BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-----------------------------------
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP BÀ RỊA –VŨNG TÀU
PHẠM THƯỜNG MINH
Hà Nội 2006
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP BÀ RỊA –VŨNG TÀU
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THƯỜNG MINH
3
MỤC LỤC
Trang 1
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................ 2
MỤC LỤC……………………………………………………………………3
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI, VỀ CÁC KCN....................................................... 166
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI……………16
1.1.1. Vài nét về tình hình và xu hướng phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài
trên thế giới và trong khu vực ………………………………………………16
1.1.2. Các khái niệm về đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài….......................19
1.2. VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ NÓI CHUNG VÀ VỐN ĐTTTNN ĐỐI
VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ………….20
1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CÁC KCN……27
1.4. PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA KHU CÔNG NGHIỆP ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ……………………………………………………………37
1.5.PHÂN TÍCH XU THẾ PHÁT TRIỂN VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KCN CẢ NƯỚC………………………...40
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KCN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU…47
2.1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KCN BÀ RỊA VŨNG TÀU…………………………………………………………………47
2.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀO CÁC KCN BÀ RỊA - VŨNG TÀU………………………….54
2.3. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU HÚT
ĐẦU VÀO CÁC KCN BÀ RỊA - VŨNG TÀU…………………………….67
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Như vậy, trong quá trình đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và hội nhập
quốc tế, Đảng và Chính phủ Việt nam thường xuyên nhấn mạnh tầm quan
trọng và có chính sách thỏa đáng cho việc kêu gọi, thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Kết quả là, trong 20 năm qua, chúng ta đã thu hút được hơn 50 tỷ
USD vốn đầu tư trực tiếp kèm theo đó là công nghệ và kỹ năng quản lý hiện
đại. Nhìn lại chặng đường 20 năm kể từ khi có Luật đầu tư nước ngoài năm
1987, dù phải trải qua những bước thăng trầm nhất định, nhưng dòng vốn đầu
tư nước ngoài đã không ngừng gia tăng và khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài đã và đang ngày càng củng cố vị thế của mình như là một bộ phận
cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Với môi trường đầu tư kinh doanh ngày
5
càng được cải thiện, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã hoạt động sản
xuất kinh doanh ngày càng phát triển, thể hiển ở các chỉ tiêu vốn thực hiện,
doanh thu, xuất khẩu và nộp ngân sách nhà nước ngày càng tăng. Giá trị xuất
khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (không tính xuất khẩu dầu
thô) chiếm 35% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nếu tính cả dầu thô thì tỷ
lệ trên đạt 56%. Nộp ngân sách của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
ngày càng tăng cao và riêng trong năm 2005 lần đầu tiên vượt 1 tỷ USD (1,29
tỷ USD). Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 40% sản lượng
công nghiệp; chiếm 80% ô tô, máy giặt, tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, máy tính;
chiếm 60% sản lượng thép cán; chiếm 76% dụng cụ y tế chính xác, chiếm
49% da giày, chiếm 30% xi măng,… tạo ra hàng triệu việc làm trực tiếp và
khoảng trên 2 triệu việc làm gián tiếp, góp phần trực tiếp nâng cao tay nghề
và thu nhập cho người lao động. Tốc độ tăng trưởng sản lượng công nghiệp
khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng năm đạt khoảng 20% gấp 1,3 lần tốc
độ tăng trưởng chung của cả nước.
Kết quả trên đây là cả một quá trình cải cách liên tục hướng tới việc
chính quyền địa phương đối với sự phát triển của doanh nghiệp; tính thân
thiện và khả năng phản ứng kịp thời, xử lý thoả đáng các nhu cầu chính đáng
của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư đã trở thành những yếu tố quan trọng,
ảnh hưởng đến các quyết định của các nhà đầu tư.
