Lời mở đầu
Kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập dần với kinh tế thế giới và thị
trờng chứng khoán cũng không nằm ngoài quá trình đó. Sự hình thành và phát triển
thị trờng chứng khoán sẽ làm cho bộ khung của nền kinh tế thị trờng nớc ta ngày
càng trở nên đầy đủ, hoàn thiện và trong một tơng lai không xa thị trờng chứng
khoán Việt Nam sẽ có vai trò nh chiếc xơng sống của nền kinh tế. Việc thu hút
vốn đầu t nớc ngoài là một vấn đề đợc Đảng và Nhà nớc ta rất quan tâm do nguồn
vốn huy động trong nớc với quy mô nhỏ không thể đáp ứng đủ nhu cầu phát triển
kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay. Bên cạnh kênh huy động vốn truyền thống
qua hệ thống các ngân hàng, thị trờng chứng khoán cũng là một kênh huy động
vốn có rất hiệu quả, nhanh chóng và ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh
tế.
Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, thị trờng chứng khoán là một phạm trù hết
sức mới mẻ, không những về mặt lý thuyết mà còn cả về mặt thực hành. Thị trờng
chứng khoán Việt Nam với cha đầy mời năm tuổi còn quá non trẻ, quy mô thị tr-
ờng còn rất bé. Chính vì vậy, Chính phủ Việt Nam đang từng bớc hoàn thiện khung
pháp lý nhằm đẩy mạnh sự phát triển của thị trờng chứng khoán Việt Nam. Thực tế
cho thấy, sự tham gia của nhà đầu t nớc ngoài trong những năm vừa qua đã mang
lại cho kinh tế Việt Nam nguồn vốn đầu t trực tiếp khá lớn đồng thời mang lại
những bài học kinh nghiệm quý báu cho các nhà đầu t chứng khoán trong nớc.
Việc hiểu rõ thực trạng thu hút đầu t nớc ngoài qua TTCK ở Việt Nam trong thời
gian qua là một việc cần thiết để có thể thấy những thành tựu đạt đợc, những hạn
chế còn tồn tại từ đó có hớng giải quyết phù hợp, góp phần tăng cờng sức hấp dẫn
của thị trờng chứng khoán Việt Nam đối với nhà đầu t nớc ngoài.
1
Nhận biết đợc tầm quan trọng đó, em đã chọn nghiên cứu đề tài: "Tác động
của thu hút đằu t nớc ngoài đối với sự phát triển thị trờng chứng khoán trong
xu thế hội nhập ở Việt Nam " cho khoá luận tốt nghiệp của mình
Khoá luận tốt nghiệp gồm ba chơng:
Chơng I : Tổng quan về thị trờng chứng khoán
Chơng 2: Thực trạng tham gia của nhà đầu t nớc ngoài trên thị trờng chứng khoán
phát cũng tơng tự ở Pháp, Hà Lan, các nớc Bắc Âu, các nớc Tây Âu và Bắc Mỹ.
Lịch sử phát triển các thị trờng chứng khoán thế giới trải qua một sự phát triển
thăng trầm lúc lên, lúc xuống. Vào những năm 1875 1913, thị trờng chứng
khoán thế giới phát triển huy hoàng cùng với sự tăng trởng của nền kinh tế thế giới
lúc đó, nhng rồi đến ngày thứ Năm đen tối, tức ngày 29/10/1929, thị trờng chứng
khoán Tây Âu và Nhật Bản đã khủng hoảng. Mãi cho tới khi chiến tranh thế giới
3
thứ hai kết thúc, các thị trờng mới dần phục hồi và phát triển mạnh và cho tới năm
1987, một lần nữa các thị trờng chứng khoán trên thế giới điên đảo với ngày thứ
Hai đen tối do hệ thống thanh toán kém cỏi không đảm đơng đợc yêu cầu của giao
dich, sụt giá chứng khoán mạnh, gây mất lòng tin và phản ứng dây chuyền mà hậu
quả của nó còn nặng hơn cuộc khủng hoảng năm 1929. Gần đây nhất, thị trờng
chứng khoán ở các nớc và lãnh thổ Đông á, Nga và một số thị trờng ở châu Mỹ
cũng đã rơi vào vòng xoáy của cơn lốc khủng hoảng tài chính tiền tệ, giảm lòng tin
và có tính chất lây lan, tạo ra sự suy giảm ghê gớm chỉ số giá chứng khoán.
