Sự thay đổi chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học ở việt nam sau năm 1986 (1986 1996) luận văn ths văn học 60 22 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------

VŨ THỊ THU HÀ

SỰ THAY ĐỔI CHUẨN MỰC THẨM MĨ TRONG
TIẾP NHẬN VĂN HỌC Ở VIỆT NAM SAU NĂM 1986
(1986 – 1996)

Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.32

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2011


MỤC LỤC
Mở đầu………………………………………………………………................ 3
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………….

3

2. Lịch sử vấn đề……………………………………………….......................... 5
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu…………………………………………...

11

4. Phƣơng pháp nghiên cứu…………………………………………………….


36

2.1.2. Quan niệm về con người – anh hùng lý tưởng………………………

41

2.1.3 Quan niệm trong sáng tác và tiếp nhận văn học cách mạng………

42

2.2 Yếu tố chuẩn thẩm mĩ mới trong sáng tác và lý luận phê bình văn học 46
sau năm 1986……………………………………………………….
2.2.1. Sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ trên bình diện văn xuôi tiêu biểu

47

2.2.2. Quan niệm mới trong tư duy lý luận phê bình văn học …………….

57

2.2.2.1. Mối quan hệ giữa nhà văn – bạn đọc…………………………

1

58


2.2.2.2. Mối quan hệ giữa văn học và hiện thưc – Văn học và chính trị 60
2.2.2.3. Sự đa dạng, đa chiều trong tiếp nhận văn học…………………


84

3.2.1. Chuẩn thẩm mĩ mới trong tiếp nhận văn học……………………………

84
3.2.2. Những khả năng của chuẩn mực thẩm mĩ mới trong tiếp nhận văn học 88
3.2.3. Những giới hạn của chuẩn mực thẩm mĩ mới trong tiếp nhận văn học

92

3.2.3.1. Từ giới hạn của “cộng đồng diễn giải”……………………......

92

3.2.3.2. Đến giới hạn chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học……..

96

3.3. Tiểu kết…………………………………………………………………..

101

Kết luận……………………………………………………………………….

103

Tài liệu tham khảo………………………………………………………......... 106
Bài báo liên quan đến Đề tài
Phụ lục


cách viết của các tác giả đã tạo nên những tác phẩm có giá trị, tạo bầu
3


không khí sôi nổi trên văn đàn. Cũng trong giai đoạn này, việc “cởi trói”
trong tƣ duy của thế hệ các nhà phê bình lý luận, tiếp nhận lý thuyết từ
phƣơng Tây vào Việt Nam đã tạo nên bầu không khí tranh luận, trao đổi
sôi nổi cùng đội ngũ lý luận phê bình nghiên cứu hùng hậu nhƣ: Phong
Lê, Trần Đình Sử, Trƣơng Đăng Dung, Đỗ Văn Khang, Đoàn Đức
Phƣơng, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Ngọc Thiện, Bùi Việt Thắng… Sự
đổi mới về nhận thức, tƣ tƣởng nghệ thuật khiến cho mọi vấn đề trong
cuộc sống đƣợc phản ánh trong cái nhìn đa diện, nhiều chiều, tiếp nhận
cuộc sống trên bình diện thế sự - đời tƣ thể hiện trong nhiều khía cạnh
của đời sống cá nhân. Sự “cởi trói” trong tƣ duy, nhận thức của ngƣời
sáng tác đã tạo nên sự thay đổi lớn về chức năng văn học, quan niệm văn
học, mối quan hệ giữa văn học và chính trị, mối quan hệ giữa nhà văn và
bạn đọc, cũng nhƣ về bút pháp và cá tính sáng tạo của nhà văn. Sự tìm tòi
đổi mới về nội dung phản ánh, hình thức thể hiện, tự do trong sáng tạo
cũng là căn nguyên dẫn đến những cuộc tranh luận, trao đổi sôi nổi trên
báo và tạp chí trong giai đoạn này nhƣ: Báo Văn nghệ, tạp chí Nghiên
cứu Văn học, Tạp chí Sông Hƣơng, báo Văn nghệ Quân Đội.v.v…
Không khí đổi mới văn học còn thể hiện ở việc, ngƣời tiếp nhận đã
làm tròn sứ mệnh của mình trong việc đọc, tiếp nhận, phản hồi tác phẩm
văn học qua các diễn đàn văn học. Đây chính là giai đoạn thể hiện sự thay
đổi chuẩn mực thẩm mỹ trong hoạt động tiếp nhận văn học, nhất là sau
năm 1986. Bởi lẽ, các giá trị về thẩm mỹ đã thay đổi và tác động trực tiếp
tới ngƣời sáng tác và ngƣời tiếp nhận, dẫn đến những thay đổi trong sáng
tác và tiếp nhận văn học. Trong chu trình đời sống văn học: Đời sống –
nhà văn – văn bản – ngƣời đọc, ngƣời đọc có vị trí quan trọng. Chính vì
lẽ đó, việc nghiên cứu hoạt động tiếp nhận văn học sẽ làm rõ những thay

