Đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển của ngành Dệt- May Việt Nam - Pdf 12


LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, sự phát triển của ngành dệt may đã đạt được
kết quả đáng khích lệ, đóng góp đáng kể vào việc giải quyết những vấn đề
kinh tế xã hội cho đất nước. Vị trí của ngành dệt may ngày càng được củng
cố và nâng cao. Kim ngạch xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân
17,1%, giai đoạn năm 2010 dự kiến kim ngạch xuất khẩu đạt 8 tỷ USD, sử
dụng 4 triệu lao động.
Hoạt động xuất khẩu của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài trong
ngành dệt may luôn chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu của
ngành. Đồng thời đây cũng là ngành đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao.
Do đó, việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành dệt may đang
là vấn đề quan tâm của các cấp, ngành, và của chính phủ.
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về ngành Dệt- May, em chọn đề
tài luận văn tốt nghiệp: "Đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát
triển của ngành Dệt- May Việt Nam".
Nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2: Thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành dệt
may Việt Nam
Chương 3: Triển vọng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành Dệt- May Việt Nam
1

Do thời gian cũng như năng lực có hạn nên bài viết không khỏi có
những thiếu sót. Em rất mong có được sự góp ý của thầy giáo để bài viết
của em được tốt hơn.
Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn Quý Viện Kinh tế thế giới
đã tạo điều kiện cho em được thực tập và cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Như
Bình đã hướng dẫn em hoàn thành luận văn này.
CHƯƠNG 1

có thể được thực hiện tại các khu vực đầu tư đặc biệt có yếu tố quốc tế như
khu chế xuất, khu công nghệ tập trung, đặc khu kinh tế, thành phố mở...tuỳ
thuộc vào điều kiện cụ thể và từng lĩnh vực mà các quốc gia lựa chọn và
thành lập các khu vực đầu tư nước ngoài phù hợp trong đó thu hút các hình
thức FDI khác nhau. Chắc chắn sẽ có nhiều hình thức cụ thể ra đời để đáp
ứng nhu cầu và khả năng thu hút FDI của các quốc gia.
1.1.2. Đặc điểm
Từ khái niệm, bản chất thực tiễn của hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài ta có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức đầu tư
quốc tế chủ yếu và phổ biến nhất hiện nay, trong đó chủ đầu tư nước ngoài
đầu tư toàn bộ hay một khối lượng vốn tối thiểu vào các dự án theo quy
định của từng quốc gia nhằm tạo lập mới và giành quyền điều hành hoặc
tham gia điều hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoạt động này mang tính khả thi và hiệu quả cao, không có những
ràng buộc về chính trị, không để lại nợ nần cho nền kinh tế, không gây nợ
cho các chủ nhà vì nước ngoài tự bỏ vốn ra, tự thành lập doanh nghiệp
riêng hoặc hợp tác với những doanh nghiệp trong nước để cùng kinh doanh.
Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Lời và lỗ được chia theo tỷ lệ góp
vốn pháp định sau khi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho nước chủ nhà.
Các chủ đầu tư nước ngoài phải góp một số vốn tối thiểu để tham gia
vào việc điều hành quản lý doanh nghiệp. Tuỳ theo quy định của luật đầu tư
của mỗi nước, chủ đầu tư nước ngoài chỉ được thành lập doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ được tham gia
4

liên doanh với số vốn nhất định. Ở Việt Nam, chủ đầu tư nước ngoài góp
tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây dựng
doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt

chức nước ngoài lựa chọn trong thời gian đầu khi họ chưa hiểu biết sâu sắc
về nước nhận đầu tư.
b. Doanh nghi ệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do chủ đầu tư
nước ngoài đầu tư 100% vốn tại nước sở tại, có quyền điều hành toàn bộ
doanh nghiệp theo luật định của nước sở tại. Doanh nghiệp 100% vốn đầu
tư nước ngoài là những công ty con của doanh nghiệp đa quốc gia, họ tự
chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh cũng như rủi ro khác. Nước tiếp
nhận đầu tư chủ yếu chỉ thu thuế từ hoạt động kinh doanh của loại hình
này. Đây là các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành kinh doanh toàn bộ nên
không có nhiều mâu thuẫn như hình thức khác.
c. H ợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức chủ đầu tư nước ngoài
cung cấp tiền vốn, thiết bị, kỹ thuật, nước sở tại cung cấp tiền vốn, địa
điểm, nhà xưởng hiện có, cơ sở trang thiết bị, sức lao động và các dịch vụ
lao động khác, hai bên cùng nhau hợp tác hoạt động hoặc cùng hợp tác sản
6