Bà Rịa – Vũng Tàu là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền
Đông Nam bộ, có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp, đồng thời là một
trong những địa phương đầu tiên của cả nước tiếp nhận đầu tư nước ngoài
(vào năm 1984), bằng việc Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt – Xô tiến hành
xây dựng cơ sở hậu cần tại TP. Vũng Tàu để khai thác dầu khí trên thềm lục
địa, trước khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài 3 năm. Kể từ khi thành lập
tỉnh vào năm 1991 đến nay, tại văn kiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ các
7
khoá I, II, III, IV đều đặt vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài là nhiệm vụ quan
trọng mà các cấp chính quyền toàn tỉnh phải tập trung thực hiện.
Đến nay Bà Rịa – Vũng Tàu đã thu hút được 150 dự án ĐTTTNN với
tổng vốn đầu tư đăng ký 3,5 tỷ USD, hiện đứng thứ 5 trong tổng số 64 tỉnh và
thành phố trong cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(ĐTTTNN). Các dự án ĐTNN vào Bà Rịa – Vũng Tàu chủ yếu tập trung đầu
tư vào các lĩnh vực du lịch, công nghiệp và dịch vụ cảng biển. Hàng năm khu
vực vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 40% sản lượng công nghiệp của toàn
tỉnh nếu không tính dầu khí, tính cả dầu khí thì tỷ lệ này là 80%; đóng góp
ngân sách tỉnh không tính dầu khí là 30%, nếu tính cả dầu khí là trên 75%;
các sản phẩm sản xuất từ khu vực vốn đầu tư nước ngoài chiếm đáng kể trong
tổng sản phẩm sản xuất công nghiệp tại tỉnh. Về thép chiếm 50%, xay lúa mỳ
chiếm 100%, điện chiếm 36,7% trong tổng công suất 3.900 MW; xi măng
chiếm 100% với công suất 1 triệu tấn; cảng tổng hợp với công suất thông qua
cảng trên 2 triệu tấn/năm…
Để thu hút mạnh hơn dự án ĐTTTNN tạo nguồn vốn bổ sung phát
hưởng xấu đến môi trường đầu tư. Một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài khi đi vào hoạt động cần tuyển dụng lao động có tay nghề kỹ thuật để
đáp ứng yêu cầu công việc nhưng không tuyển dụng được do dịch vụ đào tạo,
cung ứng lao động tại địa phương còn rất yếu kém.
Kết quả là vốn đầu tư và số lượng dự án ĐTTTNN thu hút trong thời
gian qua còn rất khiêm tốn, chiếm tỉ lệ rất thấp so với số lượng dự án
ĐTTTNN mà các địa phương trong vùng thu hút được, cụ thể tỉnh Đồng Nai
trong giai đoạn 1996-2005 bình quân hàng năm thu hút được 55 dự án
ĐTTTNN, vốn đầu tư 400 triệu USD; tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 19962005 bình quân hàng năm thu hút được 32 dự án ĐTTTNN, vốn đầu tư 150
9
triệu USD, trong khi Bà Rịa – Vũng Tàu chỉ thu hút được trung bình 10 dự
án, vốn đầu tư 100 triệu USD. Bên cạnh đó tỷ lệ các dự án giải thể trước thời
hạn vẫn còn ở mức cao, nhất là các dự án được cấp phép trong những năm
trước khủng hoảng.
Những yếu tố này đã làm cho việc nghiên cứu, xác định rõ các rào cản,
xây dựng các biện pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các
KCN Bà Rịa - Vũng Tàu ngày càng trở nên cấp bách, góp phần đưa Bà Rịa Vũng Tàu trở thành một trong các địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút đầu
tư nước ngoài, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, sớm đạt mục tiêu trở thành
tỉnh công nghiệp của cả nước như Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ IV
đã xác định.
Đây chính là ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài “Phân tích thực trạng
và một số giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN Bà
Rịa – Vũng Tàu”.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút đầu tư nước ngoài vào
các KCN tỉnh.
- Phân tích thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN
tỉnh từ năm 1996 cho đến nay, các tiêu chí phân tích gồm số lượng dự án thu
* Phạm vi về các vấn đề:
Đề tài này đề cập về các vấn đề có liên quan đến thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào các KCN gồm: các vấn đề thuộc cơ chế chính sách, tổ
chức và cách thức thực hiện, về hiệu quả kinh tế xã hội…
* Phạm vi về không gian nghiên cứu:
Đánh giá toàn diện thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN
trên địa bàn tỉnh, chỉ rõ những thuận lợi, những khó khăn trong thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào các KCN.