việc đọc của ngƣời đọc chính là sự “cụ thể hóa” văn bản văn học. Việc
“cụ thể hóa” ở mối ngƣời đọc luôn có sự khác nhau. Roman Ingarden là
ngƣời đã có những phát hiện mới về tác phẩm văn học từ việc vận dụng
1

Roman Ingaden (2001), Tác phẩm văn học, Trƣơng Đăng Dung giới thiệu và dịch, Văn học nƣớc
ngoài số 3, tr155 - 188

5


Hiện tƣợng luận (phenomenology) vào công trình nghiên cứu. Tuy nhiên
công trình nghiên cứu của ông mới chỉ dừng lại là quan điểm có tính
phƣơng pháp luận.
Năm 1960 công trình “Chân lí và phƣơng pháp” 2 của Hans Georg
Gadamer nhà triết học ngƣời Đức dựa trên quan điểm Tƣờng giải học
(Hermeneutics) đã đi vào nghiên cứu và khám phá sâu sắc mối quan hệ
văn bản và ngƣời đọc. Theo đó, văn bản nghệ thuật đƣợc soi xét và khám
phá trong cấu trúc của ngôn từ động và còn đƣợc đặt trong mối quan hệ
với chủ thể tiếp nhận. Hans Georg Gadamer đã đặt ra nhiều câu hỏi với
đại ý rằng: nghĩa của văn bản thể hiện qua cái gì? Vai trò của sự chú ý
của nhà văn trong nghĩa này là gì? Có thể hiểu đƣợc những tác phẩm mà
về mặt lịch sử và văn hóa là xa lạ đối với ngƣời đọc? Có thể hiểu sự
khách quan hay mọi sự hiểu đều lệ thuộc vào tình thế lịch sử cụ thể. Tiếp
theo là sự xuất hiện của Hans Robert Jauss và W. Iser là hai đại diện tiểu
biểu cho Mỹ học tiếp nhận (Receptive ethetics) đã đƣa ra quan điểm của
mình qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu “Lịch sử văn học như là sự
khiêu khích đối với khoa học văn học”( H. R. Jauss 1970)3, “Kết cấu vẫy
gọi, Hoạt động đọc” (W.Iser). Các nhà nghiên cứu đã đƣa ra những
hƣớng nghiên cứu khám phá mới về mối quan hệ tƣơng tác giữa văn bản

từng giai đoạn. Việc đặt tác phẩm văn học trong mối quan hệ với ngƣời
đọc là một hƣớng nghiên cứu có chủ đích liên quan đến vấn đề chủ thể
tiếp nhận trong tiếp nhận văn học. Quá trình từ hiện thực cuộc sống đến
chủ thể sáng tạo, từ khách thể văn bản đến chủ thể tiếp nhận là quá trình
vận động không ngừng, ở đó tác phẩm văn học không phải là sản phẩm
cố định, mà là quá trình.
Có thể nói, điểm qua một số công trình của các nhà nghiên cứu
nƣớc ngoài mà ngƣời viết tiếp cận gián tiếp qua các bài viết, bài dịch trên
sách và tạp chí và các công trình còn sơ lƣợc, chƣa đƣợc cụ thể. Mặt
khác, đây là mảng lý luận còn mới ở Việt Nam, tƣ liệu còn hạn hẹp nên
những vấn đề chúng tôi nêu trong bài viết chƣa đƣợc đầy đủ và mang tầm
khái quát khoa học.
b. Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề tiếp nhận văn học đƣợc coi là một mảng lớn, là vấn đề quan
trọng của lý luận văn học. Nhiều công trình, bài viết của các nhà nghiên
cứu phƣơng Tây đã có ảnh hƣởng và tác động không nhỏ đến các nhà
nghiên cứu trong nƣớc. Vấn đề tiếp nhận văn học đƣợc nhiều nhà nghiên
7