Cho đến nay, các nớc trên thế giới đã có khoảng trên 160 sở giao dịch chứng
khoán phân tán trên khắp các châu lục, bao gồm cả các nớc phát triển trong khu
vực Đông Nam á vào những năm 1960 1970 và những nớc nh Ba Lan,
Hunggary, Séc, Nga, Trung Quốc vào những năm đầu 1990 ...
Thị trờng chứng khoán Việt Nam ra đời sau một thời gian dài chuẩn bị và thai
nghén. Từ năm 1992, một chủ trơng đã đợc thông qua nhằm phát triển thị trờng
chứng khoán thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Năm
1996, Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nớc (UBCKNN) đợc thành lập và trở thành cơ
quan quản lý nhà nớc duy nhất đối với thị trờng chứng khoán. Ngày 20/7/2000,
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK Tp.HCM) đ-
ợc khai trơng và thành lập theo quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998.
Việc đa TTGDCK TPHCM vào hoạt động đánh dấu một bớc phát triển quan trọng
của thị trờng tài chính Việt Nam. Mặc dù quy mô thị trờng ban đầu còn nhỏ bé nhng
đã thu hút đợc sự quan tâm của công chúng đầu t trong và ngoài nớc. Từ ngày
08/03/2005, TTGDCK thứ 2 của Việt Nam là Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà
70/2006/QH 11 đợc Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá XI, kì
họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006, có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2007,
chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của ngời sở hữu đối
với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán đợc thể hiện dới hình
thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu,
chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán,
hợp đồng tơng lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán. Định nghĩa mới này
đã có sự nhìn nhận mở rộng hơn, chứng khoán không chỉ đợc thể hiện dới hình thức
chứng chỉ hay bút toán ghi sổ nh trớc đây nữa mà còn đợc ghi nhận dới hình thức dữ
liệu điện tử, sự bổ sung này là hoàn toàn phù hợp với thực tế tính chất của chứng khoán
trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay.
2.2 Thị trờng chứng khoán
Thị trờng chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập
hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán
Nh vậy có thể coi thị trờng chứng khoán là nơi tập trung và phân phối các nguồn
vốn tiết kiệm. Tập trung các nguồn tiết kiệm để phân phối lại cho những ai muốn sử
dụng các nguồn tiết kiệm đó theo giá mà ngời sử dụng sẵn sàng trả và theo phán đoán
của thị trờng về khả năng sinh lời từ các dự án của ngời sử dụng. Thị trờng chứng
khoán thực chất là quá trình vận động của t bản tiền tệ. Các chứng khoán mua bán trên
thị trờng chứng khoán có thể đem lại thu nhập cho ngời nắm giữ nó sau một thời gian
nhất định và đợc lu thông trên thị trờng chứng khoán theo giá cả thị trờng, do đó bề
ngoài nó đợc xem nh là một t bản hàng hoá. Có thể nói, thị trờng chứng khoán là nơi
mua bán các quyền sở hữu về t bản, là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng
hoá.
Thị trờng chứng khoán có thể tập trung hoặc phi tập trung. Hình thái điển hình của
thị trờng chứng khoán là Sở giao dịch chứng khoán (Stock Exchange). Tại Sở giao
6
dịch chứng khoán, các lệnh mua và bán chứng khoán đợc khớp để hình thành giá
giao dịch.
