So sánh trào lưu nhân văn trong văn học hàn – việt thế kỷ XVIII XIX - Pdf 30

Nghiên cứu khoa học
So sánh trào l-u nhân văn
Trong văn học hàn việt thế kỷ xviii-xix
Nguyễn hữu sơn*

Túm tt: Bi vit xỏc nh nhng tng ng v khỏc bit ca quỏ trỡnh nh hỡnh v
phỏt trin tro lu nhõn vn trong vn hc Hn Vit th k XVIII XIX. Chng dn qua
mt s hin tng th loi, cm hng sỏng tỏc, h thng ch , tỏc gia, tỏc phm v nhõn
vt tiờu biu. Phõn tớch nn tng xu th ly tõm chớnh thng, khng nh ý thc con ngi cỏ
nhõn, ch tỡnh yờu v vai trũ ngi ph n. Nhn mnh ý ngha gii Hỏn húa, gii
th th loi vn hc ch Hỏn v i sỏnh qua mt s tỏc gia, tỏc phm tiờu biu Hn
Quc (th loi Sasol Sijo, ca t khuờ phũng v tp ca, Quý Su nht ký, Nhõn Hin Vng
hu truyn, Xuõn Hng truyn) v Vit Nam (ra i cỏc th loi ngõm khỳc, truyn th,
hỏt núi, tiu thuyt chng hi)...
T khúa: Tro lu nhõn vn, Vn hc trung i Hn Quc, Vn hc trung i Vit Nam,
Vn hc th k XVIII-XIX, So sỏnh
hi tỡm hiu nhng tng ng v
khỏc bit ca vn hc Vit Hn
giai on hu k trung i (th k XVIII
ht th k*XIX), chỳng tụi ó thc hin mt
phộp so sỏnh v i ti xỏc nh ba c im
chớnh. Th nht, vn hc Hn Quc cú s k
tha m nột cỏc giỏ tr nhõn vn giai on
trc trong khi vn hc Vit Nam chuyn
i, phỏt trin vt bc c v ý thc con
ngi cỏ nhõn cng nh kh nng rng m
v th loi v s lng tỏc phm. Lý do bi
phi n giai on ny thỡ ụ th Vit Nam
mi cú iu kin phỏt trin v bng tnh cỏc
giỏ tr nhõn vn, xut hin nhu cu soỏt xột
li quỏ kh v khng nh quyn sng con

t thõn ca b phn vn hc ch Hỏn chớnh
thng Hn Quc ó iu kin chớn mui
v xut hin nhu cu t phn bin, t phờ
phỏn, i thay, trong khi vn hc Vit Nam
1

Jung Min, S gii th th loi vn hc ch Hỏn v nn
vn minh mi, trong sỏch Vn hc s Hn Quc t c i
n cui th k XIX, trong sỏch Vn hc s Hn Quc t
c i n cui th k XIX (Jeon Hye Kyung - Lý Xuõn
Chung biờn dch v chỳ gii), Nxb i hc Quc gia H
Ni, 2006, tr. 298-299.

47


Nghiên cứu khoa học
li cha i ht quỏn tớnh ca m hc phong
kin. Th ba, bc sang na cui th k
XIX, vn hc Hn Quc t gii th v
chuyn dn sang thi khai húa nh mt
nhu cu ni ti, phự hp qui lut thỡ vn hc
Vit Nam li phi ng u vi th lc
thc dõn Phỏp (t 1858), khin nú phi co
cm li, gng mỡnh lờn trong cuc chin u
bo v nn c lp dõn tc2 õy cng l
ba c im chớnh yu lm nờn c im
tro lu nhõn vn mi nc.
Thc t c s lch s - vn húa núi trờn
qui nh cỏc c im v i ng tỏc gi, h

