BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
____________________ Lê Thị Nga
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Chuyên ngành : Địa Lý học
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
khích lệ để tác giả hoàn thành khóa học và luận văn của mình.
Do thời gian, nguồn số liệu, tài liệu và khả năng của tác giả có giới hạn nên luận
văn khó có thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì thế, tác giả rất mong nhận được sự góp ý
từ phía Thầy C
ô và các bạn đồng nghiệp để tác giả có thể rút ra được nhiều bài học quý
giá và khắc phục trong lần nghiên cứu tiếp theo nếu tác giả có đủ điều kiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Lê Thị Nga
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ASEAN : Các nước Đông Nam Á.
APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương.
BR-VT : Bà Rịa – Vũng Tàu.
CN : Công nghiệp.
CN-TTCN : Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
EU : The European Union - Liên minh Châu Âu
FDI : Foreign Direct Investment – Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
FTA : Hiệp định thương mại tự do.
GATS : Hiệp định thương mại dịch vụ của WTO.
GDP : Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm trong nước
GNP : Gross National Product – Tổng sản phẩm quốc nội.
GO : Tổng giá trị sản xuất
IMF
: International Moneytary Fund - Quỹ tiền tệ thế giới.
KCN : Khu công nghiệp.
KT – XH : Kinh tế - xã hội.
NAFTA : Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ.
Bảng 2.7
: Cơ cấu GDP của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo khu vực và ngành
kinh tế..................................................................................................51
Bảng 2.8
: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ................55
Bảng 2.9
: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tỉnh từ năm 2001–2007
......56
Bảng 2.
10 : Thu ngân sách Nhà nước tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu ...............................58
Bảng 2.
11 : Giá trị xuất khẩu khu vực vốn FDI tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu..............63
Bảng 2.
12 : Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng công nghiệp khu vực FDI......64
Bảng 2.
13 : Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp khu vực FDI tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu .............................................................................65
Bảng 2.
14 : Chỉ số giá trị sản xuất công nghiệp khu vực FDI tỉnh
Bà Rịa–Vũng Tàu
................................................................................65
Bảng 2.15 :
Các chỉ tiêu thực hiện ngành công nghiệp và dịch vụ giai đoạn
2001 – 2005 ........................................................................................66
Bảng 2.
16 : Lao động các đơn vị vốn FDI theo ngành công nghiệp ......................68
Bảng 2.
17 : Số dự án và tổng vốn đầu tư phân theo hình thức đầu tư....................70
Bảng 2.18 : Số dự án theo quy mô đăng ký của hình thức đầu tư giai đoạn
1988-2007............................................................................................73
Vũng Tàu đến 2007.............................................................................71
Hình 2.5 : Cơ cấu vốn FDI theo hình thức đầu tư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
tính đến 2007.......................................................................................71
Hình 2.6 : Cơ cấu dự án FDI phâ
n theo ngành kinh tế tính đến 2007..................78
Hình 2.7 : Cơ cấu vốn FDI phân theo ngành kinh tế tính đến 2007.....................78
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, toàn cầu hóa đang ngày càng phổ biến và trở thành một xu hướng phát triển tất yếu
trong lịch sử nhân loại.
Khi xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh cả về quy mô lẫn tốc
độ dẫn tới sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày
càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là dấu
hiệu phê chuẩn của thị trường toàn cầu về chính sách và triển vọng phát triển kinh tế của một nước, là
động lực để có thể tạo ra những thay đổi sâu rộng trong phát triển quan hệ quốc tế ở nhiều lĩnh vực khác
nhau như c
hính trị, kinh tế, ngoại giao. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đồng thời trở thành công cụ sắc b
én
cho phát triển và hội nhập toàn cầu, mở rộng thị trường, cắt giảm chi phí tăng thêm sức mạnh cạnh tranh
của các quốc gia.
Thật vậy, sức mạnh của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động lên nền kinh tế Việt Nam đang
thể hiện rõ tầm quan trọng của nó. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp các tỉnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở ra nhiều ngành nghề và sản phẩm mới, góp
phần nâng cao năng lực quản lý và tăng năng s
uất lao động, phát triển công nghệ, mở rộng thị trường
xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao mức sống của người lao động.