Thị trờng chứng khoán phi tập trung còn gọi là thị trờng OTC (Over the couter).
phát hành ở thị trờng sơ cấp. Quá trình mua đi bán lại này có thể mang lại lợi
nhuận cho các nhà đầu t và tạo nên tính liên tục của thị trờng chứng khoán.
4. Chức năng:
4.1 Huy động vốn đầu t cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu t mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi
của họ đợc đa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản
xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu t của công ty, thị trờng chứng
khoán đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc
dân. Thông qua thị trờng chứng khoán, chính phủ và các chính quyền ở các địa ph-
ơng cũng huy động đợc các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu t phát triển hạ
tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
4.2 Cung cấp môi trờng đầu t cho công chúng
Thị trờng chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trờng đầu t lành
mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trờng rất
khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu t có thể lựa
chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu, sở thích của mình. Chính vì
vậy, thị trờng chứng khoán góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
4.3 Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có thị trờng chứng khoán các nhà đầu t có thể chuyển đổi các loại chứng
khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả
năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với ngời
8
đầu t. Thị trờng chứng khoán hoạt động càng năng động và càng có hiệu quả thì
càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên
thị trờng.
4.4 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của doanh nghiệp đợc phản ánh một
cách tổng hợp và chính xác giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các
doanh nghiệp đợc nhanh chóng và thuận tiện, từ đó tạo ra một môi trờng cạnh
tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công
trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực tiếp đấu giá.
Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ nhà môi giới đợc nhập vào hệ thống
máy chủ của sở giao dịch chứng khoán. Hệ thống máy chủ này sẽ xác định mức
giá sao cho tại mức giá này, chứng khoán giao dịch với số lợng cao nhất.
5.3. Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là các hàng hoá trừu tợng, ngời đầu t không thể kiểm tra trực
tiếp đợc các chứng khoán nh các hàng hoá thông thờng mà dựa trên cơ sở các
thông tin có liên quan. Vì vậy, thị trờng chứng khoán phải đợc xây dựng trên cở sở
hệ thống công bố thông tin tốt. Theo luật định, các bên phát hành chứng khoán có
nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông tin có liên quan tới
tổ chức phát hành, tới đợt phát hành. Công bố thông tin đợc tiến hành khi phát
hành lần đầu cũng nh theo các chế độ thờng xuyên và đột xuất, thông qua các ph-
ơng tiện thông tin đại chúng, sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức
có liên quan khác.
10
Việc công khai thông tin về thị trờng chứng khoán phải thoả mãn các yêu
cầu:
Chính xác: Các thông tin công khai nhng không xác thực hoặc không tin
cậy có thể dẫn tới những quyết định đầu t sai lầm của các nhà đầu t, ảnh hởng tới
quyền lợi của các nhà đầu t, vi phạm nguyên tắc công bằng trên thị trờng chứng
khoán. Do đó, đòi hỏi thông tin cần phải chính xác.
Kịp thời: Nếu các thông tin công khai nhng không kịp thời, chậm trễ, lạc
hậu thì sẽ gây thiệt hại cho các nhà đầu t.
Dễ tiếp cận: nghĩa là công khai thông tin thị trờng chứng khoán nhng
phải dễ dàng tiếp cận đối với các nhà đầu t. Chính vì vậy, thị trờng chứng khoán ở
các nớc trên thế giới đã sử dụng rất nhiều loại phơng tiện để công khai thông tin
nh báo chí, phát thanh, các cơ quan thông tin, mạng lới thông tin của sở giao dịch
chứng khoán .
Tất cả các hoạt động trên thị trờng chứng khoán đều phải đảm bảo tính công
khai. Sở giao dịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán
chịu.Việc có trả cổ tức hay không, tỷ lệ và hình thức chi trả cổ tức cho cổ đông là
tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động và vào chính sách của công ty, và do hội đồng quản
trị quyết định. Vì thế, thu nhập mà cổ phiếu phổ thông mang lại cho cổ đông là thu
nhập không cố định.