Cỏc nh nghiờn cu Hn Quc nhn nh v
xu th gii th cỏc th loi vn hc ch Hỏn
v din mo kiu tỏc gi vn hc Hn cui
mựa quõn ch: Cho dự ó n cui th k
XIX nhng vn hc ch Hỏn vn l th loi
vn hc chớnh n cui th k XIX, th
ch Hỏn ó t rừ hỡnh thỏi phc tp v cú
mõu thun mun thoỏt ra khi hỡnh thc
nghỡn bi nh mt v n thun nh trong
quỏ kh. iu ỏng chỳ ý nht trong thi k
ny l hin tng th vn tro phỳng. Tớnh
chõn tht trong th dn dn mt i, nột tro
phỳng v hi hc ngy cng nhiu lờn,
ng thi qui tc lm th chớnh thng bt
u gii th. Th vn tro phỳng ó xut
hin trờn c s t duy mi, thoỏt khi ý nim
c, ch ngha c4
Khỏc vi s chớn sm ca i ng tỏc
gi lm nờn tro lu nhõn vn t th k XVII
v tip ni qua hai th k XVIII-XIX Hn
Quc thỡ ti Vit Nam li din ra ch yu
hai th k XVIII-XIX. Ch trong hai th k
ny, Vit Nam ó xut hin c mt th h
vn nhõn tiờu biu gn vi tro lu nhõn vn
nh V Phng (1697-?), on Th
im (1705-1748), Lờ Hu Trỏc (1720-

2

Lý Xuõn Chung biờn dch v chỳ gii), Nxb i hc Quc

điểm của trào lưu nhân văn mỗi nước.
2. Về hệ thống văn tự và thể loại văn
học
Xét về ngọn nguồn, về cơ bản văn học
tiếng Hàn (Quốc ngữ) ở Hàn Quốc phát triển
sớm hơn ở Việt Nam. Đến thế kỷ XVIIIXIX, mỗi nước lại có cách ứng xử ít nhiều
khác biệt với cả hai hệ thống văn tự: tiếng
Hán ngoại nhập và ngôn ngữ dân tộc.
Ở Hàn Quốc, bộ phận văn học chữ Hán có
xu thế ly tâm với chính thống, hướng tới
phản ánh đời sống hiện thực và thể hiện rõ
nét hơn sắc thái dân tộc Hàn, nổi bật với
đóng góp của Jeong Yak-yong – Đinh
Nhược Dung, người đã nêu tuyên ngôn và
tạo lập nên “phong cách Choson”. Điều này
tạo nên hiện tượng chi phối lẫn nhau trong
mối quan hệ giữa hệ thống văn tự và xu thế
“giải thể thể loại”, giữa ngôn từ nghệ thuật
và khả năng chuyển tải nội dung đời sống
hiện thực. Các nhà nghiên cứu văn học Hàn
Quốc cho biết: “Văn học chữ Hán cuối cùng
đến thời khai hóa đã suy tàn, nhưng nếu xem
xét báo và tạp chí của thời kỳ này khai hóa

Nghiªn cøu ®«ng b¾c ¸, sè 7(161) 7-2014

thì thấy thơ chữ Hán vẫn được sáng tác, vẫn
là thể loại chủ yếu. Vào thời kỳ này, không
những ca từ khai hóa mà cả Sijo cũng được
tiếp tục đăng tải và thơ chữ Hán cũng vẫn

5

Komisook - Jungmin - Jung Byung Sul, Văn học sử Hàn
Quốc từ cổ đại đến cuối thế kỷ XIX (Jeon Hye Kyung Lý Xuân Chung biên dịch và chú giải), Sđd, tr. 302-303.

49


Nghiªn cøu khoa häc
3. Quan niệm thẩm mỹ và hệ thống chủ
đề làm nên trào lưu nhân văn trong văn
học Hàn - Việt thế kỷ XVIII-XIX
Nhìn nhận một cách tổng quát, có thể thấy
có độ chênh nhất định cả về thời gian xuất
hiện cũng như độ đậm đặc các quan niệm
thẩm mỹ và hệ thống chủ đề làm nên trào
lưu nhân văn ở hai nước trong hai thế kỷ
XVIII-XIX.
Nếu như ở Việt Nam, trong nhiều thế kỷ
trước chỉ có Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ (thế kỷ XVI) vốn là tác phẩm “bên lề”
giàu chất nhân văn thì ở Hàn Quốc, ngoài tác
phẩm Kim Ngao tân thoại của Kim Si Seup Kim Thời Tập (1435-1493) được coi là
tương đương với Truyền kỳ mạn lục, lại vẫn
có nhiều tác gia, tác phẩm, trào lưu sáng tác
in đậm sắc màu nhân văn. Khi khảo sát diện
mạo văn học Hàn Quốc thế kỷ XVII, đặc
biệt dừng lại tìm hiểu hai tiểu thuyết Cửu
vân mộng và Tạ thị Nam chinh ký của Kim
Man Chung - Kim Vạn Trọng (1637-1692),