Và quả ngọt đầu tư trực tiếp nước ngoài mà Việt Nam
thu hoạch được trong thời gian qua phần lớn dựa
vào quá trình 20 năm cải cách và một phần dựa vào ngoại cảnh. Thành tựu đáng kể đó không thể không
thể tránh được một số thiếu sót. Tôi thực sự mong muốn Quý Thầy Cô và các bạn đồng nghiệp đóng góp
ý kiến để tôi có thể hoàn thiện hơn đề tài của mình trong lần nghiên cứu tiếp theo nếu tôi có đủ điều kiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được: Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực và tiêu cực n
hư thế nào đối với
sự phát triển kinh tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Tìm
ra các giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong phát triển kinh tế của Bà Rịa – Vũng Tàu.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phát hiện các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến kinh tế Bà
Rịa – Vũng Tàu.
- Tìm ra các giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm giảm thiểu các tác động tiêu
cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế của tỉnh.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Phân tích, đánh giá các yếu tố:
+
Số dự án được cấp phép.
+
Số dự án phân theo ngành kinh tế và lĩnh vực đầu tư.
+ Quy mô dự án, số vốn bình quân một dự án.
+ Đối tác đầu tư chủ yếu.
+ Môi trường đầu tư.
- Về thời gian: Từ 1995 – 2007; đặc biệt từ 2000 – 2007 .
- Về không gian: Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Do thiếu các dữ liệu cần thiết và số liệu không đủ, không thể sử dụng phương pháp phân tích định
lượng nên nghiên cứu này tôi chỉ sử dụng phương pháp phân tích định tính sử dụng số liệu thống kê,
Riêng việc nghiên cứu đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tác giả chưa thấy
công trình nghiên cứu nào. Mặt khác, Bà Rịa – Vũng Tàu là một tỉnh có nhiều đặc trưng trong phát triển
kinh tế, đóng góp vào ngân sách nhà nước một nguồn thu đáng kể hằng năm. Bên
cạnh đó, Bà Rịa –
Vũng Tàu là tỉnh mà tác giả đã công tác tại đây từ 2002 – nay, tác giả nhận thấy được sự thay da đổi thịt
của vùng đất này. Để lý giải cho sự thay đổi đó, tác giả nhận thấy sự phát triển kinh tế của tỉnh cần và có
sự đóng góp của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vì vậy nghiên cứu về “đầu tư trực tiếp nước
ngoài và phát triển kinh tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” một mặt để thõa m
ãn nhu cầu nghiên cứu của bản
thân và có thể đưa ra một số giải pháp giúp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thu hút và sử dụng hiệu quả hơn
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới, đặc biệt là thời kỳ hậu WTO.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn phải giải quyết trình tự các chương:
Chương 1:
Cơ sở lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế.
Chương 2:
Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động của đầu tư trực tiếp
nước ngoài đối với kinh tế của tỉnh B
à Rịa – Vũng Tàu.
Chương 3:
Các giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
đối với phát triển kinh tế của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.
Lịch sử hình thành đầu tư trực tiếp nước ngoài
Dựa vào tiêu chí mức độ phát triển đầu tư quốc tế, ch
1985. Riêng giai đoạn 1960 – 1990 tăng từ 68 tỷ USD đến 2100 tỷ USD, với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm
11%.
Thời kỳ nà
y ở các nước phát triển, các công ty đa quốc gia (TNC
S
) ra đời với số lượng lớn, khoảng
37000 TNC
S
gồm 20600 chi nhánh.
Xu hướng đầu tư vào công nghiệp đã có sự sụt giảm (từ 1970), thay vào đó là đầu tư vào các
ngành dịch vụ. Sự chuyển hướng đầu tư đó thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài; tỷ trọng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài của lĩnh vực dịch vụ là lớn nhất, chiếm 50% tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài của một nước đi đầu tư.
Từ giữa 1980, chính sách tự do hóa đầu tư được hình thành và phát triển. Đây là điểm nổi bật của giai
đoạn này.