Khi công ty phải thanh lý tài sản, cổ đông phổ thông là những ngời cuối cùng
đợc nhận những gì còn lại sau khi công ty trang trải xong tất cả các nghĩa vụ nh
thuế, nợ và cổ phiếu u đãi.
12
+ Quyền mua cổ phiếu mới:
Khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới để tăng vốn, các cổ đông hiện đang
nắm giữ cổ phiếu phổ thông có quyền đợc mua trớc cổ phiếu mới, trớc khi đợt phát
hành đợc chào bán ra công chúng, trong một thời hạn nhất định. Lợng cổ phiếu
mới đợc phép mua theo quyền này tơng ứng với tỷ lệ cổ phiếu đang nắm giữ. Nh
vậy quyền này cho phép cổ đông đang hiện hữu duy trì tỷ lệ sở hữu của mình trong
công ty đã tăng thêm vốn. Mỗi cổ phiếu đang nắm giữ mang lại cho cổ đông một
quyền mua trớc.
+ Quyền bỏ phiếu: Cổ đông phổ thông có quyền bỏ phiếu bầu và trúng cử
vào các chức vụ quản lý trong công ty, có quyền tham gia các đại hội cổ đông và
bỏ phiều quyết định các vấn đề quan trọng của công ty. Tuỳ theo quy định, mỗi cổ
đông có thể đợc bỏ số phiếu tối đa cho mỗi ứng viên bằng số cổ phiếu nắm giữ,
hoặc đợc dồn toàn bộ số phiếu có thể chi phối để bầu cho một ứng cử viện.
+ Ngoài những quyền lợi cơ bản về kinh tế trên đây, cổ phiếu phổ thông
còn có những quyền pháp lý khác nh quyền đợc kiểm tra sổ sách của công ty khi
cần thiết, quyền đợc yêu cầu triệu tập đại hội cổ đông bất thờng, quyền bầu cử,
quyền u tiên mua trớc, quyền nhận cổ tức, quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp,
quyền đối với tài sản, quyền bình đẳng với vốn dự trữ của doanh nghiệp, quyền
bán, chuyển nhợng và trao đổi cổ phiếu trên thị trờng, quyền hoàn vốn để nhận
chứng khoán khác
+ Thời hạn của cổ phiếu phổ thông là vô hạn, nó phụ thuộc vào thời hạn
hoạt động của doanh nghiệp.
ngang giá, nếu nh đủ vốn hoàn.
Đối với giá trị còn lại của doanh nghiệp cần phải chia, cổ đông nắm giữ cổ
phiếu u đãi đợc quyền phân chia trớc cổ đông nắm giữ cổ phiếu phổ thông.
14
6.2 Trái phiếu:
6.2.1 Khái niệm : Trái phiếu là chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của ngời sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.
Trên mỗi trái phiếu có khi rõ ngời phát hành, thời hạn của trái phiếu cũng
nh mệnh giá và lãi suất cuống phiếu. Ngời phát hành trái phiếu có thể là các công
ty hoặc chính phủ. Các trái phiếu có thể đợc trả lãi cuống phiếu theo định kỳ,
không theo định kì hoặc thả nổi với lãi suất cuống phiếu đợc định kì ấn định lại
theo một chuẩn nào đó định trớc. Lãi suất cuống phiếu cho biết các khoản thanh
toán lãi cuống phiếu mà ngời đầu t có thể nhận đợc trong thời hạn của trái phiếu,
đồng thời chỉ ra mức độ mà theo đó giá của trái phiếu sẽ chịu tác động của sự thay
đổi lãi suất.
Một trái phiếu có 3 đặc trng:
- Mệnh giá : là số tiền ghi trên bề mặt của trái phiếu.