tăng tiếng nói chủ thể, chất tự sự, nội dung
hiện thực, đời sống dân chúng, ý thức về
nguồn văn học dân gian, ca dao). Lời tuyên
ngôn của Jeong Yak-yong – Đinh Nhược
Dung: “Tôi là người Choson nên tôi vui vẻ
làm thơ của Choson”, từ đó tạo nên dòng
chảy chủ lưu cho văn học Hàn Quốc hướng
về những vấn đề thiết cốt của quốc gia, dân
tộc. Trên thực tế, ở đây tiếp tục diễn ra hiện
tượng “lưỡng đầu chế” có ý nghĩa thời đại:
một mặt, bộ phận văn chương “chân thư”
(cung đình, chính thống, quan phương) vẫn
đề cao đạo lý và chuẩn mực xưa cũ (vua
Jeongjo - Chính Tổ (1776- 1800) đã hạn chế
tinh thần khai sáng, gia tăng kiểm duyệt,
cưỡng chế văn nhân quay về lối cổ văn thuần
túy); mặt khác, bộ phận văn chương “ngạn
thư” (tầng lớp văn nhân thị dân và bình dân
theo ngọn cờ Park Chi- won – Phác Chỉ
Nguyên, Jeong Yak-yong – Đinh Nhược

6

Xin xem Nguyễn Hữu Sơn, “Tương đồng về tiến trình
lịch sử văn học trung đại Việt – Hàn”, Nghiên cứu Đông
Bắc Á, số 1-2014, tr.29.

Nghiªn cøu ®«ng b¾c ¸, sè 7(161) 7-2014



ngh s hỏt rong Kim Chon Taek Kim
Thiờn Trch. Cỏc nh nghiờn cu Hn Quc
ỏnh giỏ cao ý ngha gii phúng bn nng v
t do cỏ nhõn, thc tnh quyn sng con
ngi, cao m hc ting ci th loi
Sasol Sijo qua su tp Thanh Khõu vnh
ngụn (1728): Xem tỏc phm thỡ thy mi
vn phỏ cỏch t miờu t trc tip tỡnh yờu
nam n n mt phn cuc sng t do ụ
th, i sng khú khn vt v ca ngi dõn

Nghiên cứu đông bắc á, số 7(161) 7-2014

tng lp di Nguyờn lý mang tớnh m
hc ca Sasol Sijo l n ci. Ngay c s t
cỏo iu bt hp lý v mõu thn v thõn
phn xó hi, s chõm bim tng lp thng
tr, s phn ỏnh cuc sng vt c ca dõn
nghốo cng ó c bn to nờn n ci trong
tỏc phm Quan im ny trong lnh vc
m hc ca Sijụ cú th hiu l hỡnh tng a
dng ca nhõn tỡnh th thỏi chim v trớ ch
yu... Hỡnh tng nhõn vt v tỡnh cm m
Sasol Sijo th hin hon ton thoỏt ra khi
cỏi khung ca quan nim Lý hc, miờu t
theo cuc sng hin thc v dc vng mang
tớnh bn nng ca con ngi. T tru tng
cao xa h xung thc t c th, ú l mnh
trung tõm ca m hc Sasol Sijo7 Xột
v bn cht, cm hng thm m õy cú xu

tình yêu có sức mạnh vô bờ bến”8.
Xét từ góc độ tiếp nhận, chính các tác giả
Văn học sử Hàn Quốc (Từ cổ đại đến cuối
thế kỷ XIX) cũng phản tỉnh và bày tỏ chính
kiến về lối nghiên cứu tả khuynh, “bắt vít”,
thiên về đánh giá chủ quan, khiên cưỡng,
nâng quan điểm, hiện đại hóa vấn đề và bộc
lộ rõ cách nhìn phi lịch sử: “Nếu như nói văn
học là tấm gương phản chiếu hiện thực thì
Sasol Sijo chính là chiếc gương kỳ diệu. Ta
thường có quan niệm rằng Sasol Sijo có nội
dung chủ yếu phê phán một cách thẳng thắn
đối với mâu thuẫn mang tính phong kiến.
Nhưng trên thực tế, khó có thể tìm thấy
những bài Sasol Sijo phê phán một cách trực
tiếp như quan niệm trên. Ngược lại, sự miêu
tả các hình tượng nhân vật nêu trên một cách
cụ thể với âm thanh đa dạng có thể coi là
cương lĩnh cơ bản của Sasol Sijo”9… Có thể
coi đây cũng là bài học chung cho giới
nghiên cứu cổ văn ở hai nước và thế giới nói
chung.
Trong xu thế “giải Hán hóa” và “giải thể
thể loại văn học chữ Hán”, văn học Hàn
Quốc thế kỷ XVIII-XIX có xu thế ly tâm
chính thống, mở rộng diện đề tài và phạm vi
phản ánh hiện thực như hệ thống chuyện kín
trong cung cấm, chuyện hoàng hậu bị giam
trong cung điện (tiểu thuyết tư liệu chữ Hán
Quý Sửu nhật ký của tác giả khuyết danh),

