Cù Hựu) và truyện dân gian Việt Nam để làm nổi bật sự sáng tạo của
Nguyễn Dữ trong quá trình tiếp thu, ảnh hởng này.
ở nguồn tiểu thuyêt truyền kỳ đời Đờng, đây là những truyện Một là có
ý chuộng lạ, nh Hồ ứng Lân đời Minh nói: Kể những việc khác thờng, kế thừa
truyền thống chí quái từ đời Ngụy Tấn. Hai là, nh tác giả đời Tống là Triệu Ngạn
Vệ nói, đặc điểm của truyền kỳ là chứa đựng nhiều thể. [18, 349]. Bố cục truyện
truyền kỳ đời Đờng thờng là: mở đầu giới thiệu về nhân vật, tên họ, quê quán,
tính tình, phẩm hạnh, kế đó là kể các chuyện kì ngộ lạ lùng, ví dụ trong Tạ Tiểu
Nga truyện (thấy trong Quảng kí 491) nói Tiểu Nga họ Tạ, ngời Dự Chơng, 8
tuổi thì mồ côi mẹ, sau gả cho Đoàn C Trinh, hiệp sĩ ở Lịch Dơng. Cả vợ chồng
cả bố đều quen nghề buôn bán, đi lại trong vùng sông hồ, bị giặc cớp giết chết,
Tiểu Nga cũng gãy chân rơi xuống nớc, thuyền chúng vớt lên, lang bạt đến huyện
Thợng Nguyên, vào nơng nhờ các vãi chùa Diệu Quả. Tiểu Nga nhiều lần mộng
thấy bố mách rằng kẻ thù là tên phu chạy giữa lúc ban ngày [20, 92] và
Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ đã ảnh hởng truyện truyền kì đời Đờng ở phơng diện bố cục này. Ta thấy cả 20 truyện trong Truyền kì mạn lục đều có lối mở
đầu giới thiệu lai lịch nhân vật.
Nhng điểm khác biệt giữa Truyền kì mạn lục và truyện truyền kì đời Đờng
ở chỗ: phần kết ở truyện truyền kì thờng nêu lí do kể chuyện, ví nh Truyện Lý Oa
ghi Công Tá chắp bàn tay vào tai lắng nghe, sai ta làm truyện, bèn cầm bút viết,
ghi lại để biết [18, 42], còn ở Truyền kì mạn lục thì kết thúc mỗi chuyện là lời
mất vợ, sau đó đợc Bạch Long Hầu giúp đỡ đa xuống Long cung để tha kiện ().
Trong cuộc nói chuyện giữa thái thú họ Trịnh và Bạch Long Hầu, Nguyễn Dữ đã
để cho nhân vật Trịnh Thái Thú nhắc đến tên D Thiện Văn tên một nhân vật
chính trong Thủy cung khánh hội lục (Tiệc mừng dới thuỷ cung Tiễn đăng tân
thoại Cù Hựu). Câu chuyện về D Thiện Văn đợc kể rằng: Khoảng niên hiệu
Chí Chính nhà Nguyên, có ngời học trò là D Thiện Văn, giữa ban ngày thấy hai
ngời lực sĩ đến nói là vâng mệnh của Quảng Lợi Vơng (Vua thuỷ) sai đón, Thiện
Văn theo đi. Đến bến sông xuống một chiếc thuyền, thấy hai con rồng vàng cắp
mà đem đi, rồi xuống đến Thuỷ phủ, Quảng Lợi Vơng tiếp đón long trọng rồi
nhờ soạn hộ một bài văn để đọc lúc làm lễ cất câu đầu của toà đền Linh Đức sắp
16
dựng. Thiện Văn liền làm hộ một bài rất hay. Khi khánh thành, Thiện Văn đợc dự
một bữa yến lớn. Và Trịnh Thái Thú đã dùng câu chuyện này nh một điển tích
khi trả lời câu hỏi của Bạch Long Hầu, Trịnh nói: Ngày xa Liễu Nghị có cuộc
xuống chơi dới Động Đình. Thiện Văn có cuộc ăn yến ở Long cung, chẳng hay
kẻ phàm tục này có đợc theo dấu của ngời xa không?