xuất kinh doanh để phân chia lợi nhuận hoặc phân chia sản phẩm mà không
thành lập pháp nhân mới.
Ngoài ra, còn có một vài dạng đặc biệt của hình thức đầu tư 100%
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là: hợp đồng xây dựng - kinh doanh -
chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao -kinh doanh (BTO),
hợp đồng kinh doanh - chuyển giao (BT). Đối với hình thức BOT các chủ
đầu tư nước ngoài tự chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng, kinh doanh công
trình trong một thời gian đủ thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. Sau
khi kết thúc dự án, toàn bộ công trình sẽ được chuyển giao cho nước chủ
nhà mà không thu bất kỳ một khoản tiền nào. Đối với hình thức BTO, sau
khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho nước chủ nhà.
chính phủ nước chủ nhà giành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình

lý, tay nghề và tiếp cận thị trường thế giới. Thông thường ở các nước nhận
đầu tư trình độ quản lý của các cán bộ quản lý, trình độ tay nghề và nhận
thức của công nhân còn yếu kém nên khi đầu tư, để tiếp cận công nghệ
mới, các chủ đầu tư nước ngoài thường tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng
cho cán bộ, công nhân để thực hiện đầu tư theo dự án. Bằng con đường
này, kiến thức của công nhân được nâng lên. Hơn nữa, FDI giúp các doanh
nghiệp tiếp cận và xâm nhập được vào thị trường thế giới thông qua liên
8

doanh và mạng lưới thị trường rộng lớn của hệ thống các công ty xuyên
quốc gia.
* FDI là công cụ để kích thích cạnh tranh
Chính phủ các nước chủ nhà thường muốn sử dụng FDI như một
công cụ để kích thích và liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong nước.
Các công ty nước ngoài như một đối tượng để cho các doanh nghiệp trong
nước tăng tính cạnh tranh của mình, thay đổi tác phong kinh doanh cũ. Mặt
khác, các doanh nghiệp nội địa cũng mở rộng được quy mô sản xuất và lĩnh
vực kinh doanh nhờ cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho các
công ty nước ngoài.
* FDI tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động nước sở tại
FDI tạo công ăn việc làm và thu nhập đáng kể cho lực lượng lao
động của nước nhận đầu tư, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và giúp
chuyển dịch cơ cấu lao động theo các ngành nghề, lãnh thổ và lĩnh vực theo
hướng tích cực. Điều đáng kể hơn là số lao động tại các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài tỏ ra có triển vọng, họ được tiếp tục đào tạo hoặc
được nâng cao nghiệp vụ nhờ vào cách bố trí của công ty khi cần thiết.
Ngoài ra, hoạt động này còn có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi để
khai thác tốt nhất các lợi thế của nước tiếp nhận về tài nguyên thiên nhiên,
về vị trí địa lý...; góp phần cải tạo cảnh quan xã hôị tăng năng suất và thu
nhập quốc dân, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao đời sống nhân dân;

thuật lạc hậu vào nước họ đầu tư. Điều này có thể dẫn đến việc nguồn tài
nguyên thiên nhiên bị khai thác bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường
* Sản xuất hàng hóa không thích hợp
Các nhà đầu tư nước ngoài còn bị chỉ trích là sản xuất và bán những
hàng hoá không thích hợp cho các nước kém phát triển, thậm chí đôi khi lại
là những hàng hoá có hại cho con người và gây ô nhiễm môi trường
* Những mặt trái khác
Trong số các nhà đầu tư nước ngoài cũng có trường hợp vào để hoạt
động tình báo, gây rối trật tự, an ninh, chính trị
Mục đích của nhà đầu tư là lợi nhuận nên họ chỉ đầu tư vào những
nơi, lĩnh vực có lợi nhất. Vì vậy đôi khi lượng vốn nước ngoài đã làm tăng
thêm sự mất cân đối giữa các vùng, sự mất cân đối này có thể gây mất ổn
định về mặt chính trị. Hoặc FDI cũng có thể gây ảnh hưởng xấu về xã hội
như thay đổi lối sống, xâm hại đến các giá trị văn hoá, xã hội,…
Các lĩnh vực và địa bàn được đầu tư phụ thuộc vào sự lựa chọn của
các nhà đầu tư nước ngoài, mà nhiều khi nó không theo ý muốn của nước
tiếp nhận. Điều đó cũng có nghĩa là việc chủ động trong bố trí cơ cấu đầu
tư bị hạn chế. Số lượng các doanh nghiệp trong nước sẽ giảm, ảnh hưởng
tới cán cân thanh toán của nước tiếp nhận...
1.1.4.2. Đối với nước đi đầu tư
a. Tác động tích cực
11

- Chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành dự án nên họ
thường có trách nhiệm cao, thường đưa ra những quyết định có lợi nhất cho
họ. Từ đó mà có thể đảm bảo hiệu quả của vốn FDI cao
- Chủ đầu tư nước ngoài mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm
nguyên liệu, cả công nghệ và thiết bị trong khu vực và thế giới
- Có thể giảm giá thành sản phẩm do khai thác được nguồn lao động
giá rẻ hoặc gần nguồn nguyên liệu hoặc gần thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Trung Quốc đều đứng trước nhu cầu thiếu vốn trầm trọng, do vậy mà một
trong những biện pháp được đưa ra để giải quyết nhu cầu về vốn là kêu gọi
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Để tạo ra sự hấp dẫn đối với các nhà đầu
tư, Trung Quốc chọn các khu vực có cơ sở hạ tầng phát triển hơn như khu
vực ven biển và một số khu vực là quê hương của Hoa kiều có tiềm lực
kinh tế làm địa bàn khuyến khích mở cửa với bên ngoài. Giai đoạn đầu,
Trung Quốc mở cửa 14 thành phố ven biển, sau đến là các vùng đồng bằng
và Châu thổ các sông. Một trong những biện pháp góp phần hướng dẫn các
dự án đầu tư là Chính phủ Trung Quốc dùng vốn ngân sách hoặc vốn vay
để xây dựng cơ sở hạ tầng theo thứ tự ưu tiên vùng. Trung Quốc chủ trương
mở cửa một số địa phương có điều kiện thuận lợi phát triển trước vừa để rút
kinh nghiệm, vừa làm mẫu, sau đó phát triển lan ra các địa phương khác.
Các chính sách kinh tế nhằm khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
13

được chính phủ Trung Quốc áp dụng là miễn giảm thuế đối với những
ngành vùng được ưu tiên, tiếp tục mở cửa thị trường các dịch vụ cho đầu tư
trực tiếp nước ngoài trong đó có cả tài chính, bảo hiểm, viễn thông, du lịch
và ngoại thương. Bằng các chính sách và biện pháp hợp lý, Trung Quốc đã
tạo ra được một môi trường đầu tư hấp dẫn, do vậy mà chính phủ Trung
Quốc đã rất thành công trong việc thu hút các tập đoàn kinh tế lớn trên thế
giới đến hoạt động đầu tư và huy động được tối đa các tiềm năng của người
Hoa ở nước ngoài phục vụ cho hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Đây có thể nói là một chính sách đúng đắn trong việc thu hút vốn
đầu tư nước ngoài của Trung Quốc.
Một số chủ trương, biện pháp lớn mà chính phủ Trung Quốc đang sử
dụng đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay:
- Tăng cường cải cách thể chế kinh tế trong nước phù hợp với tốc độ
mở cửa đối ngoại, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh
nghiệp trong nước với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

kỹ thuật cao sẽ đòi hỏi trình độ của lực lượng cán bộ và tay nghề của công
nhân
- Bên cạnh việc mở cửa đẩy mạnh phát triển các quan hệ kinh tế đối
ngoại cần chú trọng, nâng cao năng lực nội sinh của dân tộc, điều chỉnh cơ
15

cấu ngành nghề, lĩnh vực…cho phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước
và hội nhập kinh tế quốc tế
- Cần tăng cường vai trò điều tiết của Nhà nước đối với hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc
hoạch định các quy hoạch chiến lược tổng thể phát triển đất nước, trên cơ
sở đó bố trí cơ cấu đầu tư hợp lý, thu hút FDI vào những ngành vùng theo
định hướng, từ đó sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài như một công cụ để
đạt được mục tiêu đề ra.
Đây là bài học kinh nghiệm về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
nói chung cũng như những biện pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
nói riêng đối với ngành dệt may Việt Nam. Tuy nhiên, thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài trong ngành dệt may còn phải căn cứ vào tình hình thực tế
về điều kiện của ngành. Để có được giải pháp tối ưu cho thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài trước hết cần phải phân tích thực trạng thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam trong những năm qua.
16