cảnh ngộ khác nhau và thế giới tâm hồn con
người. Loại ca từ khuê phòng đặc biệt phù
hợp với sự diễn tả những niềm vui và nỗi
buồn người phụ nữ, những cuộc đời bất
hạnh, những đắng cay phải chịu đựng trong
cuộc sống thường ngày. Những tác phẩm
như Lão thiếu nữ ca (kể về bi kịch người
phụ nữ quá lứa lỡ thì và ước mơ một ngày
hạnh phúc), trường ca Bà mẹ có con trai bị
bỏng (kể về bi kịch gia đình suy sụp, mẹ con
chịu nhiều nỗi khổ, dài tới 1600 câu thơ)…
đã xác định thực tế “khuynh hướng tiểu
thuyết hóa trong ca từ ở cuối thời Choson”.
Rõ ràng việc quan tâm đến số phận người
phụ nữ trên nhiều phương diện khác nhau là
một chỉ số quan trọng trong việc xem xét,
đánh giá diện mạo trào lưu nhân văn ở Hàn
Quốc thế kỷ XVIII-XIX cũng như mọi thời
đại.

Nghiªn cøu ®«ng b¾c ¸, sè 7(161) 7-2014


Nghiên cứu khoa học
i sỏnh vi nn vn hc Vit Nam th
k XVIII-XIX, cú th thy, õy l giai on
phỏt trin trong bi cnh lch s y bin
ng, va cú ni chin va hng ti thng
nht t nc, va xut hin phong tro
nụng dõn khi ngha va cú chng ngoi

n b b ri ni cung cm v ni cụ n khi
chng ra trn... Vi t cỏch l con ngi, h
cú mi cung bc tõm trng vui bun.

Nghiên cứu đông bắc á, số 7(161) 7-2014

Quan trng hn, ngi cung n trong Cung
oỏn ngõm khỳc dỏm bc l rừ nhu cu tỡnh
cm v c vng quan h thõn xỏc vi nh
vua:
Cỏi ờm hụm y ờm gỡ,
Búng dng lng búng mi trp trựng.
Hoc nh ngi chinh ph khao khỏt nh
chng trong Chinh ph ngõm, khụng ha
hn gp g mt cừi tri no khỏc, m
mong c chung sng, tn hng hnh
phỳc ngay gia cuc i trn th ny:
nh muụn kip ch tỡnh ó vy,
Theo kip ny hn thy kip sau.
Vic th hin cỏc sc thỏi thm m t
hiu qu c bit rừ nột h thng truyn
th Nụm vi hng chc tỏc phm, c loi
truyn bỏc hc v bỡnh dõn. Trong s ú, t
ti nh cao ngh thut chớnh l kit tỏc
Truyn Kiu ca Nguyn Du. Th mnh ca
truyn th l kh nng bao quỏt phm vi
hin thc rng ln, xõy dng c nhiu
nhõn vt in hỡnh. Nhiu khớa cnh ni
dung v ngh thut thuc phm trự cỏi p
ó c th hin sõu sc trong cỏc tỏc phm

người yêu là Kim Trọng đánh giá cao:
Như nàng lấy hiếu làm trinh,
Bụi nào cho đục được mình ấy vay.
Thế giới nhân vật trong Truyện Kiều
không chỉ có hai màu sáng tối tương phản
mà đã trở nên đa dạng, sinh động hơn, có cả
nhân vật chính diện, phản diện và nhiều
nhân vật trung gian khác nữa. Thậm chí
ngay nhân vật chính diện Thúy Kiều, trong
tình thế nhất định, cũng có những mặt hạn
chế như cả tin, tham tiền, ăn cắp chuông
vàng khánh bạc nhà Hoạn Thư… Tất cả
những điều này làm nên một bảng màu phạm
trù thẩm mỹ những nét tươi mới, khác biệt
so với giai đoạn văn học trước đây.
Phần lớn các truyện thơ Việt Nam đều
vay mượn cốt truyện từ Trung Quốc nhưng
được sáng tạo lại theo phương thức giản
lược nội dung tự sự và gia tăng yếu tố trữ
tình. Nhờ lời thơ bằng ngôn ngữ tiếng Việt
và vận dụng thành thục các thành ngữ, tục
ngữ, lối cảm, lối nghĩ quen thuộc và chủ yếu
được thể hiện bằng lối thơ lục bát giàu âm
điệu, dễ hiểu, dễ thuộc nên Truyện Kiều có
sức ảnh hưởng sâu rộng trong đông đảo công
chúng10. Có thể coi đây là cái đẹp của sự kết

