Đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - Pdf 21

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
____________________ Lê Thị Nga
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Chuyên ngành : Địa Lý học
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC


khích lệ để tác giả hoàn thành khóa học và luận văn của mình.
Do thời gian, nguồn số liệu, tài liệu và khả năng của tác giả có giới hạn nên luận
văn khó có thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì thế, tác giả rất mong nhận được sự góp ý
từ phía Thầy C
ô và các bạn đồng nghiệp để tác giả có thể rút ra được nhiều bài học quý
giá và khắc phục trong lần nghiên cứu tiếp theo nếu tác giả có đủ điều kiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn

Lê Thị Nga
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ASEAN : Các nước Đông Nam Á.
APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương.
BR-VT : Bà Rịa – Vũng Tàu.
CN : Công nghiệp.
CN-TTCN : Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
EU : The European Union - Liên minh Châu Âu
FDI : Foreign Direct Investment – Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
FTA : Hiệp định thương mại tự do.
GATS : Hiệp định thương mại dịch vụ của WTO.
GDP : Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm trong nước
GNP : Gross National Product – Tổng sản phẩm quốc nội.
GO : Tổng giá trị sản xuất
IMF
: International Moneytary Fund - Quỹ tiền tệ thế giới.
KCN : Khu công nghiệp.
KT – XH : Kinh tế - xã hội.
NAFTA : Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ.

hóa, mở ra nhiều ngành nghề và sản phẩm mới, góp phần nâng cao năng lực quản lý
và tăng năng suất lao động, phát triển công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo
việc làm
, nâng cao mức sống của người lao động.
Và quả ngọt đầu tư trực tiếp nước ngoài mà Việt Nam
thu hoạch được trong thời gian
qua phần lớn dựa vào quá trình 20 năm cải cách và một phần dựa vào ngoại cảnh.
Thành tựu đáng kể đó không thể không kể đến nỗ lực của các tỉnh trong việc thu hút
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Một trong những tỉnh có đóng góp to lớn vào việc thu hút nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài phải kể đến ở miền Đông Nam
Bộ là Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà Rịa
– Vũng Tàu là địa bàn quan trọng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: Bà
Rịa – Vũng Tàu – Đồng Nai – Bình Dương – Thành Phố Hồ Chí Minh; nên việc thu
hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không những góp phần quan trọng

trong phát triển kinh tế của tỉnh nhà mà còn thể hiện sự đóng góp của mình trong việc
thúc đẩy phát triển kinh tế toàn miền Đông Nam Bộ và cả nước.
Tính đến cuối năm
2007, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo địa
phương thì Bà Rịa – Vũng Tàu đứng ở vị trí thứ năm sau Thành Phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương về thu hút vốn đầu tư với 206 dự án và tổng vốn đầu
tư là 9,1 tỷ USD.
Đặc biệt, trong tương lai không xa, Vũng Tàu có thể sẽ trở thành thành phố
trực thuộc trung ương, vai trò của nó sẽ ngang hàng với H
à Nội, Đà Nẵng, Thành Phố
Hồ Chí Minh; khi đó yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội sẽ cao hơn và nguồn vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài càng thể hiện rõ nét sức mạnh của nó.

vậy thiết nghĩ, việc nghiên cứu, đánh giá tình hình đầu tư trực tiếp nước

iểu
các tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế của
tỉnh.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Phân tích, đánh giá các yếu tố:
+
Số dự án được cấp phép.
+
Số dự án phân theo ngành kinh tế và lĩnh vực đầu tư.
+ Quy mô dự án, số vốn bình quân một dự án.
+ Đối tác đầu tư chủ yếu.
+ Môi trường đầu tư.
- Về thời gian: Từ 1995 – 2007; đặc biệt từ 2000 – 2007 .
- Về không gian: Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Do thiếu các dữ liệu cần thiết và số liệu không đủ, không thể sử dụng phương
pháp phân tích định lượng nên nghiên cứu này tôi chỉ sử dụng phương pháp phân tích
định tính sử dụng số liệu thống kê, tổng kết tình hình FDI vào Bà Rịa – Vũng Tàu
dựa vào số liệu thống kê. Các kết luận về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế
chủ yếu dựa vào tỷ trọng của FDI so với tổng đầu tư xã hội và đóng góp của khu vực