Không chỉ có thế trong Mộc miên thụ truyện (chuyện cây gạo), Nguyễn Dữ
còn vay mợn cốt truyện của Mẫu đơn đăng kí (Cây đèn mẫu đơn) ở Tiễn đăng
tân thoại (Cù Hựu).
Cây đèn mẫu đơn kể về mối tình kì lạ giữa Kiều Sinh và Lệ Khanh. Vào
đêm nguyên tiêu, Kiều Sinh nhìn thấy một ngời con gái tuyệt đẹp đi sau một a
hoàn cầm cây đèn mẫu đơn, Kiều Sinh đã tìm cách làm quen và từ đó hai ngời
quan hệ ái ân rất mặn nồng. Sau khi Kiều Sinh phát hiện ra Lệ Khanh là một hồn
ma khi tình cờ thấy trong ngôi chùa (mà chàng đi qua) có quàn thi hài Lệ Khanh,
trớc linh cữu có một chiếc đèn mẫu đơn, đứng dới đèn là một ngời hầu gái bằng
hàng mã. Kiều Sinh hoảng sợ bỏ chạy. Chàng tìm đến pháp s cầu cứu. Nhng rồi
một hôm, chàng quên mất lời dặn của pháp s (đã đi qua ngôi chùa giữa hồ) nên bị
hồn ma Lệ Khanh bắt đi. Chàng bị hồn ma kéo vào quan tài. Sau đó, ngời hàng
chức truyện trong Tiễn đăng tân thoại để tạo nên Truyền kì mạn lục của mình.
Nh một quá trình Ăn lá nhả tơ, Nguyễn Dữ đã sử dụng thành thạo tài hoa bút
pháp thể loại để chuyển tải t tởng cá nhân, ông viết về những vấn đề của xã hội
Việt Nam, những chuyện đời thờng của ngời dân Việt Nam. Ông hấp thụ những
tinh hoa của văn hoá Trung Hoa, văn hoá khu vực mà không quên bắt rễ ở mảnh
đất quê hơng mình [4, T10]. Sự bắt rễ ấy chính là việc ngoài hai nguồn
truyện du nhập trên, Nguyễn Dữ còn tiếp thu, ảnh hởng và học tập truyện dân
gian Việt Nam ( Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích) mà đặc biệt là ảnh hởng
truyện cổ tích ngời Việt cả về phơng diện nhân vật lẫn yếu tố cốt truyện. Điều
này sẽ đợc chúng tôi trình bày kỹ ở phần sau của khoá luận này.
1.2 Về khái niệm truyện cổ tích và vấn đề phân loại truyện cổ tích ngời Việt.
1.2.1 Về khái niệm truyện cổ tích.
Cho đến nay, ở nớc ta việc xác định khái niệm truyện cổ tích có rất nhiều ý
kiến khác nhau. Trớc cách mạng tháng Tám 1945, danh từ truyện cổ tích thờng đợc dùng để chỉ chung hầu nh toàn bộ lĩnh vực truyện dân gian truyền miệng
kể xuôi. Về sau, cùng với quá trình nhận thức và chia tách các loại truyện dân
gian khác ra khỏi cổ tích thành các thể loại truyện nh: truyền thuyết, truyện cời,
18
truyện ngụ ngôn,thì phạm vi của truyện cổ tích đ ợc thu hẹp lại và khái niệm
truyện cổ tích đợc hình thành một cách hoàn chỉnh và chính xác hơn.
Trong cuốn Văn học dân gian (tập 2), Hoàng Tiến Tựu định nghĩa:
Truyện cổ tích là một loại truyện kể dân gian ra đời từ thời kì cổ đại, gắn liền với
quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ, hình thành của gia đình phụ
quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội. Nó hớng vào những vấn đề cơ bản,
những hiện tợng có tính phổ biến trong đời sống nhân dân, đặc biệt là những
xung đột có tính chất riêng t giữa ngời với ngời trong phạm vi gia đình và xã hội.