cứu quan tâm, thu hút sự chú ý của dƣ luận đƣợc đăng tải trên báo chí,
qua các diễn đàn văn học nghệ thuật.
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, vấn đề tiếp nhận văn học xuất
hiện qua nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu thu hút sự quan tâm chú ý
của dƣ luận. Năm 1971, Tạp chí Văn học số 4 có đăng bài của Nguyễn
Văn Hạnh: “Ý kiến của Lênin về mối quan hệ giữa văn học và đời sống”.
Bài viết đã đặt ra yêu cầu đối với nhà nghiên cứu về việc chú ý đến phản
ứng của ngƣời đọc dựa trên quan điểm thực tiễn trong nhận thức lý luận
của Lênin. Trong bài viết ông đã nhấn mạnh “Giá trị của một tác phẩm
thực ra không phải chỉ đóng khung trong phạm vi sáng tác mà còn lan

phát triển nó trở thành một hƣớng nghiên cứu tích cực trong việc đánh giá
vị trí quan trọng của công chúng trong chu trình đời sống văn học…Cùng
năm đó, Tạp chí Văn nghệ số 13 (26.03.1986) đăng bài của đồng chí Hà
Xuân Trƣờng về “Lý luận phê bình văn học nghệ thuật” và bài “Trò
chuyện về một vấn đề của văn học hiện nay” Văn nghệ số 19, ngày
10.05.1986.
Tiếp nối quá trình nghiên cứu về vấn đề tiếp nhận văn học, đến thập
niên 90 của thế kỷ XX, vấn đề tiếp nhận văn học đƣợc quan tâm nghiên
cứu nhiều hơn. Trên tinh thần đổi mới văn nghệ của Đảng sau năm 1986,
vấn đề đổi mới văn học soi chiếu trên bình diện tiếp nhận văn học ở nhiều
góc độ và khía cạnh riêng biệt, các nghiên cứu chú trọng đến vấn đề công
chúng, tiếp nhận – nhiều bài viết có tính chất đánh giá gợi mở về vấn đề
tiếp nhận văn học một hƣớng nghiên cứu mới trong Xã hội học Văn học.
Năm 1990 trong bài “Tiếp nhận văn học một số vấn đề thời sự” đăng
trên tạp chí Văn nghệ số 28 (7.1990) đã chú ý đến phẩm chất của chủ thể
tiếp nhận. Tác giả Nguyễn Thanh Hùng nhấn mạnh đến quá trình biển đổi
chủ thể tiếp nhận thành chủ thể của văn học. Lý thuyết tiếp nhận văn học
tập trung vào việc sử dụng văn bản nghệ thuật cho hiệu quả [64]. Bàn về
vấn đề tiếp nhận trong mối quan hệ văn học và hiện thực chính là mối
quan hệ tác động qua lại giữa nhà văn và bạn đọc “Sự tiếp nhận tác phẩm
không phải là sự tiếp nhận một lần là xong và cũng không ổn định. Nó
9


thay đổi, có khi thay đổi ở ngay trong một chủ thể tiếp nhận với những
lần đọc tác phẩm khác nhau” [50; tr214]
Công trình của Nguyễn Văn Dân “Văn học nghệ thuật và sự tiếp
nhận” [11] và “Phương pháp luận nghiên cứu văn học” nhà nghiên cứu
đã giới thiệu bài “Lý luận tiếp nhận văn học với sự tiếp nhận văn học
nghệ thuật thế giới ở Việt Nam hiện nay” [8; tr 21] đề cập đến lý thuyết

