Đề tài: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Vốn và công nghệ là chìa khóa, là điều kiện hàng đầu để thực hiện thành
công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở mọi quốc gia, nhất là đối
với các nước đang phát triển và nền kinh tế chuyển đổi trong đó có Việt
Nam.
Đối với nước ta, trong điều kiện nền kinh tế còn ở điểm xuất phát thấp,
tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao và chưa thật sự vững chắc. Vì vậy nhiệm
vụ phát triển kinh tế của nước ta trong những năm tới là đưa đất nước thoát
khỏi tình trạng nghèo nàn và tránh nguy cơ tụt hậu, cải thiện đời sống nhân
dâ, củng cố quốc phong và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển
nhanh hơn đi vào thế kỷ XXI, từng bước hội nhập vào quỹ đạo kinh tế thế
giới.
Với mục tiêu xây dựng đất nước ta thành một nước công nghiệp và tiến
hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu lâu dài là cải biến
nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ
cấu kinh tế phù hợp… cộng với việc thực hiện mục tiêu ổn định và phát triển
kinh tế trong đó có việc nâng cao GDP bình quân đầu người lên 2 lần như
Đại hội VII của Đảng đã nêu ra. Muốn thực hiện tốt điều đó chúng ta không
chỉ trông chờ vào nguồn vốn và công nghệ trong nước mà còn phải biết thu
hút vốn và công nghệ nước ngoài, trong đó đặc biệt là nguồn vốn FDI.
Đối với Việt Nam, việc thu hút nguồn vốn FDI có ý nghĩa hết sức quan
trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là trong
bối cảnh hiện nay khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của
WTO, chúng ta cần phải huy động một lượng vốn rất lớn. Muốn có ượng
vốn lớn cần tăng cường sản xuất và thực hành tiết kiệm. Nhưng với tình hình
của nước ta thì thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng là một cách tích lượng
vốn nhanh có thể làm được và nguồn vốn FDI là một trong những nhân tố
quan trọng hàng đầu. Đó là kênh chuyển giao công nghệ, thúc đẩy quá trình
ngoài, trong khoảng thời gian đó, hoạt động đầu tư nước ngoài đã thu hút sự
quan tâm của các cấp, các ngành, của nhiều nhà quản lý, nhiều nhà kinh
doanh và các nhà khoa học. Nhiều hội nghị chuyên để, hội thảo khoa học đã
được tổ chức ở nhiều cấp độ khác nhau. Đã có rất nhiều bài viết đăng tải trên
báo hàng ngày, báo tuần, tạp chí…Đã có nhiều đề tài nghiên cứu cấp nhà
nước, cấp ngành, một số luận văn, luận án tiến sỹ kinh tế, và một số cuốn
sách tuowg đối có giá trị đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam tiêu biểu như: “”. Tuy nhiên, trong số
những công trình nghiên cứu trên, chưa có công trình nghiên cứu nào trực
tiếp nghiên cứu về: “Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình
công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam” một cách cơ bản, có hệ thống
và toàn diện về cả mặt lý luận cũng như phân tích thực tiễn.
2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về FDI và vai trò của FDI đối với
quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp
nước ngoài với phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp hóa nói riêng.
- Phân tích khái quát các điều kiện và mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đai
hóa của Việt Nam.
- Phân tích đánh giá thực trạng của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam trog thời gian qua và xu hướng phát triển trong thời gian tới để làm rõ
vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ỏ Việt Nam.
- Trên cơ sở đó, bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án được thực hiện dưới góc độ kinh tế chính trị. Đối tượng nghiên
cứu của Luận văn (khóa luận) là những vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp
nước ngoài và vai trò của nó đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
yếu nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài phục
vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời gian tới.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mục lục, mở đầu và kết luận, bảng danh mục các tài liệu tham
khảo, kết cấu của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và…
Chương 2: Thực trạng vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đối với
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai
trò của đầu tư nước ngoài để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Việt Nam.