- Thời hạn : là thời hạn mà ngời phát hành hứa hẹn đáp ứng những yêu cầu của
nghĩa vụ
- Lãi suất định kì : là lãi suất mà ngời phát hành đồng ý trả mỗi năm
6.2.2 Phân loại trái phiếu.
- Căn cứ vào việc có ghi danh hay không:
Trái phiếu vô danh: là trái phiếu không mang tên của trái chủ, cả trên chứng
chỉ cũng nh trên sổ sách của ngời phát hành. Khi trái phiếu đáo hạn, ngời nắm giữ
nó chỉ cần mang giấy chứng nhận quyền sở hữu tới ngân hàng để nhận lại khoản cho
vay
Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trên
chứng chỉ và trên sổ sách của ngời phát hành. Hình thức ghi danh có thể chỉ thực
hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ cả gốc lẫn lãi. Dạng ghi
15
đó, cụ thể là:
Trái phiếu có thể mua lại: cho phép ngời phát hành mua lại chứng khoán tr-
ớc khi đáo hạn khi thấy cần thiết. Đặc tính này có lợi cho ngời phát hành song lại
bất lợi cho ngời đầu t nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với những
trái phiếu có cùng thời hạn.
Trái phiếu có thể bán lại: cho phép ngời nắm giữ trái phiếu đợc quyền bán
lại cho bên phát hành trớc khi trái phiếu đáo hạn. Quyền chủ động trong trờng hợp
này thuộc về nhà đầu t, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với
những trái phiếu có cùng thời hạn.
Trái phiếu có thể chuyển đổi: Cho phép ngời nắm giữ nó có thể chuyển đổi
trái phiếu thành cổ phiếu thởng, tức là thay đổi t cách từ ngời chủ nợ trở thành ngời
chủ sở hữu của công ty. Loại trái phiếu này thuộc vào nhóm hàng hoá chứng khoán
có thể chuyển đổi đợc.
6.3 Chứng khoán phái sinh:
6.3.1 Chứng quyền:
Là một loại chứng khoán trao cho ngời nắm giữ nó quyền đợc mua một số l-
ợng xác định một loại chứng khoán khác, thờng là cổ phiếu với một mức giá xác
định và trong một thời hạn nhất định. Quyền này đợc phát hành khi tổ chức lại công
ty, hoặc khi công ty nhằm mục tiêu khuyến khích các nhà đầu t tiềm năng mua các
trái phiếu hoặc cổ phiếu u đãi có những điều kiện kém thuận lợi. Để chấp nhận
những điều kiện đó, nhà đầu t có đợc một lựa chọn đối với sự lên giá có thể xảy ra
của cổ phiếu thờng.
17
Chứng quyền cho phép ngời nắm giữ mua cổ phiếu thờng với một mức giá
xác định và trong một thời hạn nhất định (về điểm này chứng quyền giống với quyền
chọn mua. Tuy nhiên, quyền chọn mua thờng chỉ có hiệu lực trong vòng vài tháng,
trong khi chứng quyền có thời hạn dài hơn và thậm chí vĩnh viễn.
Với t cách là ngời sở hữu chứng quyền, nhà đầu t không có quyền cổ đông
trong công ty, không đợc nhận cổ tức và không có quyền biểu quyết. Tại thời điểm
phát hành chứng quyền, giá mua cổ phiếu ghi trong chứng quyền bao giờ cũng cao
hợp đồng cho ngời khác hoặc huỷ hợp đồng đó. Hợp đồng quyền chọn cho phép đầu
cơ chứng khoán với lợi nhuận cao, chi phí thấp và rủi ro hạn chế. Nhà đầu t cũng có
thể bảo hiểm cho lợng cổ phiếu mình đang nắm giữ, ví dụ nh khi giá cổ phiếu có xu
hớng giảm, nhà đầu t có thể mua hợp đồng quyền chọn bán, khi giá cổ phiếu giảm
ngời này sẽ vẫn bán đợc cổ phiếu với giá cao hơn giá thị trờng.