cho chúng tôi khi thực hiện đề tài.
Đại hội Đảng VI - 1986 với chủ trƣơng “cởi trói” đổi mới toàn diện
đời sống văn nghệ. Giai đoạn từ 1986 đến năm 1996 có thể coi là giai
đoạn đổi mới quyết liệt nhất, cởi mở nhất, tự do nhất của đời sống văn
nghệ Việt Nam với các cây bút xuất sắc trong nhiều thể loại, đa diện
trong các vấn đề phản ánh. Với những thành tựu và giá trị nổi bật của văn
học giai đoạn này, chúng tôi lựa chọn phạm vi thời gian nghiên cứu từ
1986 đến năm 1996 chặng đƣờng 10 năm đổi mới và phát triển của văn
học Việt Nam. Bên cạnh đó, chặng đƣờng này cũng đánh dấu những bƣớc
chuyển biến thay đổi trong quan niệm thẩm mỹ về văn học, quan niệm về
sáng tác, các cuộc tranh luận văn chƣơng, phê bình đánh giá của công
chúng đối với giai đoạn văn học qua các bài viết trên sách, báo, tạp chí.
Với hƣớng nghiên cứu mới về hoạt động tiếp nhận văn học nhìn từ lý
thuyết tiếp nhận hiện đại, ngƣời viết mong muốn góp phần tìm hiểu một
cách có hệ thống: Sự thay đổi chuẩn mực thẩm mỹ trong tiếp nhận văn
học ở Việt Nam sau năm 1986 (1986 – 1996)
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vấn đề tiếp nhận văn học là vấn đề quan trọng của lý thuyết tiếp
nhận hiện đại. Ứng dụng lý thuyết này vào nghiên cứu những vấn đề của
tiếp nhận văn học từ 1986 đến 1996 là sự lựa chọn phù hợp. Tìm hiểu sự
thay đổi chuẩn thẩm mĩ chính là tìm hiểu các vấn đề của đời sống văn học
sau đổi mới soi chiếu trên bình diện của tiếp nhận văn học, từ đó khám
phá và khẳng định vai trò của chủ thể tiếp nhận trong tiếp nhận hiện đại.
Vấn đề chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học là vấn đề thu
hút đƣợc nhiều sự quan tâm, tìm hiểu, khám phá của các nhà lý luận phê
11


bình và nghiên cứu văn học. Sử dụng khái niệm chuẩn mực thẩm mĩ
trong tiếp nhận văn học, ngƣời viết muốn giới thuyết ở mức độ đọc, với

Luận văn nghiên cứu về sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ trong tiếp nhận
văn học nên ngƣời viết luận văn đã sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu
trong khoa học văn học:
- Phƣơng pháp đối chiếu so sánh
- Phƣơng pháp phân tích tổng hợp
- Phƣơng pháp khảo sát, thống kê
Bên cạnh đó, ngƣời viết cũng sử dụng một số phƣơng pháp của triết học
hiện tƣợng luận. Phƣơng pháp của khoa học liên ngành: lý thuyết cấu trúc
– kí hiệu học.
Để tìm hiểu rõ hơn về thực tiễn tiếp nhận văn học, về những thay đổi
chuẩn mực thẩm mĩ trong tiếp nhận, trong khuôn khổ luận văn cho phép,
chúng tôi ứng dụng phƣơng pháp nghiên cứu xã hội học vào nghiên cứu
vấn đề tiếp nhận trong chặng đƣờng mƣời năm đổi mới của văn học Việt
Nam (1986 - 1996), tìm ra những thay đổi quan trọng của chuẩn mực
thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học. Từ đó ngƣời viết khám phá và khẳng
định vai trò của chủ thể tiếp nhận qua sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ của văn
học Việt Nam sau đổi mới, cũng nhƣ khẳng định đƣợc khuynh hƣớng
nghiên cứu mới trong nghiên cứu về Xã hội học Văn học ở Việt Nam, đó
là hƣớng nghiên cứu về ngƣời đọc, công chúng văn học
5. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn
gồm có ba chƣơng:
Chƣơng 1: Vấn đề chủ thể tiếp nhận trong lý thuyết tiếp nhận văn học
hiện đại
Chƣơng 2: Những tiền đề của sự thay đổi chuẩn thẩm mĩ trong tiếp
nhận văn học sau năm 1986
Chƣơng 3: Vai trò của chuẩn thẩm mĩ mới trong tiếp nhận văn học sau
năm 1986