Thứ tư, giai đoạn từ 1991 – nay: Giai đoạn này, nền kinh tế thế giới bắt đầu đi vào quá trình hội
nhập sâu rộng. Nhiều tổ chức kin
h tế khu vực và thế giới được thành lập như: NAFTA (1992); WTO
(1995); EU (1996)…đã có tác động lớn đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tự do hóa đầu tư
với nhiều biện pháp của các nước, các khu vực và thế giới đã đi vào chiều sâu, có tác dụng hỗ trợ hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển. Chẳng hạn như Hiệp định thương mại dịch vụ (GATS) của
WTO; Nghị định Thư về khuyến khích và bảo hộ đầu tư của MERCOSUR; Nghị định Thư về khu vực
đầu tư ASEAN…
Giai đoạn này, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu tăng nhanh từ khi có các H
iệp định
đầu tư song phương được ký kết ( 1991 – 1995 – 2000 ). Cấu trúc vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ
yếu vào lĩnh vực dịch vụ.
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng vận động: từ các nước công nghiệp phát triển sang
các nước đang và kém phát triển, từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước công nghiệp phát
tư vào Việt Nam; đồng thời cũng do m
ôi trường đầu tư của Việt Nam kém hấp dẫn hơn so với các nước
trong khu vực (quan liêu hành chính, bất ổn về chính trị và xã hội, việc xử lý vi phạm hợp đồng…). Vốn
FDI đăng ký mới giảm trung bình 24%/năm;
vốn giải ngân giảm 14%/năm.
Từ 2000 – 2003: Vốn giải ngân của nước ta có xu hướng tăng, nhưng với tốc độ chậm; vốn đăng
ký mới thì biến động thất thường. Năm 2002 được xem là năm có vốn đăng ký thấp nhất, quy mô vốn/dự
án cũng thấp nhất.
Từ 2004 – 2005: tổng vốn đăng ký tăng trên 30% so với năm
2003; tổng vốn thực hiện tăng 7,6%.
Tốc độ tăng nhanh vốn FDI giai đoạn này là do môi trường đầu tư của nước ta đã được cải thiện đáng kể,
thể hiện thông qua việc sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài. Đồng thời, Việt
Nam đã chú trọng hơn việc xúc tiến đầu tư nước ngoài.
Từ 2005 – 2007: Riêng năm
2005, vốn cấp mới đạt 6,84 tỷ USD. Đặc biệt trong 2 năm 2006 –
2007 dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đã gia tăng một cách đáng kể với sự xuất hiện của nhiều
dự án có quy mô lớn, đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp nặng (sản xuất sản phẩm công nghệ cao,
đồ điện tử, thép…) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, tư vấn…)
Năm
2006, cả nước đã thu hút được 10,6 tỷ USD. Năm 2007 tổng vốn đầu tư thu hút được là 20,3
tỷ USD, gần gấp đôi so với năm 2006. Để đạt được kết quả to lớn đó, trước hết phải kể đến sự nỗ lực của
toàn dân tộc Việt Nam trong việc chung sức xây dựng và phát triển kinh tế đất nước. Vị thế của Việt
Nam trên trường quốc tế đã thay đổi, thể hiện qua việc nước ta trở thành thành viên thứ 150 qua việc gi
a
nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới vào tháng 11/2006.
1.1.2. Khái niệm, bản chất, đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
- Theo Quỹ Tiền Tệ Thế Giới ( International Moneytary Fund – IMF ): “Đầu tư trực tiếp nước
ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư – hosti
ng
1.1.2.2. Bản chất FDI
Về thực chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ sở, chi
nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu được thực hiện từ nguồn vốn tư nhân, vốn của các công ty,
nhằm mục đích thu đư
ợc lợi nhuận cao hơn qua việc triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước
ngoài. Hay nói cách khác, bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích
đầu tư hay tìm kiếm lợi nhuận ở nước tiếp nhận đầu tư thông qua di chuyển vốn (bằng tiền và tài sản,
công nghệ và trình độ quản lý) từ nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư.
Nhà đầu tư chỉ m
ong muốn đầu tư khi họ cho rằng khoản đầu tư đó có thể mang lại lợi nhuận cao
cho họ. Đây là đặc điểm cơ bản nhất và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc hình thành hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài giữa các quốc gia.