NỘI DUNG
Chương 1: Những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
và công cuộc công nghiệp hóa , hiện đại hóa của Việt Nam
1.1Đầu từ trực tiếp nước ngoài FDI
1.1.1 Khái niệm và các hình thức chủ yếu của FDI
1.1.1.1Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
4
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những hình thức hợp tác quốc tế
hữu hiệu nhất hiện nay, là một hình thức quan trọng phổ biến trong mối
quan hệ kinh tế. Nó ra đời, tồn tại và phát triển là kết quả tất yếu của xu
hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế xã hội và quá trình phân công lao động
mở rộng trên phạm vi toàn thế giới
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được xem như chiếc chìa khóa của
sự tăng trưởng kinh tế mỗi nước. Ngày nay việc thu hút vốn đầu tư FDI
không chỉ diễn ra ở các nước đang phát triển mà còn cả ở các nước tư bản
phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu… Do vậy đã diễn ra một cuộc cạnh
tranh gay gắt để tìm kiếm nguồn vốn FDI. Quốc gia nào có sức hấp dẫn hơn,
có môi trường đầu tư thông thoáng hơn và thuận lợi hơn sẽ có nhiều thuận
lợi trong cuộc cạnh tranh này. Rõ ràng thu hút FDI mang tính quy luật chung
Trong đó, một công ty (thường là công ty xuyên quốc gia) tạo ra hoặc mở
rộng chi nhánh ở nước khác, đầu tư để mở rộng thị trường, thiết lập quyền
sở hữu từng phần hoặc toàn bộ vốn đầu tư và giữ quyền quản lý quyết định
kinh doanh, cùng các đối tác nước sở tại chia sẻ rủi ro và hưởng lợi.
1.1.1.2Các hình thức chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong thực tiễn, hoạt động FDI có nhiều hình thức tổ chức cụ thể khác
nhau tùy theo tính chất pháp lý và vai trò của mỗi bên trong quá trình hợp
tác đầu tư. Theo Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam những hình
thức FDI được áp dụng là:
1.1.1.2.1. Hơp đồng hợp tác kinh doanh
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được ký kết giữa hai bên hoặc
nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên ma không thành
lập pháp nhân mới. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hợp
tác với tổ chức, cá nhân ngươi ngoài đê thực hiện hợp đồng hợp tác kih
doanh.
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên
hợp doanh ký
- Trong quá trình kinh doanh, các bên hợp doanh được thỏa thuận thành
lập Ban điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh
doanh. Ban điều phối hợp tác kinh doanh không phải là đại diện pháp lý cho
các bên hợp doanh. Mỗi bên hợp doanh vẫn giữ pháp nhân riêng của mình
và tự quản lý, thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo hệ thống pháp luật khác
nhau: Bên Việt Nam theo luật pháp trong nước, bên nước ngoài theo luật
đầu tư nước ngoài
1.1.1.2.2. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam
trên cơ sở hợp đồng liên doan kkys giữa bên hoặc các bên Việt Nam với bên
hoặc các bên nước ngoài để đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Doanh nghiệp
bên liên doanh mới là doanh nghiệp được thành lập giữa doanh nghiệp liên
- Hợp đồng Xây dựng-chuyển giao-Kinh doanh BOT
Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam
với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng. Sau
khi xây duwgj xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho
Việt Nam. Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công
trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư va lợi nhuận hợp
lý
- Hợp đồng Xây dựng và chuyển giao BT
Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam
và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng. sau
khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho
7
nhà nước Việt Nam, chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước
ngoài thực hiện các dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
1.1.2. Bản chất và đặc điểm chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1. Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài được quy định bởi những
quy luật kinh tế hoàn toàn khách quan với những điều kiện cần và đủ chín
muồi nhất định, nó chỉ là một trong số nhưng mặt biểu hiện ra bên ngoài của
quá trình phân công lao động quốc tế và xã hội hóa sức sản xuất xã hội trên
quy mô quốc tế. Những nhân tố tác động khác có thể kìm hãm hay đẩy
nhanh hơn việc mở rộng dòng di chuyển vốn, song nếu kìm hãm cũng không
thể dập tắt được đường đi của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nhưng nơi có
lợi thế so sánh tốt hơn hoặc nếu có thúc đẩy cũng không vượt qua được
những điều kiện thực tế hiện có cho phép những điều kiện cần và đủ cả nơi
đầu tư lẫn nơi nhận đầu tư.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể xem là yếu tố tác động làm tạo ra
những bước thay đổi nhận thức ngày càng đúng hơn và chủ động hơn của
con người đối với quy luật kinh tế khách quanh về sự phát triển sức sản xuất
xã hội và phân công lao động xã hội đang mở ra một cách thực tế trên quy
các nước đang phát triển, khi khả năng tổ chức sản xuất đạt hiệu quả còn
thấp thì ưu điểm đó càng rõ rệt.