hợp giữa văn chương bác học hàn lâm với
văn hóa – văn học dân gian mà bằng chứng
là thành tựu thi ca lấn át văn xuôi, tư duy

M. Bakhtin đưa ra: “tiếng cười lưỡng trị” trong đó có sự chửi mắng và khen ngợi, sự
phủ định và khẳng định, sự chết đi và sinh
thành đều hòa nhập vào nhau như hai mặt

10

Xin xem Nguyễn Hữu Sơn: “So sánh Truyện Kiều” với
“Kim Vân Kiều truyện từ sự chuyển đổi loại hình và thể
loại”. Nghiên cứu Văn học, số 11-2005, tr.27-43. Tuyển in

54

trong Nghiên cứu “Truyện Kiều” những năm đầu thế kỷ
XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr.1107-1122.

Nghiªn cøu ®«ng b¾c ¸, sè 7(161) 7-2014


Nghiªn cøu khoa häc
của một quá trình “tái sinh” thông qua sự
cười nhạo và hạ thấp, thông qua sự “văng
vào bộ phận dưới của cơ thể”11… Đặc tính
“lưỡng trị” trên đây chính là sự biểu hiện
những đặc điểm của nhân vật trữ tình trong
thế đối lập và trong tính thống nhất. Điều
này thể hiện sâu sắc trong mối quan hệ giữa
các phạm trù cái bi và cái hài, cái thanh cao
và cái thô tục; giữa khả năng vận dụng các
thể tài văn chương bác học và tư duy thơ ca
dân gian; giữa ý thức về hạnh phúc tình đời

13
Xin xem B. L. Riftin, “Mấy vấn đề nghiên cứu những
nền văn học trung cổ của phương Đông theo phương pháp
loại hình” (Lê Sơn dịch), Tạp chí Văn học, số 2-1974,
tr.107-123.

Nghiªn cøu ®«ng b¾c ¸, sè 7(161) 7-2014

nhất nhà Hoàng Lê) của nhóm tác gia văn
phái họ Ngô (Thế kỷ XVIII-XIX) đã tái hiện
được không khí một thời kỳ lịch sử đầy biến
động và phác họa được những nhân vật có cá
tính rõ nét. Quan sát cả về mặt định tính và
định lượng, cả nội dung và hình thức thẩm
mỹ, nhà Trung Quốc học B. L. Riftin đã đi
tới kết luận hữu lý: “Trong tác phẩm này có
cả những cảnh rất sinh động chứa đựng
những cảm xúc mạnh mẽ, những cảnh như
thế không chỉ điển hình cho văn xuôi lịch sử
mà cho cả văn xuôi trần thuật… Nhưng
nhiệm vụ chung về mặt thẩm mỹ của các tác
giả - nhiệm vụ không chỉ để lại cho đời sau
bản ghi chép một cách đơn thuần những sự
kiện trong thứ tự thời gian của chúng mà
phải miêu tả những sự kiện ấy bằng cách xây
dựng những nhân vật hiện thực, miêu tả
hành động, lời nói của họ, đôi khi cả những
suy nghĩ của họ - và cả bản thân hình thức
nghệ thuật của sự miêu tả rút từ truyền thống
của văn trần thuật vùng Viễn Đông cho