11
* Phạm vi về thời gian:
Đa số những số liệu ở đề tài được cập nhật từ thời điểm bắt đầu thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1987 và bắt đầu thành lập các KCN tỉnh năm
1996 tới tháng 12/2005 và một số số liệu được cập nhật tới sát thời điểm hoàn
thành Đề tài tháng 6/2006.
4. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:
4.1 Tổng quan nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài:
* Tình hình nghiên cứu trong nước:
Thời gian qua ở nước ta, nhiều tỉnh, thành phố đã nghiên cứu và vận
dụng nhiều chính sách linh hoạt nhằm tăng cường tính hấp dẫn trong thu hút
đầu tư của địa phương. Các biện pháp chủ yếu đã và đang được nhiều địa
phương áp dụng bao gồm:
- Chính sách ưu đãi trong xúc tiến đầu tư: nhiều tỉnh tổ chức các đợt
xúc tiến đầu tư và thương mại trong và ngoài nước nhằm thúc đẩy khả năng
thu hút đầu tư trên địa bàn và tăng cường cơ hội kinh doanh cho các doanh
nghiệp trên địa bàn. Đây là việc làm khá phổ biến hiện nay đối với nhiều địa
phương trong cả nước.
- Đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng đến hàng rào các KCN, hỗ trợ chi
phí cơ sở hạ tầng đến tận cơ sở sản xuất: Nhiều tỉnh tự bỏ vốn xây dựng hạ
quan nghiên cứu và hoạch định chính sách. Các nghiên cứu của Bộ Kế hoạch
& Đầu tư, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, của Viện Nghiên
cứu Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và nhiều tác giả khác đã đề cập đến nhiều khía
cạnh, dưới các góc độ khác nhau của vấn đề này. Nhiều nghiên cứu xung
quanh vấn đề tạo dựng môi trường kinh doanh và thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài cũng được triển khai khá mạnh mẽ. Nhìn chung, các nghiên cứu
đều khẳng định vai trò quan trọng của các địa phương trong việc tạo lập môi
trường thông thoáng thu hút đầu tư, đồng thời chỉ ra những thách thức mới
13
đối với yêu cầu nâng cao tính hấp dẫn trong thu hút đầu tư của địa phương
trong thời gian tới trong bối cảnh gia tăng cải cách và hội nhập kinh tế quốc
tế.
Có nhiều tác giả như TS Đinh Văn Ân, TS Phạm Mạnh Dũng, TS
Nguyễn Bích Đạt, TS Phan Hữu Thắng thuộc Bộ Kế hoạch & Đầu tư viết
sách và các bài báo. Các công trình này được xuất bản và đăng trên các tạp
chí uy tín như Thời báo Kinh tế Việt Nam, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, báo
Đầu tư… bàn về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; nhiều cuộc hội thảo và
nhiều đánh giá tổng kết về tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài qua
các năm 2000, 2001, 2002 được Bộ Kế hoạch & Đầu tư chủ trì thực hiện.
Các tác phẩm khoa học mà tác giả được tiếp cận viết về đầu tư trực tiếp
nước ngoài đáng chú ý là:
(1) Những vấn đề cơ bản về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
do Bộ Kế hoạch & Đầu tư soạn thảo dưới dạng đề cương chi tiết phục vụ làm
tài liệu giảng dạy, học tập về ĐTTTNN.
(2) Báo cáo Đánh giá chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài từ
góc độ phát triển bền vững do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương
thuộc Bộ Kế hoạch & Đầu tư thực hiện.
* Tình hình nghiên cứu trong tỉnh:
Nội dung chính của đề tài gồm 110 trang; chứa đựng 16 bảng, 18 biểu
và 2 sơ đồ; chia làm 3 chương.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI, VỀ CÁC KCN
Chương này tác giả làm rõ khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài;
nghiên cứu vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng,
phát triển kinh tế nói chung.