Về bản chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự gặp nhau về nhu cầu của
một bên là nhà đầu tư và một bên là nước nhận đầu tư
Đối với nhà đầu tư
Khi quá trình tích tụ tập trung vốn đạt tới một trình độ mà “mảnh đất” sản
xuất kinh doanh truyền thống của họ đã trở nên chật hẹp đến mức cản trở
khả năng hiệu quả của đầu tư, nơi mà ở đó nếu đầu tư vào, họ thu được số
lợi nhuận không được như ý muốn. Trong khi ở một số quốc gia khác xuất
hiện lợi thế mà họ có thể khai thác để thu được lợi nhuận cao hơn nơi mà họ
đang đầu tư. Có thể nói đây là yếu tố cơ bản nhất thúc đẩy các nhà đầu tư
chuyển vốn của minh ra đầu tư ở nước khác, hay nói cách khác, việc tìm
kiếm theo đuổi lợi nhuận cao hơn và bảo toàn độc quyền hay lợi thế cạnh
tranh là bản chất, là động cơ, là mục tiêu tư bản, xuyên suốt của các nhà tư
bản.
Thực chất, cơ bản bên trong của đầu tư nước ngoài bao gồm: Duy trì và
nâng cao hiệu quả sản xuất của chủ đầu tư (vấn đề vốn, kỹ thuật, sản
phẩm…). Khai thác các nguôn lực và xâm nhập thị trường của các nước
nhận đầu tư, tranh thủ lợi dụng chính sách khuyến khích của nước nhận
được đầu tư. Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp để thực hiện các ý đồ
kinh tế hoặc phi kinh tế mà các hoạt động khác không thực hiện được.
Đối với nước nhận đầu tư
Đây là những nước đang có một số lợi thế mà họ chưa có hoặc không có
điều kiện để khai thác. Các nước nhận đầu tư thuộc loại này thương là có
nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú, có nguồn lao động dồi
dào và giá nhân công rẻ, thiếu vốn, thiếu kĩ thuật, thiếu công nghệ tiên
tiến…Số này phần lớn thuộc các nước đang phát triển.
9
Các nước nhận đầu tư thuộc dạng khác, đó là các nước phát triển, đây llà
các nước có tiềm lực kinh tế cao, phần lớn là những nước có vốn đầu tư ra .
ra xu hướng tự do hóa và mở cửa nền kinh tế của ác nước đang phát triển
trong những năm gần đây đã góp phần đáng kể vào sự thay đổi của dòng
chảy FDI.
Cơ cấu và phương thức FDI trở nên đa dạng hơn
10
Trong những năm gần đây cơ cấu và phương thức đầu tư trực tiếp nước
ngoài trở nên đa dạng hơn so với trước đây, điều này liên quan đến sự hình
thành hệ thống phân công lao động quốc tế thương mại toàn cầu.
Về cơ cấu, FDI đặc biệt là FDI vào các nước công nghiệp phát triển có
những thay đổi sau:
Vai trò và tỷ trọng của đầu tư vào các ngành có hàm lượng khoa học cao
tăng lên. Hơn 1/3 FDI tăng lên hàng năm là tập trung vào các ngành then
chốt như điện tử, chế tạo máy tính, chất dẻo, hóa chất. Trong khi đó nhiều
ngành công nghiệp truyền thống dùng nhiều vốn và là động, FDI giảm tuyệt
đối hoặc không đầu tư.
Tỷ trọng của các ngành công nghiẹp chế tạo giảm xuống trong khi FDI
vào các nghành dịch vụ tănh lên. Một số lĩnh vực được ưu tiên là dịch vụ
thương mại, bảo hiểm, các dịch vụ tài chính và giải trí.
Sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa FDI và ODA, thương mại và chuyển
giao công nghệ
- FDI và thương mại có liên quan chặ chẽ với nhau. Thông thường một
chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được nhằm vào mục đích tăng
tiềm năng xuất khẩu của một nước. Mặt khác, các công ty nước ngoài được
lựa chọn ngành và địa điểm đầu tư cũng dựa trên cơ sở tăng khả năng cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
- FDI đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công
nghệ. Xu hướng hiện nay là FDI và chuyển giao công nghệ ngày càng gắn
bó chặt chẽ với nhau. Đây chính là hìh thức có hiệu quả nhất của sự lưu
chuyển vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế.