1.1.2.3.
Đặc điểm FDI
- Tỷ lệ góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định của dự án đạt mức tối thiểu
theo luật đầu tư của từng nước quy định. Chẳng hạn như theo Luật đầu tư Việt Nam quy định: “số vốn
đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của dự án”.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một dự án m
ang tính lâu dài. Đây là đặc điểm phân biệt giữa đầu tư
trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp. Đầu tư gián tiếp thường là các dòng vốn có thời gian hoạt động
ngắn và có thu nhập thông qua việc mua bán chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu).
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một dự án có sự tham gia quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài phải có số % cổ phần nhất định mới được tham gia gia quản lý doanh
nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (
OECD) và Bộ Thương Mại Hoa Kỳ thì
nhà đầu tư nước ngoài phải có ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc quyền bỏ phiếu trong các doanh nghiệp
đầu tư trực tiếp nước ngoài có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức kéo dài “ chu kỳ tuổi thọ sản xuất”; “chu kỳ tuổi thọ kỹ
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực
hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải do đại diện có thẩm quyền của các bên hợp doanh ký. Hợp
đồng hợp tác kinh doanh có hiệu lực kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư.
1.1.3.2. Hình thức doanh nghiệp liên doanh ( A Joint Venture Enterprise)
Doanh nghiệp liên doanh là hình thức đầu tư mà một doanh nghiệp mới được thành lập trên cơ sở
góp vốn của hai bên hoặc nhiều bên Việt N
am và nước ngoài.
Hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp liên doanh là Công Ty trách nhiệm hữu hạn pháp
nhân Việt Nam hoặc Công Ty cổ phần pháp nhân Việt Nam.
Vấn đề góp vốn của liên doanh thì theo Luật Đầu Tư Nước Ngoài của Việt Nam, vốn pháp định của
doanh nghiệp liên doanh ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư. Đối với các dự án xây dựng công trình kết
cấu hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy mô lớn, tỷ lệ
này có thể thấp hơn nhưng không quá 20% vốn đầu tư và phải được cơ quan cấp Giấy phé
p đầu tư chấp
thuận.
1.1.3.3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài do
nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt N
am được hợp tác với nhau hoặc
với nhà đầu tư nước ngoài để thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới tại Việt Nam.
Hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có thể là Công Ty trách
nhiệm hữu hạn pháp nhân Việt Nam hoặc Công Ty cổ phần pháp nhân Việt Nam.
Ngoài ra, còn có các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngo
ài phân theo bản chất đầu tư: [47], [21]
- Đầu tư phương tiện hoạt động: Là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập
các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào. [47]
- Mua lại và sáp nhập: là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt
động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này ( có thể đang
về quy mô, sản lượng trong một thời kỳ nhất định (thường là
một năm).[9]
Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng mức tăng t
hêm tổng sản phẩm trong
nước, tức GDP (Gross Domestic Product). Mức tăng đó thường tính trên toàn bộ nền kinh tế hay tính
bình quân theo đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ trước.
Tăng trưởng kinh tế được tính bằng:
Sự tăng trưởng của đại lượng tuyệt đối tổng sản phẩm quốc dân GNP hoặc tổng sản phẩm q
uốc
nội GDP. Hoặc:
Sự tăng lên của GNP hoặc GDP bình quân đầu người.
Nếu GNP bình quân đầu người luôn luôn tăng thì quá trình tăng trưởng được xem là tăng trưởng về chất.
Nếu giá trị tuyệt đối GNP tăng lên nhưng giá trị GNP bình quân đầu người không tăng thậm chí giảm
được xem là quá trình tăng trưởng về lượng.
1.2.1.2. Khái niệm phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế tác động thúc đẩy sự tiến bộ về mặt xã hội, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý
là nội dung của phát triển kinh tế.
Vậy phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất
định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô, sản lượng sản phẩm và sự tiến bộ về mọi mặt của xã
hội; hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, có khả năng khai thác nguồn lực trong và ngoài nước. Phát triển
kinh tế là quá trình kết hợp hài hòa vấn đề tăng t
rưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội khác.