Nó dùng một thứ tởng tợng và h cấu riêng (có thể gọi là tởng tợng và h cấu cổ
tích) kết hợp với các thủ pháp khác để phản ánh đời sống và mơ ớc của nhân dân
lao động đáp ứng nhu cầu nhận thức, thẩm mỹ, giáo dục và giải trí của nhân dân
trong thế giới đời thờng [5,65]. Cho nên khi nghe, tiếp nhận truyện cổ tích con
ngời sẽ đợc đặt vào cái gọi là trờng cổ tích. Trờng cổ tích là một khái niệm
trừu tợng, một thế giới phi vật chất, một sản phẩm tinh thần có lực hấp dẫn tinh
thần. Thế giới ấy tuy không xác định trên bản đồ mà chỉ đợc cảm nhận bởi con
ngời. Thế giới ấy không đồng nhất với thế giới con ngời nhng vừa có hệ quy
chiếu với thế giới con ngời lại vừa có điểm đồng quy với thế giới con ngời, nhờ
vậy con ngời có thể sống trong đó trong những thời khắc nhất định để nghiệm
trải lại thế giới của chính mình [5,64].
Nói tóm lại, truyện cổ tích là một loại h cấu nghệ thuật có chủ
tâm[5,65], h cấu để phản ánh hiện thực, nó lấy h cấu, đặc biệt là tính chất kì
diệu, làm cứu cánh để phát triển cốt truyện. Và trờng cổ tích chính là môi trờng
để sự h cấu đợc mở rộng đến mức tối đa nh là cái khả nhiên dù không phải là hẳn
nhiên. Ngời nghe truyện cổ tích, khi bị tác động của trờng cổ tích đã không
quan tâm đến điều đợc kể ra có thực hay không mà họ chỉ quan tâm tới diễn biến
câu chuyện để hồi hộp, lo âu, vui buồn, hờn giậnđối với nhân vật trung tâm.
Ngời nghe truyện cổ tích đã trải qua những rung cảm nghệ thuật trong suốt tiến
trình câu chuyện và khi trở lại đời thờng trong tâm hồn họ dấy lên một khát vọng
đấu tranh cho chính nghĩa, cho lẽ công bằng [5,77].
1.2.2. Vấn đề phân loại truyện cổ tích ngời Việt.
1.2.2.1. Một số cách phân loại truyện cổ tích ở Việt Nam.
20
Vấn đề phân loại truyện cổ tích là một trong những vấn đề tồn tại đáng kể
của khoa học về truyện cổ tích trên thế giới. ở nớc ta, cũng có rất nhiều ý kiến
khác nhau về việc phân loại này.
Theo Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (tập 1)
chia truyện cổ tích thành 3 tiểu loại. Với tiêu chí xét trên phơng diện đề tài và nội
dung phản ánh, truyện cổ tích bao gồm:
cạnh khác nhau vẫn đợc phản ánh trong truyện cổ tích thần kì. Và tơng tự nh thế
trong những truyện cổ tích sinh hoạt và thế sự vẫn có mặt nhiều loài vật. Cho nên,
cách phân loại trên cũng chỉ mang tính chất tơng đối.
1.2.2.2 Truyện cổ tích thần kì và truyện cổ tích sinh hoạt.
Sở dĩ chúng tôi chọn hai tiểu loại này để đi vào tìm hiểu vì đây là 2 bộ
phận của truyện cổ tích có ảnh hởng tơng đối rõ nét đối với nền văn học viết nói
chung và văn xuôi trung đại nói riêng. Mà cụ thể ở đây, nó là một trong các
nguồn ảnh hởng của Truyền kỳ mạn lục
1.2.2.2.1 Truyện cổ tích thần kì.
Theo tác giả Hoàng Tiến Tựu thì truyện cổ tích thần kì là bộ phận cơ bản,
cổ điển và tiêu biểu nhất của thể loại truyện cổ tích, đồng thời là một trong những
bộ phận quan trọng và tiêu biểu của nền văn học dân gian mỗi dân tộc [22, 47].
Nó là sản phẩm của giai đoạn phát triển cao nhất của thể loại truyện cổ tích, khi
mà thể loại này đã xây dựng và hoàn thiện đợc hệ thống phơng pháp và phơng
tiện nghệ thuật riêng của nó [22,48].