FDI vào tổng thu nhập quốc dân GDP trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hoặc vào
tốc độ tăng giá trị sản xuất của ngành.
- Thu thập và phân tích tài liệu, số liệu liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
trong phạm vi cả nước và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, thông qua các cơ quan Trung
Ương, cấp tỉnh, Sở công nghiệp và các nguồn liên quan. Các tài liệu thống kê luôn
được bổ sung, cập nhật và được tôi chọn lọc, tổng hợp và phân tích trong mối tương
quan, ảnh hưởng lẫn nhau, làm cơ sở cho mục đích nghiên cứu.
- Phân tích số liệu t
hống kê kết hợp so sánh.

nghiên cứu về “đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu” một mặt để thõa mãn nhu cầu nghiên cứu của bản thân và có thể đưa ra một số
giải pháp giúp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thu hút và sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới, đặc biệt là thời kỳ hậu WTO.
7. Cấu trú
c luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn phải giải quyết trình tự các chương:
Chương 1:
Cơ sở lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh
tế.
Chương 2:
Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động
của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế của tỉnh B
à Rịa –
Vũng Tàu.
Chương 3:
Các giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế của tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.
Lịch sử hình thành đầu tư trực tiếp nước ngoài
Dựa vào tiêu chí mức độ phát triển đầu tư quốc tế, chính
sách đầu tư quốc tế,
tình hình chính trị trên thế giới và sự phân tích của UNCTAD, lịch sử đầu tư trực tiếp

xuất sản phẩm. Về di cư lao động quốc tế bị hạn chế và thắt chặt thông qua Luật
Nhập cư của các nước trên thế giới.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự thay đổi: xuất hiện đầu tư giữa các nước Tư
Bản phát triển hoặc giữa các nước đang phát triển với nhau. Vốn đầu tư nước ngoài
tăng mạnh trong thập niên giữa 1980 và 1985. Riêng giai đoạn 1960 – 1990 tăng từ
68 tỷ USD đến 2100 tỷ USD, với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm 11%.
Thời kỳ này ở các nước phát triển, các công ty đa quốc gia (TNC
S
) ra đời với số
lượng lớn, khoảng 37000 TNC
S
gồm 20600 chi nhánh.
Xu hướng đầu tư vào công nghiệp đã có sự sụt giảm (từ 1970), thay vào đó là
đầu tư vào các ngành dịch vụ. Sự chuyển hướng đầu tư đó thúc đẩy hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài; tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của lĩnh vực dịch vụ là
lớn nhất, chiếm 50% tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một nước đi đầu tư.
Từ giữa 1980, chính sách tự do hóa đầu tư đư
ợc hình thành và phát triển. Đây là điểm
nổi bật của giai đoạn này.
Thứ tư, giai đoạn từ 1991 – nay: G
iai đoạn này, nền kinh tế thế giới bắt đầu đi
vào quá trình hội nhập sâu rộng. Nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới được
thành lập như: NAFTA (1992); WTO (1995); EU (1996)…đã có tác động lớn đối với
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tự do hóa đầu tư với nhiều biện pháp của các
nước, các k
hu vực và thế giới đã đi vào chiều sâu, có tác dụng hỗ trợ hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài phát triển. Chẳng hạn như Hiệp định thương mại dịch vụ
(GATS) của WTO; Nghị định Thư về khuyến khích và bảo hộ đầu tư của
MERCOSUR; Nghị định Thư về khu vực đầu tư ASEAN…
Giai đoạn này, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu tăng nhanh từ khi

các dự án này hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh giữa các nước
XHCN và Việt Nam
.
Giai đoạn từ 1988 – nay:
Từ 1988 – 1996: Vốn FDI vào Việt Nam liên
tục tăng với tốc độ nhanh cả về
số dự án, số vốn đăng ký mới tăng và đạt mức 8,9 tỷ USD vào năm 1996. Kết quả đạt
được đó là do quan điểm của Việt Nam về việc mở cửa thu hút đầu tư đã có nhiều
thay đổi so với quan điểm trước đây.
Từ 1997 đến 1999: Cuộc khủng hoảng tài chính của Châu Á đã làm ảnh hưởng
đến làn sóng đầu tư và
o Việt Nam; đồng thời cũng do môi trường đầu tư của Việt
Nam kém hấp dẫn hơn so với các nước trong khu vực (quan liêu hành chính, bất ổn