13

thuật có mối liên quan đến con ngƣời. Con ngƣời trở thành trung tâm của
nghệ thuật. Thông qua sự “thanh lọc” nghệ thuật làm cho con ngƣời đẹp
hơn, cao thƣợng hơn, thoát khỏi những dục vọng tầm thƣờng và xấu xa.
“Sự mô phỏng đó nhờ vào ngôn ngữ - ngôn ngữ này trong mỗi phần có sự
14


trau chuốt khác nhau, bằng hành động chứ không phải bằng câu chuyện
kể, bi kịch qua cách khêu gợi nên sự xót thương và sợ hãi, thực hiện sự
thanh lọc các cảm xúc tương tự” [1; tr190]. Chính từ những luận thuyết
này của Aristote đã có những ảnh hƣởng sâu sắc đến các nhà văn cổ đại
và lịch sử phát triển của tƣ duy lý luận văn học. Sự “khuôn mẫu” định sẵn
trong sáng tạo thơ ca với tác phẩm chính là dấu ấn của hệ thống thi pháp
đƣợc coi là quy phạm mẫu mực trong việc sáng tạo thơ ca. Các quan
điểm nghệ thuật này của Aristote đã có ảnh hƣởng sâu sắc không chỉ cùng
thời mà còn đƣợc kế thừa và phát triển đến thời Phục Hƣng, chủ nghĩa cổ
điển thế kỷ XVII, thời kỳ Khai Sáng thế kỷ XVIII. Tƣ tƣởng của Aristote
đƣợc coi là nền tảng cơ bản cho sự phát triển của Mỹ học và Lý luận văn
học. Tuy nhiên, chính từ quan niệm của Aristote về nghệ thuật sáng tạo
đã bị thu hẹp lại ở góc độ tác giả với tƣ cách là chủ thể sáng tạo và cả cho
ngƣời đọc.
Từ những nguyên tắc “mô phỏng”, “bắt chƣớc” của Aristote là tiền
thân của lý thuyết phản ánh, vấn đề văn học và hiện thực đặt trong mối
quan hệ với nhau đã đƣợc xác lập. Bƣớc sang thế kỷ XIX, vấn đề văn học
và hiện thực đƣợc chú ý, quan tâm và khám phá với Chủ nghĩa hiện thực
và nguyên tắc văn học phản ánh chân thực cuộc sống “Tái hiện sự thật
thực tại cuộc sống một cách chân thực và mạnh mẽ là hạnh phúc cao quý
nhất của nhà văn ngày cả khi sự thật ấy không phù hợp với những thiện
cảm riêng của nhà văn” [55; tr539]. Yếu tố hiện thực chiếm giữ vai trò
quan trọng chi phối trực tiếp đến việc sáng tạo văn học, nhà văn trở thành

hình ảnh tái hiện của thế giới khách quan, với những “mô phỏng tự
nhiên” bằng những thủ pháp nghệ thuật. Mối quan hệ giữa văn học và
hiện thực, tác phẩm văn học – hiện thực cuộc sống luôn tồn tại và song
hành cùng nhau. Yếu tố hiện thực là yếu tố chính quyết định đến sự ra đời
của tác phẩm văn học bên cạnh yếu tố xuất xứ và nguyên nhân... Vì vậy,
tác phẩm văn học sẽ không có giá trị nếu nhƣ không phản ánh đƣợc hiện
thực với những sự thật của cuộc sống. Vấn đề hiện thực xã hội chính là