15
Đưa ra các khái niệm về KCN; khái quát sự ra đời các KCN Việt Nam,
cách thức tổ chức và nội dung quản lý nhà nước về các KCN; phân tích vai
trò, tác động của các KCN đối với phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nghiên cứu những đặc điểm
khác biệt về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN so với đầu tư trực tiếp
nước ngoài ngoài KCN. Phân tích xu thế phát triển của các KCN Việt Nam và
tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN trong giai đoạn
1996-2005.
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC KCN BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Ở chương này tác giả phân tích tổng quan về thực trạng thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam bộ,
có nhận xét tóm lược; phân tích thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào các KCN Bà Rịa – Vũng Tàu; đặc biệt tập trung đánh giá phân tích thực
trạng phát triển các KCN Bà Rịa – Vũng Tàu, các nhân tố ảnh hưởng đến môi
trường thu hút đầu tư vào các KCN Bà Rịa – Vũng Tàu so với các địa phương
khác; rút ra những điểm mạnh, điểm yếu trong môi trường thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào các KCN, trên cơ sở đó đưa ra mô hình SWOT. Kết quả
phân tích của chương này là thực tiễn quan trọng để tác giả đề xuất các giải
pháp ở Chương 3.
400 tỷ USD, năm 1998 đạt con số 600 tỷ USD, năm 1999 trên 700 tỷ USD.
Hầu hết các nước trên thế giới bao gồm cả các nước công nghiệp phát triển và
đang phát triển đều mở cửa thu hút ĐTTTNN. Tuy nhiên nếu như những năm
50, 60, ĐTTTNN tập trung chủ yếu vào các nước đang phát triển (khoảng
70%) thì từ những năm đầu thập niên 70 trở lại đây tình hình đã thay đổi theo
chiều ngược lại. Trong những năm 90, trung bình khoảng 75% ĐTTTNN thế
giới chảy vào các nước công nghiệp phát triển. Các nước này đồng thời cũng
17
là các nước xuất khẩu ĐTTTNN lớn nhất, chiếm khoảng 80% ĐTTTNN toàn
cầu. Dòng vốn ĐTTTNN trên thế giới lưu chuyển chủ yếu trong nội bộ và
giữa 3 trung tâm kinh tế thế giới là Bắc Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản và Đông Bắc
Á.
- Xuất hiện đa cực, đa biên và hiện tượng hai chiều hay lưỡng tính
trong ĐTTTNN; các Công ty đa quốc gia trở thành chủ thể đầu tư quan
trọng:
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Mỹ và các Công ty Mỹ trước hết là
các Công ty xuyên quốc gia là lực lượng gần như độc tôn tiến hành các hoạt
động đầu tư ra nước ngoài theo kế hoạch Marshall. Nhưng sau đó không lâu,
các công ty, đặc biệt là các Công ty xuyên quốc gia của các nước Tây Âu,
Nhật Bản đã lớn mạnh vì thế đã tiến hành các hoạt động ĐTTTNN cạnh tranh
với cá Công ty của Mỹ. Thị trường ĐTTTNN ngày nay không còn là thị
trường của riêng các Công ty Mỹ nữa mà ngược lại có sự cạnh tranh ngày
càng gay gắt giữa các Công ty của nhiều nước khác có đầu tư ra nước ngoài.
Cùng với sự vươn lên của Tây Âu, Nhật Bản và các nước NICs, tính “đa
biên”, “đa cực” đã xuất hiện và hoàn toàn thay thế tính đơn cực trong
ĐTTTNN.
Từ cuối những năm 70, đầu những năm 80 trở lại đây đã xuất hiện hiện
tượng “2 chiều” hay “lưỡng tính” trong ĐTTTNN đó là hiện tượng một nước
biên về đầu tư (MAI) nhằm tự do hoá đầu tư. Nhiều nước đang tiếp tục nỗ lực
tạo điều kiện thuận lợi cho ĐTTTNN thông qua các hiệp định song phương và
những chính sách ưu đãi đầu tư trong phạm vi khu vực và từng nước để tạo đà
đi lên. Các thoả thuận về hợp tác đầu tư, ở mức độ khác nhau đều đề cập đến
vấn đề mở cửa thị trường đầu tư và tiến tới tự do hoá đầu tư.