Phát triển kinh tế gồm những nội dung sau:
- Gia tăng sản lượng hay tăng trưởng kinh tế dựa trên bốn yếu tố: vốn, lao động, tài nguyên thiên
nhiên và công nghệ (quy mô phát triển).
- Giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, bao gồm phát triển hợp lý cơ cấu kinh tế, thu hẹp khoảng
cách giàu nghèo, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, duy trì và bảo vệ mô
i trường sinh thái,
khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên (chất lượng phát triển).
Tóm
thiên nhiên và công nghệ (quy mô phát triển).
- Giải quyết các vấn đề Kinh tế - xã hội, bao gồm phát triển hợp lý cơ cấu kinh tế, thu hẹp
khoảng cách giàu nghèo, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, duy trì và bảo vệ
môi trường sinh thái, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên (chất lượng phát triển).
[29]
Nội dung phát triển kinh tế nêu trên được xem là các tiêu chí để đánh giá tác động của đầu tư trực
tiếp nước ngoài, hay nói cách khác lấy nội dung phát triển để xem
xét, đánh giá tác động của đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại phần sau.
1.2.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng kinh tế
+ Tổng sản phẩm trong nước – GDP (Gross Domestic Product).
+ Tổng sản phẩm quốc gia – GNP (Gross National Product).
GNP = GDP + (-) thu nhập ròng từ nước ngoài (gửi về (+), gửi ra(-) )
1.2.3.2 Các chỉ tiêu về xã hội của phát triển.
- Chăm só
c sức khỏe cộng đồng (y tế)
- Trình độ học vấn của dân cư.
1.2.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển k
inh tế
* Nhóm thứ nhất:
Các nhân tố kinh tế bao gồm: [9]
- Vốn sản xuất: là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, cơ sở hạ tầng
và kỹ thuật. Như vậy trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng vốn sẽ làm tăng thêm sản
lượng sản phẩm hang hóa.
- Lực lượng lao động: Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là
người lao động có kỹ thuật, kinh nghiệm v
à kỹ năng lao động. Do đó, chất lượng lao động quyết định
hiệu quả sản xuất.
- Khoa học và công nghệ: Nó quyết định sự thay đổi năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
giới được tăng cường và mở rộng phạm v
i ảnh hưởng. Sự phát triển mạnh mẽ của các thể chế kinh tế
quốc tế, các công ty đa quốc gia cũng là một biểu hiện quan trọng cho xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế
giới trong những năm giữa thế kỷ XXI.
Xu thế mở rộng các liên kết kinh tế song phương, khu vực vẫn đang trở thành một trong những
nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế của khu vực và thế giới. Các trung tâm
kinh tế lớn như
Mỹ, Nhật Bản, Liên Minh Châu Âu vẫn tiếp tục là động lực chính thúc đẩy liên kết khu vực và toàn cầu.
Trong giai đoạn 2008 – 2010, các nước đang phát triển được dự báo sẽ đạt tốc độ tăng trưởng
GDP khá (4,5 – 5%) do tác động của nhiều nhân tố như: lực lượng lao động được nâng cao cả về số
lượng và chất lượng, tỷ lệ tiết k
iệm và tích lũy vốn cao, chuyển giao nguồn lực giữa các nước công
nghiệp phát triển và các nước đang phát triển cũng như giữa các khu vực đang phát triển với nhau được
mở rộng. Trong đó, các nước ở khu vực Châu Á được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh nhất.
Đây là thời gian mà dòng vốn đầu tư nước ngoài đang có sự phục hồi. Theo Tổ Chức Thương Mại
và phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD), đầu tư nước ngoài giảm
trong 3 năm đầu của thập kỷ mới,
nhưng đã tăng mạnh trở lại trong 3 năm gần đây (năm 2004 tăng 27% so với năm 2003; năm 2005 tăng
29% so với năm 2004). Mức vốn FDI trung bình hàng năm trên thế giới tăng từ 93,8 tỷ USD những năm
80 tăng lên 388,3 tỷ U
SD trong những năm 90 và tăng lên 541,5 tỷ USD trong nửa cuối những năm 90.