16


vấn đề chính cần tìm hiểu và nhận thức trong nghiên cứu về tác phẩm văn
học.
1.1.2. Mối quan hệ giữa văn bản văn học và tác giả
Thế kỷ XIX, tƣ duy văn học phƣơng Tây đề cập chủ yếu đến mối
quan hệ tác phẩm văn học và hiện thực cuộc sống. Phản ánh hiện thực là
tiêu chí để đánh giá sự thành công của tác phẩm. Song hành cùng mối
quan hệ tác phẩm và hiện thực, mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và tác
giả lại trở thành mối quan hệ truyền thống trong tƣ duy văn học Phƣơng
Đông. Tác phẩm văn học đƣợc quan niệm là nơi chuyển tải kí thác tâm
sự, giãi bày tƣ tƣởng, tình cảm – cảm xúc của nhà văn. Nhƣ vậy, tác giả
chính là ngƣời giữ vai trò chủ đạo trong hành trình hình thành tác phẩm
văn học: Cuộc sống – Tác giả - Tác phẩm.
Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và tác giả đƣợc thể hiện rõ qua
các quan niệm “thi dĩ ngôn chí” thời chiến quốc, tiếp đó là quan niệm văn
học Tống Nho “văn dĩ tải đạo” đã có sự ảnh hƣởng sâu sắc đến thế hệ các
nhà văn phong kiến. Nếu nhƣ giai đoạn trƣớc đó, nhà văn đƣợc coi là
ngƣời thƣ ký trung thành của thời đại thì đến giai đoạn sau này, nhà văn
trở thành chủ thể sáng tác tác phẩm văn học. Tác phẩm là “con đẻ” là sản
phẩm tinh thần của nhà văn. Vì lẽ đó, sự tồn tại cũng nhƣ giá trị của tác

thôi.
Tác phẩm văn học từ quan niệm truyền thống về mối quan hệ hiện
thực và tác giả chƣa đƣợc coi là đối tƣợng nghiên cứu độc lập mà nó chịu
sự ảnh hƣởng của hiện thực và tác giả. Do vậy, nghiên cứu văn học chủ
yếu căn cứ vào những thông tin hiện thực đƣợc phản ánh, về thời đại, cá
nhân tác giả với nhiều yếu tố nội tại để đánh giá vai trò, vị trí của tác
phẩm. Mối quan hệ với hiện thực và tác giả là quan hệ nhân quả, thông
qua những dữ kiện cuộc sống và chủ thể sáng tạo là nhà văn. Tác phẩm
văn học trở thành “công cụ” để khám phá hiện thực và tìm hiểu về đời
sống, tƣ tƣởng, tình cảm của nhà văn. Chính vì lẽ đó, khi tìm hiểu về tác
phẩm văn học chủ yếu là tìm hiểu về nội dung tƣ tƣởng đƣợc chuyển tải
qua tác phẩm, còn những vấn đề thuộc về hình thức nghệ thuật không
18


mấy đƣợc chú ý đến. Các hình thức nghệ thuật trở thành phƣơng tiện,
chất liệu để nhà văn chuyển tải ý tƣởng của mình. Ngƣời đọc chỉ tìm hiểu
đƣợc những vấn đề mà nhà văn muốn chuyển tải qua tác phẩm, chứ ngƣời
đọc chƣa hiểu đƣợc, những giá trị và ý nghĩa mà tác phẩm muốn gửi đến
các thế hệ ngƣời đọc. Vấn đề chủ thể sáng tạo trong nghiên cứu tác phẩm
ở tƣ duy văn học truyền thống đƣợc coi là trung tâm, tuy nhiên tìm hiểu
tác phẩm sẽ không hoàn chỉnh nếu chỉ một chiều phiến diện bỏ qua vai
trò tiếp nhận của ngƣời đọc.
Nghiên cứu tác phẩm văn học trong mối quan hệ với hiện thực và
tác giả cũng đƣợc ứng dụng vào nghiên cứu đời sống văn học Việt Nam:
Tác giả - Tác phẩm – Ngƣời đọc. Quan niệm thuận chiều này đã tồn tại
trong một thời gian dài và và cũng có những tầm ảnh hƣởng nhất định
đến việc nghiên cứu văn học, giảng dạy, học tập, trở thành một thói quen
nếp nghĩ cho đến ngày nay vẫn chƣa có “thỏa hiệp” thỏa đáng. Vai trò
của tác giả, các vấn đề liên quan đến tác giả vẫn đƣợc coi là những nhân