Riêng trong năm 1997, đã có 151 thay đổi trong quy định về ĐTTTNN
ở 76 nước, gần 90% các thay đổi này theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn
19
cho ĐTTTNN. Nhiều ngành trước đây được xem là đóng cửa đối với
ĐTTTNN như viễn thông, phát thanh, bảo hiểm, năng lượng… đã được mở ra
cho ĐTTTNN và tự hoá hơn. Trung Quốc là nước thu hút ĐTTTNN thành
công nhất trong số các nước đang phát triển. Năm 1998, ĐTTTNN vào Trung
Quốc chiếm 80% tổng ĐTTTNN vào Châu Á và 35% toàn bộ ĐTTTNN vào
các nước đang phát triển. Các nước Ấn Độ, Hàn Quốc mới chuyển hướng,
chú trọng hơn vào ĐTTTNN và đang trở thành đối thủ cạnh tranh đáng gờm
của các nước thu hút ĐTTTNN Châu Á.
Tóm lại, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được nhiều quốc
gia trên thế giới thực hiện từ rất lâu và có đủ cơ sở thực tiễn để khẳng định vai
trò quan trọng của ĐTTTNN đối với nền kinh tế đất nước. Chính vì vai trò
quan trọng của ĐTTTNN đối với thúc đẩy phát triển kinh tế nên hiện nay trên
phạm vi toàn thế giới cũng như trong phạm vi khu vực, cạnh tranh về thu hút
ĐTTTNN đang diễn ra hết sức gay gắt, nhất là giữa các quốc gia đang phát
triển. Việc cạnh tranh giữa các quốc gia về thu hút ĐTTTNN đã làm cho môi
trường đầu tư tại các nước này ngày càng minh bạch, tự do và hiệu quả, nâng
cao được việc sử dụng các nguồn lực vào phát triển kinh tế.
1.1.2. Các khái niệm về đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Trên bình diện xã hội, đầu tư là việc sử dụng vốn vào quá trình tái sản
xuất xã hội nhằm tạo ra năng lực sản xuất lớn hơn.
động và nâng cao mức sống nhân dân. Do vậy khả năng thu hút đầu tư cho
một nền kinh tế hay cho một địa phương ngày càng trở nên quan trọng cho sự
phát triển.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ của Đảng và Nhà
nước ta trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên CNXH. Trong quá trình này, chúng
ta cần nhiều vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Trong khi đó các nguồn
21
khác như ngoại thương, ODA, nội lực là rất có hạn và cũng đặt ra không ít
thách thức. Hơn nữa, việc phát huy nội lực lại có quan hệ hữu cơ, mật thiết
với việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư với nước ngoài. Thông
qua kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài chúng ta có thể khai thác, phát huy tốt
hơn tiềm năng, lợi thế so sánh của đất nước, góp phần phân bổ công nghiệp
hợp lý, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển kinh tế trong điều kiện năng lực
sản xuất, trình độ quản lý của nội tại bản thân nền kinh tế đất nước còn nhiều
hạn chế và yếu kém...
Qua nghiên cứu, tổng kết, đánh giá của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh
tế Trung ương công bố tháng 4/2006 thì vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đối với nền kinh tế nước ta được thể hiện ở những khía cạnh cơ bản
sau:
1.2.1. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Khu vực kinh tế đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn giữ vai trò đầu tàu
tăng trưởng. Tỷ lệ đóng góp của khu vực này trong GDP tăng dần qua các
năm: năm 1995 là 6,3%; năm 1998 là 10,1%; năm 2000 là 13,3%; năm 2003
tăng lên 14,5% và năm 2005 đã tăng lên 16,1% thông qua đóng góp vào tổng
mức đầu tư của xã hội. Tăng trưởng kinh tế là kết quả của việc tăng đầu tư
trong nước và tăng đầu tư nước ngoài, trong đó có nguồn vốn mới đổ thêm
vào và của ngồn vốn ĐTTTNN đang hoạt động. Tốc độ tăng trưởng GDP của
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng đầu tư nhà
800
700
600
500
400
300
200
100
0
1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Số vốn đăng ký mới
Số vốn thực hiện
Số DA cấp mới
Nguồn: Bộ Kế hoạch & Đầu tư
Về giá trị tương đối, xét theo tỷ lệ so với GDP, vốn ĐTTTNN tăng liên
tục trong suốt 20 năm qua, từ 2,4 % năm 1991 lên 15,1% năm 2005.