Và hiện nay vốn FDI trên thế giới đã tăng lên hàng ngàn tỷ USD. Trong số các nước đang phát triển,
Đông Nam Á đang là địa chỉ ưa chuộng của các nhà đầu tư.
Kinh tế thế giới những năm tới lấy đà tăng tốc và sẽ đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất vào thập niên
thứ 2 của thế kỷ XXI, dựa trên đổi mới công nghệ mà các nhà kinh tế gọi là “pha dâng cao của ch
u kỳ
sóng dài thứ năm” [12] và theo UNCTAD từ nay đến năm 2020, nguồn vốn đầu tư đang có xu hướng đổ
vào các nước đang phát triển, nhất là những nền kinh tế mới nổi, có tốc độ tăng trưởng cao. Và dự báo
nguồn vốn đầu tư sẽ chảy vào các nước Châu Á tăng 6% (mức bình quân thế giới là 3,6%).
Trong khi đó những rủi ro do tập trung đầu tư quá lớn vào Trung Quốc đã bộc lộ rõ trong năm
tranh một cách lành mạnh, và thế giới trở nên phẳng hơn nhờ tác động của sự tiến bộ về khoa học và
công nghệ.
Nước ta chủ trương “đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế” với tinh thần “Việt Nam
sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và
phát triển
” [27]. Với việc tham gia đầy đủ và toàn diện vào các hoạt động kinh tế quốc tế, Việt Nam đang
đứng trước những cơ hội to lớn.
Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế được mở rộng, việc thực hiện
các cam kết về khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp Định Thương Mại V
iệt Nam – Hoa Kỳ,
việc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) và thực hiện các hiệp định hợp tác đa phương,
song phương khác đã góp phần tạo ra bước phát triển mới quan trọng về kinh tế đối ngoại nhất là thu hút
đầu tư và xuất khẩu. Dòng lưu chuyển vốn đầu tư, lao động, công nghệ, dịch vụ được mở rộng, tạo cơ
hội cho Việt Nam thu hút thêm vốn, công nghệ tiên tiến và
cả lao động có chất lượng để cơ cấu lại nền
kinh tế theo hướng hiện đại, phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững.
Tình hình chính trị - xã hội của nước ta tiếp tục ổn định. Thành công của Đại Hội Đại Biểu toàn
quốc lần thứ X của Đảng với việc khẳng định tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, trong đó có
việc đề ra n
hiệm vụ: “ Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn
đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm. Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài, hướng vào thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài. [27]
Tình
hình chính trị xã hội trong nước ổn định đã tiếp tục củng cố niềm tin của cộng đồng đầu tư quốc tế, thúc
đẩy gia tăng dòng vốn FDI vào nước ta.
Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh với tốc độ tăng GDP năm 2005 là 8,4% (tổng G
DP đạt
53,053 tỷ USD); năm 2006 là 8,17%; năm 2007 là 8,48%. Tốc độ tăng GDP trung bình trong 5 năm là
7,51%. Dự kiến đến 2010 tổng GDP đạt 94 – 98 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 1100 USD. Kinh
Việt Nam
sẽ có kế hoạch tăng vốn mở rộng quy mô sản xuất.
Chất lượng nguồn nhân lực có bước tiến bộ: trình độ dân trí được nâng lên một bước, người dân
có nhiều cơ hội gia nhập cuộc sống xã hội và kinh tế, theo kịp tiến trình đổi mới và phát triển đất nước
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đậi hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Dân chủ cơ sở được thực hiện, tạo
ra sự đồng thuận của cộng đồng dân cư trong các chương trình phát triển của đất nước.