Phƣơng Lựu trong bài Mười trường phái phê bình văn học phương Tây
hiện đại đã chỉ ra rằng: “Xét về mặt chủ thể tiếp nhận, sự cụ thể hóa cũng
là tất yếu. Bởi vì sự hƣởng thụ thẩm mĩ bao giờ cũng mang tính chất cụ
thể toàn vẹn. Gặp những điểm chƣa xác định, ngƣời đọc hoặc là suy
tƣởng từ những điểm đã xác định trong tác phẩm để bổ sung hoặc tƣởng
tƣợng thêm theo ý hƣớng của mình, tất nhiên hai mặt này không tách rời
nhau. Nhƣng dù suy nghĩ hay tƣởng tƣợng thêm cũng không tách rời với
kinh nghiệm quá khứ và tâm thế đƣơng thời của ngƣời đọc cụ thể” [54;
Tr100]. Sử dụng thuật ngữ chủ thể tiếp nhận, nhà lí luận Trƣơng Đăng
Dung đã nhấn mạnh “Một tác phẩm văn học được gọi là tác phẩm văn
học với điều kiện của nó chỉ có giá trị văn học. Nhưng giá trị văn học nếu
có chỉ hình thành trong quá trình đọc và sau khi đọc mà thôi. Vậy quá
trình từ văn bản đến tác phẩm diễn ra như thế nào? Thực chất giá trị của
tác phẩm là gì? Có thể đánh giá được tác phẩm văn học không? Việc
nghiên cứu văn bản văn học trong mối liên hệ với chủ thể tiếp nhận sẽ
giúp ra trả lời một cách khoa học cho những câu hỏi đó” [18; tr24] Chủ
20


thể tiếp nhận và khách thể luôn đƣợc đặt trong mối quan hệ qua lại với
nhau. Mối quan hệ này thực chất là “Sự gặp gỡ giữa người đọc và tác
phẩm là sự gặp gỡ giữa chủ thể tiếp nhận và khách thể văn học. Mối
quan hệ giữa khách thể và chủ thể được nhiều nhà lý luận gọi là sự phản
ánh” [18; tr34]. Khi giải thích về chủ thể thẩm mĩ, chủ thể tiếp nhận cũng
đƣợc lý giải qua sự phân tích đánh giá giá trị thẩm mĩ của văn học.
Theo Từ điển văn học (bộ mới), tiếp nhận thẩm mĩ cùng tham dự
và sáng tạo với chủ thể tiếp nhận “Một dạng thức hoạt động thẩm mĩ
đƣợc thực hiện ở việc tiếp nhận (thƣởng thức, cảm thụ) tác phẩm nghệ
thuật với tƣ cách một giá trị thẩm mĩ; sự tiếp nhận này luôn đi kèm với
tình cảm (trải nghiệm) thẩm mĩ. Tiếp nhận thẩm mĩ không phải là sự tái

văn bản và tác phẩm
Ở Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX vấn đề tiếp nhận văn
học đã đƣợc giới thiệu vào Việt Nam. Trong chuyên luận “Tác phẩm văn
học nhƣ là quá trình” của Trƣơng Đăng Dung, nhà nghiên cứu cho rằng:
“Văn bản văn học, sản phẩm cuối cùng của sự sáng tạo nghệ thuật tưởng
như đã hoàn thành khi nhà văn đặt dấu chấm hết… nhưng thực ra đó chỉ
là bước đầu tiên quan trọng để nó trở thành tác phẩm văn học” (tr23) và
nhà văn khi sáng tạo văn bản, coi văn bản nhƣ là cái để biểu đạt, một hệ
thống tạo nghĩa “Văn bản văn học là tập hợp các ký hiệu ngôn ngữ, có
đời sống riêng, có năng lực ngữ nghĩa riêng và tồn tại độc lập với tác giả
của nó” [91; tr57]. Trên hành trình từ Văn bản – đến tác phẩm là hành
trình của sự “giải mã” các ký hiệu đã đƣợc “mã hóa”. Bởi văn bản luôn
có khả năng tạo nghĩa. Tác phẩm văn học với “lớp lớp câu chữ phi vật
thể, ẩn chứa nhiều nghĩa khác nhau, luôn biến động và không thể khoanh
vùng, tác phẩm văn học có phƣơng thức tồn tại riêng, thông qua ngƣời
đọc” [23; tr311]. Nhƣ vậy, chỉ khi có ngƣời đọc thì văn bản – sự sáng tạo
của nhà văn mới trở thành tác phẩm văn học thực thụ. Sự có mặt của
ngƣời đọc trở thành “sợi dây” gắn kết, tạo lập tầm quan trọng của tác
phẩm trong chu trình đời sống văn học bên cạnh yếu tố tác giả. Khám phá
văn bản từ phƣơng diện cấu trúc bên trong chúng ta thấy có ba yếu tố
22