về chính trị và xã hội, việc xử lý vi phạm hợp đồng…). Vốn FDI đăng ký mới giảm
trung bình 24%/năm; vốn giải ngân giảm 14%/năm.
Từ 2000 – 2003: Vốn giải ngân của nước ta có xu hướng tăng, nhưng với tốc
độ chậm; vốn đăng ký mới thì biến động thất thường. Năm 2002 được xem là năm có
vốn đăng ký thấp nhất, quy mô vốn/dự án cũng thấp nhất.
Từ 2004 – 2005: tổng vốn đăng ký tăng trên 30% so với năm
2003; tổng vốn
thực hiện tăng 7,6%. Tốc độ tăng nhanh vốn FDI giai đoạn này là do môi trường đầu
tư của nước ta đã được cải thiện đáng kể, thể hiện thông qua việc sửa đổi và bổ sung
một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài. Đồng thời, Việt Nam đã chú trọng hơn việc
xúc tiến đầu tư nước ngoài.
Từ 2005 – 2007: Riêng năm
2005, vốn cấp mới đạt 6,84 tỷ USD. Đặc biệt
trong 2 năm 2006 – 2007 dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đã gia tăng một
cách đáng kể với sự xuất hiện của nhiều dự án có quy mô lớn, đầu tư chủ yếu vào lĩnh
vực công nghiệp nặng (sản xuất sản phẩm công nghệ cao, đồ điện tử, thép…) và dịch

tiếp nước ngoài là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công
ty của nước đi đầu tư có được từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh
nghiệp nước ngoài”.
- Quan điểm của Thạc Sỹ Nguyễn Văn Tuấn – Bộ Tư Pháp: [29] “Đầu tư trực
tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ
nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm
soát doanh nghiệp
nhằm mục đích kinh doanh có lãi”.
- Theo tác giả Nguyễn Hoài Phương đề tài Luận Văn Thạc Sỹ:
“Đánh giá
tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển các ngành và lĩnh vực của
Thành Phố Hồ Chí Minh” thì “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình đầu tư
quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều
hành hoạt động sử dụng vốn” [34]
- Quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam
theo quy định tại
khoản 1 điều 2 Luật Đầu Tư nước Ngoài được sửa đổi, bổ sung năm 2000 “Đầu tư
trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”
(Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt
Nam).[29] 1.1.2.2. Bản chất FDI
Về thực chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự đầu tư của các công ty nhằm xây
dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu được thực hiện từ nguồn vốn tư nhân, vốn
của các công ty, nhằm mục đích thu được lợi nhuận cao hơn qua việc triển khai hoạt
động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài. Hay nói cách khác, bản chất của đầu tư trực
tiếp nước ngoài là nhằm mục đích

mại (xuất n
hập khẩu); chuyển giao công nghệ; di cư lao động quốc tế. Trong đó di cư
lao động quốc tế góp phần chuyển giao kỹ năng quản lý doanh nghiệp đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
- Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được phân chia cho các
bên theo tỷ lệ vốn góp vào vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi
tức cổ phần (nếu có).
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu
tư và bên kia là nước tiếp nhận đầu tư. [35
]
- Đầu tư nước ngoài thường được thực hiện thông qua các hình thức như: xây
dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động
hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiệp lại với nhau.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
chính sách về đầu tư trực tiếp của mỗi quốc g
ia tiếp nhận đầu tư thể hiện chính sách
mở cửa và quan điểm hội nhập quốc tế về đầu tư.
1.1.3. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Có nhiều hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài như: Hợp đồng hợp tác kinh
doanh; doanh nghiệp liên doanh; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và các hình
thức có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài khác như (BO
T: Xây dựng-khai
thác-chuyển giao; Khu chế xuất; Khu công nghiệp; Khu kinh tế mở; Khu thương mại
tự do; Đặc khu kinh tế; Hợp đồng phân chia sản phẩm – áp dụng trong ngành dầu khí
và khai thác mỏ; Công Ty nước ngoài lập chi nhánh ở Việt Nam…).
Phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia mà có các hình thức đầu tư
trực tiếp nước ngoài khác nhau. [28]

iệt Nam được hợp
tác với nhau hoặc với nhà đầu tư nước ngoài để thành lập doanh nghiệp 100% vốn
đầu tư nước ngoài mới tại Việt Nam.

Hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có thể là
Công Ty trách nhiệm hữu hạn pháp nhân Việt Nam hoặc Công Ty cổ phần pháp nhân
Việt Nam.
Ngoài ra, còn có các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo bản
chất đầu tư: [47], [21]
- Đầu tư phương tiện hoạt động: Là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư
mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức
này làm tăng khối lượng đầu tư vào. [47]

- Mua lại và sáp nhập: là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có
vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này ( có thể đang
hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn
FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu
vào.
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo tính chất d
òng vốn:
- Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu
doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành.
- Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ
hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
- Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty con
trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu,
trái phiếu doanh nghiệp của nhau. [21]