Bên cạnh những thuận lợi kể trên thì nước ta cũng phải đối mặt với một số khó khăn nhất định,
như:
- Nền kinh tế nước ta mặc dù có tăng trưởng nhưng không vững chắc, tính hiệu quả chưa cao. H
ay
nói cách khác, chất lượng tăng trưởng kinh tế của nước ta còn thấp; do chủ yếu vẫn dựa vào yếu tố vốn,
lao động, và khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm tăng năng lực sản xuất theo chiều rộng, theo m
ô hình
thiên về “cung”; tác động của yếu tố “cầu” không đậm nét; tác động của yếu tố công nghệ trong tăng
trưởng kinh tế chưa cao. Quy mô nền kinh tế còn rất nhỏ bé. Nhịp độ tăng trưởng trong 5 năm gần đây
chậm dần, năm 2007 mới có dấu hiệu hồi phục, nhưng sự hồi phục đó chưa kịp thổi vào nền kinh tế một
luồng sinh khí mới th
ì yếu tố lạm phát đã đẩy nền kinh tế xuống mức tăng trưởng âm ở những tháng đầu
năm 2008.
- Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta và của các Doanh Ngiệp Việt Nam chưa thực sự đủ
để có thể “ra khơi”.
- Hệ thống cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật của nước ta vừa yếu vừa thiếu và chưa đồng bộ.
Trong khi đó m
uốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách nhanh nhất thì yếu
tố cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước.
- Vấn đề quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài còn nhiều bất cập, thủ tục hành chính còn phiền
hà, tình trạng thi hành pháp luật còn thiếu nghiêm túc và tham nhũng vẫn đang trở thành quốc nạn,
và
đây là vấn đề mà bất kỳ một nhà đầu tư nào cũng phải chùn chân và lo ngại.
đến cuối năm 2007, nước ta đã cấp phép cho 9500 dự án đầu tư nước ngoài với 98 tỷ USD. Trừ các dự
án hết thời hạn hoạt động hoặc giải thể trước thời hạn, hiện còn 8500 dự án với tổng số vốn đăng ký là
83,1 tỷ USD.
Tính đến thời điểm h
iện nay, vốn FDI chiếm 19% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội (trong đó
thời kỳ 1988 – 1990 là 12,1%, thời kỳ 1991 – 1996 là 26,8%, thời kỳ 1997 – 2000 là 20,6%, thời kỳ
2001 – 2007 là 16,9%).
Và điều quan trọng hơn cả là nhờ có vốn F
DI mà nhiều nguồn lực trong nước được khai thác, phát huy
tác dụng, đồng thời Nhà nước có thể chủ động hơn trong bố trí cơ cấu chi đầu tư phát triển và dành lượng
ngân sách nhiều hơn cho tăng cường hoạt động bộ máy Nhà nước. Vốn FDI thực sự trở thành “cú huých"
đẩy nhanh sự phát triển KT-XH nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Sự tăng trưởng của FDI trong thời gian qua được thể hiện qua bảng 1.1:
Bảng 1.1: Vốn FDI trong tổng vốn đầu tư của Việt Nam Đơn vị: Tỷ đồng
Năm Tổng vốn
đầu tư
Vốn FDI
Tỷ trọng
(%)
Năm Tổng vốn
đầu tư
Vốn
FDI
Tỷ trọng
(%)
1988 1.507 38 2,5 1998 117.134 24.300 20,7
1989 4.755 646 13,6 1999 131.171 22.670 17,3
1990 7.581 990 13,1 2000 151.183 27.171 18,0
1991 13.475 1.926 14,3 2001 170.496 30.011 17,6
1992 24.737 5.185 21,0 2002 199.105 34.755 17,5
bất động sản: xây dựng khách sạn, khu nghỉ mát, khu chế xuất, cao ốc văn phòng…thì thời kỳ 1996 –
2003 vốn F
DI thực hiện nhiều hơn vào các ngành công nghiệp và dịch vụ.
Tính chung từ 1988 – 2007 thì ngành công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất, chiếm
66,8%; 60,2% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện. Cơ cấu đầu tư có chuyển biến tích cực theo
hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao và công nghệ thông tin.
Các dự án đầu tư nước ngoài góp phần tăng thu ngân sách, góp phần cải thiện cán cân thanh toá
n
và cán cân vãng lai của cả nước.
Trong 20 năm qua (1988 – 2007), khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần đáng kể vào
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước bằng việc tạo ra tổng giá trị doanh thu đáng kể, đặc biệt