Tơng đồng với ý kiến của Hoàng Tiến Tựu, trong cuốn Từ điển thuật ngữ
văn học các soạn giả cũng khẳng định truyện cổ tích thần kì là bộ phận quan
trọng và tiêu biểu nhất của thể loại truyện cổ tích [6, 310]. Mặt khác các tác giả
này còn chỉ ra một số đặc điểm của thể loại này: ở loại truyện này nhân vật
chính vẫn là con ngời thực tại, nhng những lực lợng thần kì siêu nhiên có một vai
trò rất quan trọng. Hầu nh mọi xung đột trung thực tại giữa ngời với ngời đều bế
tắc, không thể giải quyết nổi nếu thiếu yếu tố thần kì [6,311].
Nh vậy, xét về đối tợng miêu tả, phản ánh thì truyện cổ tích, thần kì hớng
về những nhân vật con ngời và những xung đột xã hội của con ngời, coi con ngời
là trung tâm, là đối tợng chủ yếu. Điều này cũng có nghĩa là các lực lợng thần kì
(nhân vật thần kì) dù có xuất hiện với tần số cao trong truyện đi chăng nữa thì nó
cũng không thể giữ vai trò là nhân vật trung tâm, là đối tợng chính của truyện cổ
22
23
xung đột của con ngời lên đến đỉnh điểm và nó sẽ là phơng thuốc duy nhất để
chữa lành những mâu thuẫn đó.
1.2.2.2.2 Truyện cổ tích sinh hoạt.
Khác với truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích sinh hoạt (hay cổ tích thế
sự) là những truyện cổ tích không có hoặc rất ít yếu tố thần kì. ở đây, các mâu
thuẫn xung đột, xã hội giữa ngời với ngời đợc giải quyết một cách hiện thực,
không cần đến những yếu tố siêu nhiên. Những yếu tố thần kì nếu có cũng không
giữ vai trò quan trọng và nhiều khi chỉ là đờng viền cho câu chuyện thêm vẻ li kì,
hấp dẫn mà thôi (ví dụ: Truyện Vợ chàng Trơng, Sự tích chim Hít cô)[6,312].
Từ định nghĩa trên, so sánh giữa cổ tích thần kì và cổ tích sinh hoạt ta thấy:
nếu nh truyện cổ tích thần kì giải quyết xung đột trong cõi thần kì và bằng cái
thần kì (không ra ngoài địa hạt của cái thần kì) thì truyện cổ tích sinh hoạt lại
giải quyết lại giải quyết xung đột trong cõi đời thực và bằng cái logic của đời
sống xã hội. Cái thần kì ở đây, nếu có, cũng chỉ giống nh đờng viền của truyện
mà thôi.
Cho nên, nếu nh đa số các nhân vật chính diện trong truyện cổ tích thần kì
thờng thụ động, bất lực trớc mọi khó khăn, bế tắc thì ngợc lại hầu hết các nhân
vật trong truyện cổ tích sinh đều chủ động hơn, có ý thức tháo gỡ những mâu
thuẫn khó khăn mặc dù cuối cùng họ vẫn có thể rơi vào tình thế nguy nan, không
lối thoát. Về căn bản khác với sự không bế tắc ảo tởng (do lí tởng hoá) của
những nhân vật chính diện trong cổ tích thần kì. Truyện cổ tích thần kì lí tởng
hoá các nhân vật chính diện bằng cách làm lại cuộc đời của họ một cách không
tởng và khẳng định những phẩm chất của họ một cách tuyệt đối. Truyện cổ tích
sinh hoạt cũng lí tởng hoá nhân vật của mình nhng theo một kiếu khác: để cho họ
tự lo liệu lấy số phận, khẳng định phẩm chất của họ thông qua sự ứng xử cụ thể
của bản thân họ[22,63]. Ta có thể dẫn ra một ví dụ, trong truyện Vợ chàng Trơng kết thúc rất bi thảm và đau xót (từ chỗ hiểu lầm đến chỗ ngời vợ tự vẫn). Cái