luôn gắn kết cùng nhau: Đó là cái biểu đạt, cái đƣợc biểu đạt và nghĩa.
Văn bản khi thông qua việc đọc và thƣởng thức thì khi đó việc “tạo
nghĩa” cho văn bản sẽ hƣớng đến một kết cấu hoàn chỉnh của tác phẩm
văn học. Nhƣ vậy, nhà nghiên cứu Trƣơng Đăng Dung đề cập đến
Derrida với giải cấu trúc, các ký hiệu ngôn ngữ luôn đƣợc coi là “ngôn từ
động”, nó không “có sự ổn định về nghĩa” mà sự ổn định ấy luôn bị phá
vỡ bởi ngƣời đọc. Nhƣ vậy văn bản chỉ trở thành tác phẩm khi có ngƣời

thành tác phẩm phụ thuộc vào trình độ của ngƣời đọc. Nhƣ vậy, giữa văn
bản và tác phẩm có sự khác nhau về nguyên tắc. Văn bản và tác phẩm
không “trùng khít” lên nhau, chỉ có tác phẩm văn học khi có ngƣời đọc,
tiếp nhận văn bản. Trong mối quan hệ, tác giả - tác phẩm - ngƣời đọc cho
thể thấy rằng: Tác giả là ngƣời phát ngôn, những phát ngôn đó ghi lại
bằng kí hiệu văn bản, với sự mã hóa của ngôn ngữ, khi ngƣời đọc giải mã
các “mã văn bản đó” khi đó văn bản trở thành tác phẩm văn học. Có thể
nói, quan niệm về tác phẩm văn học trong lý thuyết tiếp nhận hiện đại là
chỉ ra mối quan hệ giữa tác phẩm và độc giả, đề cao sự sáng tạo của
ngƣời đọc, chứ không chỉ quan tâm đến mối quan hệ tác giả - tác phẩm
nhƣ trƣớc.
Bàn về vấn đề nhà văn – văn bản – tác phẩm – ngƣời đọc, nhà
nghiên cứu Trần Thanh Đạm đã nhấn mạnh đến tác phẩm văn học trong
tất cả các khâu từ phát ngôn của tác giả - diễn ngôn của tác phẩm – tiếp
nhận diễn ngôn của độc giả. Có nhƣ vậy, khi nghiên cứu về ngƣời đọc, về
sự tiếp nhận tác phẩm mới có cái nhìn toàn diện hơn và chắc chắn hơn.
Còn tác giả Đặng Anh Đào “Theo tôi nhận xét thì ngay R. Ingarden cũng
gọi sự đọc là sự cụ thể hóa tác phẩm tồn tại dƣới dạng văn bản. Nhƣ vậy
ông này cũng không loại bỏ sự đồng nhất giữa văn bản và tác phẩm để
cho rằng chỉ đi vào sự đọc thì văn bản mới trở thành tác phẩm văn học”
[28; tr10, 17].
Nhƣ vậy, mối quan hệ giữa văn bản và tác phẩm luôn đƣợc nhiều
nhà lý luận và nghiên cứu quan tâm. Từ văn bản đến tác phẩm là một quá

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status