1.1.4. Môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố về pháp luật, kinh tế, chính trị, văn

oặc GDP bình quân đầu người.
Nếu GNP bình quân đầu người luôn luôn tăng thì quá trình tăng trưởng được xem là
tăng trưởng về chất.
Nếu giá trị tuyệt đối GNP tăng lên nhưng giá trị GNP bình quân đầu người không
tăng thậm chí giảm được xem là quá trình tăng trưởng về lượng.
1.2.1.2. Khái niệm phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế tác động thúc đẩy sự tiến bộ về mặt xã hội, hình thành cơ
cấu kinh tế hợp lý là nội dung của phát triển kinh tế.
Vậy phát triển kinh tế là quá trình
tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong
một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô, sản lượng sản
phẩm và sự tiến bộ về mọi mặt của xã hội; hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, có khả

năng khai thác nguồn lực trong và ngoài nước. Phát triển kinh tế là quá trình kết hợp
hài hòa vấn đề tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội khác.
Phát triển kinh tế gồm những nội dung sau:
- Gia tăng sản lượng hay tăng trưởng kinh tế dựa trên bốn yếu tố: vốn, lao
động, tài nguyên thiên nhiên và công nghệ (quy mô phát triển).
- Giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, bao gồm phát triển hợp lý cơ cấu kinh
tế, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động,

duy trì và bảo vệ môi trường sinh thái, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên
(chất lượng phát triển).
Tóm
lại phát triển kinh tế phản ánh sự vận động của nền kinh tế từ trạng thái
thấp lên trạng thái cao hơn cả về số lượng và chất lượng.
1.2.1.3. Phát triển bền vững
“Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm t
hỏa mãn các nhu cầu của thế hệ
hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ mai sau”.

- Giải quyết các vấn đề Kinh tế - xã hội, bao gồm phát triển hợp lý cơ cấu
kinh tế, thu hẹp khoảng cách giàu
nghèo, giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động, duy trì và bảo vệ môi trường sinh thái, khai thác hợp lý
nguồn tài nguyên thiên nhiên (chất lượng phát triển). [29]
Nội dung phát triển kinh tế nêu trên được xem là các tiêu chí để đánh giá tác
động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, hay nói cách khác lấy nội dung phát triển để
xem xét, đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại phần sau.
1.2.3.1. Các chỉ tiêu p
hản ánh sự tăng trưởng kinh tế
+ Tổng sản phẩm trong nước – GDP (Gross Domestic Product).
+ Tổng sản phẩm quốc gia – GNP (Gross National Product).
GNP = GDP + (-) thu nhập ròng từ nước ngoài (gửi về (+), gửi ra(-) )
1.2.3.2 Các chỉ tiêu về xã hội của phát triển.
- Chăm só
c sức khỏe cộng đồng (y tế)
- Trình độ học vấn của dân cư.
1.2.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển k
inh tế
* Nhóm thứ nhất:
Các nhân tố kinh tế bao gồm: [9]

- Vốn sản xuất: là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, phương tiện
vận tải, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật. Như vậy trong điều kiện năng suất lao động không
đổi thì tăng vốn sẽ làm tăng thêm sản lượng sản phẩm hang hóa.
- Lực lượng lao động: Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người
quyết định, nhất là người lao động có kỹ thuật, kinh nghiệm v
à kỹ năng lao động. Do
đó, chất lượng lao động quyết định hiệu quả sản xuất.
- Khoa học và công nghệ: Nó quyết định sự thay đổi năng suất lao động và chất