- Sự gắn bó giữa FDI và ODA cũng là một đặc điểm nổi bật của sự lưu
xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài, mà các nước xuất khẩu vốn mở
rộng được thị trường tiêu thụ, tránh đước hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các
nước. Nhờ đó mà giảm được giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh với
hàng hóa nhập khẩu từ nước khác.
Xét cho cùng thì mục tiêu chủ yếu của các chủ đầu tư ra nước ngoài là
làm cho đồng vốn được sử dụng hiệu quả cao nhất
1.1.3.2. Đối với nước nhận đầu tư
Để phát triển kinh tế xã hội các nước đang phát triển trước hết đều phải
đương đầu với sự thiếu vốn gay gắt, các yếu tố cần thiết cho sự phát triển.
Việc tiếp nhận FDI có tác dụng sau:
Thứ nhất: FDI giải quyết tình trạng thiếu vốn cho các nước này. Trong
giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, các nước chậm và đang phát triển đều
gặp phải vấn đề nan giải là thiếu vốn đầu tư do tích lũy nội bộ thấp hoặc
không có tích lũy. Điều đó hạn chế quy mô đầu tư và đổi mới kỹ thuật gây ra
tình trạng mất cân đối trong quá trình xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán
thương xuyên bị thiếu hụt, đất nước thiếu ngoại tệ. Việc thu hút nguồn vốn
nước ngoài có thể giải quyết được khó khăn về khả năng tích lũy vốn thấp
và bù đắp các khoản thiếu hụt ngoại tệ trong cán cân thanh toán.
Thứ hai: đầu tư nước ngoài giải quyết một phần tình trạng thất nghiệp ở
những nước này. Thông qua việc tạo ra các xí nghiệp mới hoặc làm tăng quy
12
mô của các đơn vị kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra công ăn việc
làm cho một số lượng khá lớn người lao động.
Thứ ba: cùng với việc cung cấp vốn, thông qua hoattj động FDI các công
ty nước ngoài đã chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc nước khác sang
nước nhận đầu tư do đó các nước này nhận được kỹ thuật tiên tiến (trong đó
có những công nghệ không thể mua được bằng quan hệ thương mại đơn
thuần), kinh nghiệm quản lý, năng lực maketing đội ngũ được dào tạo, rèn
luyện về mọi mặt (trình độ kỹ thuật, phương pháp làm việc, kỹ thuật lao
động…)
13
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới FDI vì đối với nước ta hình thức
này có vai trò rất quan trọng . Điều này được thể hiện như sau:
- FDI giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế đất nước. Để đạt
được những chỉ tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong những năm tới
thì tốc độ phát triển bình quân hàng năm phải đạt ít nhất là 7% và nhu cầu về
vốn đầu tư có từ 4,2 tỷ USD trở lên mỗi năm (tức là tích lũy hàng năm phải
đạt 22% thu nhập quốc dân)
- FDI đang mang lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng những
doanh nghiệp và cơ sở sản xuất dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã hội
của nước ta tăng lên và cho phép giải quyết được tình trạng thất nghiệp của
người lao động, tăng thu ngân sách nhà nước.
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta tiếp nhận thành tựu
khoa học tiên tiến của thế giới, nhờ đó rút ngắn khoảng cách của ta so với
thế giới.
- Nhờ có FDI chúng ta sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nướ mà
nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn như khai thác dầu mỏ,
khoáng sản…
Ngoài ra trong quá trình tiếp nhận FDI chúng ta học được kinh nghiệm
quản lý kinh doanh và các làm thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường
của các nước tiên tiến.
Tóm lại, FDI có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta nhanh chóng
hội nhập với sự phát triển của thế giới và khu vực.
1.1.4. Kinh nghiệm của một số nước về thu hút và sử dụng đầu tư
trực tiếp nước ngoài để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Những thập niên gần đây, trong sự phát triển của một số nền kinh tế ta
thấy có sự tác động to lơn của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đối với mỗi
nước, có hoàn cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế khác nhau thì sự tác động
của đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ có những sự khác nhau về chiều hướng,
thì miễn thuế 2 năm, và giảm thuế 3 năm tiếp theo.