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO NGÀNH DỆT
MAY
2.1. Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam
2.1.1. Đặc điểm của ngành dệt may
* C ác lĩnh vực
Ngành công nghiệp dệt may được phân thành lĩnh vực dệt, nhuộm và

Đây cũng là ngành sử dụng được lợi thế so sánh về nguồn lao động của các
nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam. Đóng góp vào tăng trưởng và
phát triển kinh tế đất nước là tham gia vào phân công lao động và hợp tác
thương mại quốc tế. Theo tính toán, để sản xuất 1 triệu sản phẩm may mặc
trong một năm cần từ 700 đến 800 lao động trực tiếp, ngoài ra còn thu hút
được một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động gián tiếp.
* V ốn đầu tư - công nghệ kỹ thuật
Vốn đầu tư vào ngành sản xuất hàng dệt may thấp hơn so với vốn
đầu tư vào các ngành công nghiệp khác. Nhà xưởng sản xuất không yêu cầu
kỹ thuật cao, máy móc thiết bị không đòi hỏi chi phí lớn. Đặc biệt với
ngành may, suất đầu tư tương đối thấp, chỉ khoảng 0,6 - 0,65 triệu USD
trên 1 triệu sản phẩm. Như vậy để thành lập một sơ sở may mặc cỡ vừa
hoặc nhỏ với năng lực trên dưới 1 triệu sản phẩm một năm thì chỉ cần đầu
tư môt lượng vốn khoảng 600.000 $. Hơn nữa, vốn đầu tư sản xuất hàng
may mặc có thể quay vòng nhanh do chu kỳ sản xuất ngắn ( 4 - 5
vòng/năm).
* V ề tiêu thụ
Sản phẩm của ngành dệt may là một trong những hàng hoá đầu tiên
tham gia vào thị trường. Sản phẩm may có nhu cầu phong phú, đa dạng tuỳ
theo đối tượng tiêu dùng. Sản phẩm dệt may luôn đa dạng về kiểu cách,
mẫu mã, màu sắc, chất liệu… Cho nên, mỗi thời kỳ sẽ có những mẫu mã,
kiểu dáng trang phục khác nhau cho phù hợp với thời đại đó. Vì vậy mà sản
phẩm dệt may phải luôn thay đổi để đáp ứng nhu cầu.
19

Nhãn mác sản phẩm cũng có ý nghĩa rất lớn đến khả năng tiêu thụ
sản phẩm, giá thành sản phẩm. Người tiêu dùng thường dựa vào nhãn mác
để phán xét chất lượng sản phẩm.
2.1.2 Năng lực của ngành dệt may
2.1.2.1. Năng lực sản xuất

Thiên Huế, Khánh Hoà
* Về trang thiết bị
20

Hiện tại, toàn ngành dệt có khoảng 1.600.000 cọc sợi, trong đó đầu
tư mới khoảng 430.000 cọc sợi, sản xuất được 160.000 tấn sợi/năm;15.500
máy dệt thoi các loại, sản xuất được 500 triệu m/năm, 25.000 tấn khăn
bông các loại. Cả nước hiện có khoảng 1.540 thiết bị dệt kim, bao gồm cả
dệt kim trong và dệt kim phẳng với tổng công suất 70.000 tấn sản
phẩm/năm. Các thiết bị nhuộm và hoàn tất vải có thể đạt 380 triệu m/năm,
trong đó chỉ có khoảng 15% sản phẩm đạt chất lượng xuất khẩu.
2
Tuy nhiên, phần lớn số thiết bị ngành dệt đều cũ và thiếu sự đồng bộ
giữa các khâu. Thiết bị dệt còn quá ít so với thiết bị kéo, phần lớn là máy
dệt thoi khổ hẹp, chủng loại nghèo nàn, vải làm ra không đáp ứng được nhu
cầu thị trường… Thiết bị kéo sợi cũng có tới 60% là cọc sợi chải thô, chỉ số
thiết bị bình quân thấp, chỉ có khoảng 26 - 30% là cọc sợi chải kỹ, chỉ số
cao dùng cho dệt kim và vải cao cấp. Dây chuyền nhuộm hoàn tất cũng đã
lạc hậu, phần lớn là thiết bị khổ hẹp, tiêu hao nhiều hoá chất, thuốc nhuộm
dẫn đến chi phí cao.
Trong đó, trang thiết bị ngành may đã tăng nhanh cả về số lượng và
chất lượng, nhất là về tính năng công dụng. Số máy chuyên dùng đã tăng
lên đáng kể để đáp ứng nhu cầu sản xuất và chủng loại mặt hàng như máy
vắt 5 chỉ, máy thùa đính, máy cạp 4 kim, bàn là treo,… Các máy thêu tự
động, dây chuyền may đồng bộ, hệ giặt mài đá,… bước đầu đã sử dụng hệ
thống máy vi tính trong khâu thiết kế, khâu cắt vải đã sản xuất nhiều sản
phẩm chất lượng cao, đáp ứng phần nào nhu cầu xuất khẩu.
* Về công nghệ
2
Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam

kinh tế dần được thay thế bằng những phương thức linh hoạt hơn.
Trong lĩnh vực may mặc, Việt Nam đã nhận được không ít những hỗ
trợ cũng như vốn từ các nước như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản…Tổng
số vốn đầu tư nước ngoài trong vòng 15 năm trở lại đây là hơn 250 triệu
USD. Hình thức chủ yếu là góp vốn liên doanh và đầu tư 100% vốn nước
ngoài.
Những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong
ngành dệt may có nhiều lợi thế hơn rất nhiều so với các doanh nghịêp trong
nước do được trang bị những máy móc kỹ thuật hiện đại, được ứng dụng
những thành tựu mới nhất của công nghệ. Chính vì vậy đã tạo thuận lợi cho
họ có thể nâng cao được năng lực sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
trong hoạt động xuất khẩu, đa dạng hoá mẫu mã hàng hoá…
2.1.2.3. Khả năng chiếm lĩnh thị trường
a. Th ị trường trong nước
Vải đang lưu thông trên thị trường của Việt Nam có thể phân làm 4
loại chính: vải nhập khẩu từ Trung Quốc; vải tồn kho, kém chất lượng và
vải vụn từ các nhà sản xuất vải Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan; Vải sản
xuất trong nước chủ yếu là thành phố Hồ Chí Minh; vải lụa
Năm 2003, theo số liệu thống kê sơ bộ, sản xuất của ngành dệt may
chỉ đạt được 475,9 triệu mét vải lụa thành phẩm, tức là bình quân tiêu dùng
mỗi người chỉ đạt 6 m/năm. Trong khi đó nhu cầu tiêu dùng của người dân
lớn hơn nhiều. Để bù lại lượng thiếu hụt này, một số lượng lớn vải đã được
23

nhập khẩu bằng nhiều con đường.Trên thực tế, mặc dù vải sản xuất ra đạt 6
m/người/năm và 50% công suất thiết kế, song vải của ta bán vẫn chậm. Một
số doanh nghiệp lượng hàng tồn kho vẫn cao và kinh doanh thua lỗ. Một số
lượng lớn không bán được ở thị trường thành phố vì lỗi mốt hoặc chất
lượng không cao, nhưng cũng không được tiêu thụ ở nông thôn vì giá đắt…
b. Th ị trường xuất khẩu

biệt là ngành may công nghiệp phục vụ xuất khẩu đã có những tiến bộ đáng
kể. Sản lượng sợi dệt năm 1997 tăng 73,7% so với năm 1991 và sản lượng
hàng may mặc tăng tới 101,1%. Với sự đóng góp đáng kể của các xí nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, sản lượng vải lụa các loại cũng tăng lên 7,1%.
Trong khi đó sản xuất các sản phẩm dệt kim không mấy phát triển do
không kịp đổi mới về thiết bị và công nghệ phù hợp với yêu cầu đa dạng
hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Sản phẩm chính của ngành dệt Việt Nam là sợi, vải sệt thoi và dệt
kim. Trong đó, sản xuất ở miền Bắc chiếm 35,26%, miền Trung 18,6%,
miền Nam chiếm 46,13%.
Tình hình sản xuất các sản phẩm chủ yếu ngành may ngày càng được
gia tăng. Các mặt hàng như quần áo dệt kim, quần áo may sẵn có xu hướng
tăng đều qua các năm; đặc biệt đối với mặt hàng quần áo dệt kim, sản
25

Trích đoạn Tỡnh hỡnh thu hỳt FDI vào ngành dệtmay Việt Nam Nhịp độ đầu tư Theo địa bàn đầu tư Theo hỡnh thức đầu tư Đối với ngành dệt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status