6.3.4 Hợp đồng tơng lai
Là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số
chứng khoán nhất định với một số lợng và mức giá nhất định vào ngày xác định trớc
trong tơng lai. Chức năng kinh tế cơ bản của các hợp đồng tơng lai là cung cấp một
cơ hội cho những ngời tham gia thị trờng để phòng ngừa rủi ro về những biến động
giá bất lợi.
Thông thờng hợp đồng tơng lai thờng đợc phân loại thành hai nhóm dựa trên sản
phẩm hàng hoá của hợp đồng, liên quan đến nông sản gọi là các hợp đồng tơng lai
hàng hoá, liên quan đến các công cụ tài chính gọi là các hợp đồng tơng lai tài chính
(hợp đồng tơng lai chỉ số cổ phiếu, hợp đồng tơng lai lãi suất, hợp đồng tơng lai tiền
tệ).
Một hợp đồng tơng lai là một thoả thuận pháp lý chắc chắn giữa một ngời mua
19
(hoặc ngời bán) và một sở giao dịch có uy tín hoặc trung tâm thanh toán của sở
giao dịch đó, tại đó ngời mua (bán) đồng ý sẽ nhận hoặc giao một mặt hàng nào đó
tại một mức giá cụ thể vào lúc kết thúc của một thời kì đợc xác định. Mức giá theo
đó các bên thoả thụân giao dịch trong tơng lai đợc gọi là giá hợp đồng tơng lai.
Thời hạn đợc ấn định theo đó các bên phải tiến hành giao dịch đợc gọi là thời hạn
thanh toán hay thời hạn giao nhận.
II/ thu hút đầu t nớc ngoài vào thị trờng chứng khoán
1. Khái niệm đầu t nớc ngoài và đầu t nớc ngoài vào thị trờng chứng khoán:
Đầu t nớc ngoài (đầu t quốc tế) là một quá trình kinh tế trong đó các nhà
đầu t nớc ngoài (tổ chức, cá nhân) đa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào nớc
tiếp nhận đầu t để thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh, dịch vụ nhằm
thu lợi nhuận vào đạt đợc các hiệu quả xã hội.Về bản chất, đầu t quốc tế là những
nhất định tuỳ theo từng nớc
- Chủ đầu t nớc ngoài không tham gia điều hành hoạt động doanh nghiệp, do
đó bên tiếp nhận đầu t có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh doanh.
- Tuy doanh nghiệp đầu t không có khả năng, cơ hội tiếp thu công nghệ, kỹ
thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý nhng thay vào đó, doanh nghiệp có khả
năng phân tán rủi ro kinh doanh trong những ngời mua cổ phiếu, trái phiếu
doanh nghiệp.
Ranh giới phân biệt giữa FPI và các nguồn vốn khác không rõ rệt. Xét về
bản chất, điều khác nhau cơ bản giữa FDI và FPI chính là ở chỗ có hay không sự
tham gia quản lý doanh nghiệp và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên khi lợng FPI
21
đạt đến một mức độ nhất định thì sẽ có sự chuyển hoá về chất, nghĩa là khi đã nắm
trong tay một số lợng cổ phiếu đủ lớn, nhà đầu t có thể tham gia vào quá trình quản
lí doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ và FPI sẽ trở nên ổn định hơn. Hình thức
này có u điểm là khi có sự cố trong kinh doanh xẩy ra với xí nghiệp có vốn đầu t n-
ớc ngoài thì các chủ đầu t ít bị thiệt hại vì vốn đầu t đợc phân tán trong số đông
những ngời mua cổ phiếu, trái phiếu. Mặt khác bên tiếp nhận vốn đầu t hoàn toàn
chủ động vốn kinh doanh theo ý đồ của mình một cách tập trung. Tuy nhiên, hình
thức này có nhợc điểm lớn là hạn chế khả năng thu hút vốn kỹ thuật, công nghệ
của chủ đầu t nớc ngoài vì họ khống chế mức độ đóng góp vốn tối đa. Hơn nữa do
bên nớc ngoài không trực tiếp tham gia điều hành đối tợng mà họ bỏ vốn đầu t nên
hiệu quả sử dụng vốn thờng không cao.