tác, chuyển giao công nghệ; những hình thức thương mại mới như thương mại điện tử
sẽ trở nên phổ biến, làm
thay đổi những quan niệm truyền thống. Thị trường tài chính
ngày càng được quốc tế hóa, tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trên thế
giới được dự báo sẽ tăng lên do ảnh hưởng của sự chuyển dịch của các dòng vốn trên
thế giới. Vai trò của các tổ chức tài chính quốc tế như Tổ Chức Tiền Tệ Quốc Tế
(IMF), Ngân Hàng Thế Giới (WB) trong nền kinh tế thế giới được tăng cường và mở
rộng phạm v
i ảnh hưởng. Sự phát triển mạnh mẽ của các thể chế kinh tế quốc tế, các
công ty đa quốc gia cũng là một biểu hiện quan trọng cho xu thế toàn cầu hóa nền
kinh tế thế giới trong những năm giữa thế kỷ XXI.
Xu thế mở rộng các liên kết kinh tế song phương, khu vực vẫn đang trở thành
một trong những nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế của khu vực v
à thế
giới. Các trung tâm kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, Liên Minh Châu Âu vẫn tiếp tục
là động lực chính thúc đẩy liên kết khu vực và toàn cầu.
Trong giai đoạn 2008 – 2010, các nước đang phát triển được dự báo sẽ đạt tốc
độ tăng trưởng GDP khá (4,5 – 5%) do tác động của nhiều nhân tố như: lực lượng lao
động được nâng cao cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ tiết kiệm v
à tích lũy vốn cao,
chuyển giao nguồn lực giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát
triển cũng như giữa các khu vực đang phát triển với nhau được mở rộng. Trong đó,
các nước ở khu vực Châu Á được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh nhất.
Đây là thời gian mà dòng vốn đầu tư nước ngoài đang có sự phục hồi. Theo
Tổ Chức Thương Mại và phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD), đầu tư nước
ngoài giảm
trong 3 năm đầu của thập kỷ mới, nhưng đã tăng mạnh trở lại trong 3 năm
gần đây (năm 2004 tăng 27% so với năm 2003; năm 2005 tăng 29% so với năm
2004). Mức vốn FDI trung bình hàng năm tr
ên thế giới tăng từ 93,8 tỷ USD những

rưởng ổn định,
đời sống của người dân sẽ được cải thiện đáng kể.
1.3.2. Bối cảnh trong nước
Qua gần 20 năm thực hiện các mục tiêu của 2 kỳ Chiến lược (1991 – 2000;
2001 – 2010), kinh tế - xã hội nước ta đã có bước tiến bộ đáng kể: quy mô nền kinh tế
tăng nhanh, mặt bằng phát triển đư
ợc nâng cao, chính trị - xã hội ổn định, đời sống

nhân dân được cải thiện. Đó là những điểm sang, hứa hẹn những bước tiến dài trong
tương lai, làm cơ sở cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước dài hạn.
Xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay trên thế giới là một tất yếu. Đứng
trước xu thế đó, tất cả các nước trên thế giới đều có khuynh hướng hợp tác song
phương, đa phương và giúp đỡ lẫn nhau để cùng nhau phát triển. Nước ta không thể
không tuân theo quy luật tất yếu đó, và đã tham g
ia tích cực vào tiến trình hợp tác
quốc tế và khu vực. Và đó cũng chính là lý do để ranh giới thực giữa các quốc gia
trong thương mại và quan hệ quốc tế bị xóa nhòa, thay vào đó là các mối quan hệ hợp
tác hữu nghị và cạnh tranh một cách lành mạnh, và thế giới trở nên phẳng hơn nhờ
tác động của sự tiến bộ về khoa học và công nghệ.
Nước ta chủ trương “đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế” với
tinh thần “Việt Nam
sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng
quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [27]. Với việc tham gia đầy đủ
và toàn diện vào các hoạt động kinh tế quốc tế, Việt Nam đang đứng trước những cơ
hội to lớn.
Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế được mở
rộng, việc thực hiện các cam
kết về khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp
Định Thương Mại Việt Nam – Hoa Kỳ, việc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới
(WTO) và thực hiện các hiệp định hợp tác đa phương, song phương khác đã góp phần

tục được n
âng cao, nhất là sau khi trở thành thành viên thứ 150 của WTO, tổ chức
thành công Diễn Đàn Hợp Tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ
14 tại Hà Nội và được Quốc Hội Mỹ thông qua Quy chế Thương Mại bình thường
vĩnh viễn (PNTR), tiếp tục làm tăng mối quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối
với địa bàn đầu tư nước ta.
Môi trường đầu tư kinh doanh của Việt N
am tiếp tục được cải thiện. Ngoài
việc triển khai Luật Đầu Tư chung, Luật Doanh Nghiệp và một số Luật khác cùng với
các Nghị Định hướng dẫn được ban hành đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn,
minh bạch hơn cho hoạt động đầu tư, nhiều biện pháp đã được tiến hành nhằm hạn
chế và khắc phục tình
trạng yếu kém của hệ thống kết cấu hạ tầng, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực…
Việc thực hiện chương trình hành động Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật
Bản đã góp phần tháo gỡ nhiều rào cản đối với đầu tư nước ngoài, làm cho môi
trường đầu tư ở nước ta trở nên thông thoáng và hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó, công tác

Trích đoạn Đối với các lĩnh vực khác Những khó khăn, hạn chế của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Bối cảnh thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Bà Rịa – Vũng Tàu Giải pháp tăng cường thu hút vốn FDI 1 Tăng cường hoạt động xúc tiến đầu t ư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status