giá trị khảo cứu xã hội và phong tục đương
thời. Tương ứng với cảm hứng nhân văn
trong thi ca, các tác phẩm văn xuôi tự sự
cũng ngày càng thể hiện cái nhìn đa chiều,
phản ánh sâu sắc hơn tính cách và thế giới
tinh thần đa dạng của nhân vật.
Đến chặng đường cuối, trong điều kiện
đất nước bị thực dân Pháp xâm lược (1858),
văn học mau chóng chuyển hướng sang
những vấn đề trung tâm thiết cốt, đề cao ý
chí căm thù giặc và những tấm gương hy
sinh vì đại nghĩa. Có thể nói, nội dung yêu
nước đã trở thành chủ đề chính yếu trong đời
sống văn học, vừa tác động xoay chuyển vừa
qui định những đặc điểm thẩm mỹ cơ bản
của cả giai đoạn. Đồng thời với quá trình
xâm nhập của văn hóa - văn học phương Tây
(chủ yếu là Pháp), văn học Việt Nam cũng tự
thân vận động, mở đường, dần dần cải biến
từ việc sử dụng chữ Hán và Nôm tới Quốc
ngữ Latin hóa, từ giới hạn ảnh hưởng khu
vực phương Đông tới phạm vi thế giới, từ
dân tộc và truyền thống tới quốc tế và canh
tân, hiện đại hóa. Đội ngũ tác giả giai đoạn
này phần lớn là các sĩ phu yêu nước, những
người tham gia phong trào Cần vương chống
Pháp và bước đầu hình thành lớp nhà văn
kiểu mới, viết chữ Quốc ngữ và làm quen
dần với văn minh phương Tây.
Do yêu cầu trực chiến nên văn học giai

XVIII-XIX đã mang màu sắc đô thị khá rõ
nét. Mẫu hình tác giả nhà nho hành đạo và
tài tử có đất phát triển. Các tác phẩm tập
trung thể hiện những nhân vật có cá tính
khác biệt nhau, hướng đến giải phóng con
người cá nhân và người phụ nữ nói riêng, đề
cao hạnh phúc giữa cõi đời trần thế và phê
phán mạnh mẽ những thế lực chà đạp quyền
sống con người. Tất cả hợp lực tạo nên trào
lưu nhân văn và xuất hiện nhiều tác phẩm
đạt đỉnh cao nghệ thuật so với toàn bộ nền
văn học trung đại. Trong đoạn vĩ thanh của
giai đoạn cũng như của cả nền văn học trung
đại, hai tác giả Nguyễn Khuyến và Trần Tế

Nghiªn cøu ®«ng b¾c ¸, sè 7(161) 7-2014


Nghiªn cøu khoa häc
Xương đóng một vai trò thật đặc biệt. Sáng
tác của Nguyễn Khuyến bằng cả chữ Hán và
Nôm nhưng nội dung thơ đã lan toả từ làng
cảnh thôn quê sang Hội Tây, Lấy Tây và đến
thơ Nôm Trần Tế Xương đã bước vào thế
giới đô hội thị thành với một cái tôi tự trào
thực sự phường phố, một lời cảm thán ngậm
ngùi chia đôi thời đại qua bài thơ vịnh cảnh
Sông Lấp: Sông xưa rày đã nên đồng/ Chỗ
làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng
nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng

XIX, nền văn học hai nước Hàn – Việt đủ
sức mạnh trong quá trình hội nhập Đông –
Tây, vững bước tiến vào quá trình hiện đại
hóa kể từ những năm đầu thế kỷ XX và còn
tiếp nối đến ngày nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Komisook - Jungmin - Jung Byung Sul,
Văn học sử Hàn Quốc từ cổ đại đến cuối thế kỷ
XIX (Jeon Hye Kyung - Lý Xuân Chung biên
dịch và chú giải), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2006.
2. Nguyễn Hữu Sơn, “Tương đồng tiến trình
lịch sử văn học trung đại Việt – Hàn”. Nghiên
cứu Đông Bắc Á, số 1-2014, tr. 24-32.
3. Nguyễn Hữu Sơn, “So sánh “Truyện Kiều”
với “Kim Vân Kiều truyện” từ sự chuyển đổi
loại hình và thể loại”, Nghiên cứu Văn học, số
11-2005, tr. 27-43. Tuyển in trong Nghiên cứu
“Truyện Kiều” những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr. 1107-1122.
4. N.I. Niculin, “Về thơ Hồ Xuân Hương”, in
trong Những vấn đề lý luận văn học phương
Đông, Nxb Khoa học, Matxcơva, 1969, tr. 294302 (Tiếng Nga).
5. Nguyễn Hữu Sơn, “Tâm lý sáng tạo trong
thơ Nôm Hồ Xuân Hương”, Tạp chí Văn học, số
2-1991, tr.29-35. In lại trong Văn học trung đại
Việt Nam – quan niệm con người và tiến trình
phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005,
tr. 322-335.
6. B. L. Riftin, “Mấy vấn đề nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status