Biểu đồ 1.2: ĐTTTNN thực hiện so với tổng đầu tư toàn xã hội
23
35%
31% 30%
30%
13,8%
21%
13,3%
14,6%
15,1%
14,0%
13,9%
12,0%
19% 18% 18% 18% 19% 20% 10,0%
8,0%
6,0%
4,0%
3,6%
5%
16,0%
2,4%
2,0%
1.2.3. Kích thích đầu tư trong nước.
Về vĩ mô, trong khi đầu tư nước ngoài tính theo tỷ lệ so với GDP tăng
liên tục trong 20 năm qua thì không có bằng chứng rõ rệt về việc vốn trong
nước bị thay thế hay giảm sút. Bảng dưới cho thấy tỷ lệ vốn đầu tư trong nước
thay đổi tăng giảm không phụ thuộc vào biến động của vốn đầu tư nước
ngoài.
Bảng 1.2: Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP (%)
Tổng
đầu tư
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
33,7
35,9
36,3
24
ĐTNN
2,0
3,6
6,1
6,1
6,3
7,4
9,1
10,0
2,2
13,3
Nguồn: Số liệu đến năm 2000: Báo cáo Bộ Kế hoạch & Đầu tư. Số liệu từ 2001 đến 2004:
Báo cáo kinh tế hàng năm của CIEM.
1.2.4. Thúc đẩy phát triển thương mại quốc tế.
* Xuất khẩu;
Nếu như thời kỳ 1991-1995, xuất khẩu của khu vực đầu tư trực tiếp
nước ngoài (ĐTTTNN) mới đạt trên 1,2 tỷ USD thì những năm 1996 - 2000
đạt 10,6 tỷ USD, tăng hơn 8 lần so với 5 năm trước và chiếm 23% kim ngạch
xuất khẩu của cả nước. Trong 5 năm 2001-2005 xuất khẩu của khu vực đầu tư
trực tiếp nước ngoài đạt 34,2 tỷ USD, riêng năm 2005 đạt 17,8 tỷ USD, chiếm
31,4% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của
khu vực ĐTTTNN luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của cả nước
(trừ năm 1995 và 1996). Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTTTNN
trong kim ngạch xuất khẩu cả nước đã tăng liên tục qua các năm: từ 25% vào
năm 2000 lên 35% vào năm 2005, nếu tính cả dầu thô thì tỷ trọng tăng từ
45,2%, năm 2001 lên 56% năm 2005.
So sánh với các nước khác như Singapore đầu tư nước ngoài đóng góp
72% tổng kim ngạch xuất khẩu, Mêhicô 32%, Đài Loan 25,6%, Hàn Quốc
24,6%, Thái Lan 22,7%, Hồng Kông 16,5% thì Việt Nam thuộc loại trung
bình.
Đặc biệt trong những ngành công nghiệp xuất khẩu chủ yếu, ĐTTTNN
đóng góp đáng kể cho xã hội: dầu khí 100%; hàng điện tử 85%; giày dép 42%
và hàng may mặc 25%. Trong khi đó, ĐTTTNN hầu như không có vai trò gì
đáng kể trong xuất khẩu hàng nông sản. Tỷ trọng xuất khẩu so với doanh thu
của doanh nghiệp ĐTNN cũng đã tăng nhanh: bình quân thời kỳ 1991-1995
đạt 30%; thời kỳ 1996-2000 đạt 48,7%; trong 5 năm 2001-2005 đạt khoảng
50%.