3. Kinh nghiệm thu hút đầu t nớc ngoài vào thị trờng chứng khoán ở một số
nớc châu á
Trong giai đoạn đầu của quá trình xây dựng và vận hành thị trờng chứng
khoán, phần lớn các nớc trên thế giới đều đa ra những chính sách cho phép nhà đầu
t nớc ngoài tham gia vào thị trờng chứng khoán với hình thức và quy mô phù hợp
với đặc điểm riêng của từng quốc gia. Vấn đề đặt ra không phải có cho phép ngời
nớc ngoài đầu t hay không mà là chính sách đối với các nhà đầu t nớc ngoài ra
sao? Quản lý các nhà đầu t nớc ngoài nh thế nào để phát huy đợc những mặt tích
23
3.1.1. Ban đầu cho phép nhà đầu t nớc ngoài sở hữu một tỷ lệ cổ phần thích hợp
trong các công ty niêm yết sau đó nâng dần lên.
Tại Hàn Quốc, thời gian đầu chỉ cho phép nhà đầu t nớc ngoài đầu t gián
tiếp thông qua các quĩ đầu t, quĩ tín thác; qui định mức trần cho đầu t trực tiếp và
tăng dần lên theo sự phát triển cuả thị trờng, nhng vẫn giữ nguyên sự hạn chế đối
với một số ngành quan trọng nh quân sự, bu chính viễn thông, điện lực. Các qui
định về quản lý đầu t nớc ngoài ở Hàn Quốc thay đổi gắn liền với sự phát triển của
thị trờng và thông qua các quyết sách mới của Chính phủ theo từng giai đoạn.
- Từ năm 1985 - 1987: Chính phủ cho phép ngời nớc ngoài đầu t gián tiếp
vào chứng khoán Quỹ tín thác.
- Tháng 12 - 1988, hoàn chỉnh kế hoạch về mở cửa thị trờng vốn. Theo kế
hoạch này, bắt đầu từ tháng 12-1992, ngời nớc ngoài đợc phép sở hữu 10% số cổ
phiếu của một Công ty chứng khoán trong nớc.
- Năm 1992: Cho phép ngời nớc ngoài đầu t trực tiếp với mức trần là 10%
và sau đó tỷ lệ này đợc nâng lên 55% số cổ phiếu của một công ty.
- Năm 1998: Bỏ mức trần này (lý do của việc xoá bỏ mức trần này là
Chính phủ Hàn Quốc muốn tăng cờng thu hút đầu t nớc ngoài sau khủng hoảng tài
chính Châu á năm 1997). Trờng hợp đặc biệt của hai công ty KEPCO và POSCO
sở hữu của tất cả các nhà đầu t nớc ngoài là 30% số cổ phiếu và ngời đầu t riêng lẻ
là 3%.
Tại Thái Lan, Chính phủ cũng qui định một tỷ lệ khống chế sở hữu công ty
niêm yết. Trong những trờng hợp nhất định, ngời nớc ngoài chỉ có thể sở hữu đến
49% số cổ phiếu của một công ty hay 25% số cổ phiếu của các tổ chức tài chính.
Một số công ty có thể có mức giới hạn thấp hơn đợc qui định cụ thể trong điều lệ
công ty. Nói chung ngời đầu t nớc ngoài đầu t vào thị trờng chứng khoán Thái Lan
phải qua những thủ tục khá phức tạp và thất vọng vì chính các công ty thờng hay
24
hạn chế những cổ đông ngời nớc ngoài. Sau khủng hoảng Tài chính khu vực, Thái
Lan đã mở rộng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu tại các công ty niêm yết của ngời nớc ngoài