Về thuế xuất nhập khẩu, Trung Quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối
với các mặt hàng như: máy móc, thiết bị, bộ phận rời, vật liệu được đưa vào
góp vốn liên doanh hoặc các máy móc thiết bị vật liệu cho các bên nước
ngoài đưa vào khai thác dầu khí, đưa vào các khu chế xuất và 14 thành phố
ven biển. Các vất liệu bộ phận rời được nhập để sản xuất hàng xuất khẩu.
Trung quốc cũng miễn thuế xuất khẩu cho các mặt hàng xuất khẩu được sản
xuất ở các khu chế xuất và 14 thành phố ven biển.
Về thủ tục hành chính, Trung Quốc phân cấp mạnh cho các địa phường về
thẩm định dự án và cấp giấy phép đầu tư. Sau khi có giấy phép đầu tư, các
thủ tục liên quan được triển khai nhanh chóng. Các vấn đề giải phóng mặt
bằng, điện nước, giao thông, môi trường được giải quyết dứt điểm. Thực
hiện chính sách “một cửa” để tạo điều kiện thu hút FDI thuận lợi.
Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nươcs ngoài hiện nay của Trung Quốc
là nhăm mục tiêu hiện đại hóa công nghiệp và kinh tế nông nghiệp, phát
triển ngành năng lượng, khai thác khoảng sản và hệ thống vận tải quốc gia.
Thúc đẩy cải cách kinh tế ở các vùng lạc hậu nhất là ở miền Trung và miễn
15
Tây Trung Quốc. Trung Quốc coi thu hút đầu tư nước ngoài là một trong
nhưng yếu tố cơ bản để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.
1.1.4.2. Chính sách thu hút FDI của Singapore
Singapore là một đất nước đô thị với diện tích chỉ có 647,8 km2. Tuy là
một đât nước có quy mô diện tích nhỏ,, ít tài nguyên thiên nhiên nhưng đây
lại là một quốc gia rất thành công trong việc hội nhập ở mức độ cao với cacs
thị trường quốc tế (cả về mậu dịch hàng hóa cũng như thị trường vốn).
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn quan trong nhất trong thời kỳ
đầu tiến hành công nghiệp hóa của Singapore. Khác với nhiều nước khi tiến
hành công nghiệp hóa, để giải quyết nhu cầu vốn cho đầu tư, chính phủ
Singapore đã ban hành những chính sách, tạo ra môi trường hấp dẫn, kích
thích các nhà tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư trực tiếp, mà rất hạn chế
thu hút đầu tư.
Nhờ có được môi trường đầu tư nòi chung và các chính sách khuyến
khích nói riêng tương đối hấp dẫn nên đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Singapore thường ở mức cao hơn nhiều nước.
Singapore đã rất thành công trong việc thu hút số lượng dự án, vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài mà còn cả trong việc sử dụng có hiệu quả loại hình kinh
tế này. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thực sự trở thành một trong những
phương tiện đưa nền kinh tế Singapore phát triển lên trình độ cao của một
nền kinh tế công nghiệp hóa.
1.1.4.3. Kinh nghiệm thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài
của Thái Lan
Thái Lan là một trong những nước có nhiều điểm tương đồng với Việt
Nam về điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu, tài nguyên…), về xã hội (một số
tập quán, dân số đông và phần lớn sống ở nông thôn) và về trình độ phát
triển kih tế (có ưu thế phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, cônng nghiệp
còn ở trình độ thấp)
Những thập niên gần đây, nền kinh tế Thái Lan đã đạt được sự phát triển
nhanh trong khu vực. Trong sự phát triển đó có sự đóng góp đáng kể của đầu
tư trực tiếp nước ngoài. Để triển khai và thu hút FDI chính phủ Thái Lan đã
có nhiều biện pháp hữu hiệu. Chính phủ Thái Lan khuyến khích các nhà đầu
tư hợp tác với cơ quan nhà nước khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Các dự án sử dụng nhiều lao động, xuất khẩu sản phẩm, sử dụng nguyên
liệu thô của Thái Lan, thay thế hàng nhập khẩu được nhà nước ưu tiên.
Tỷ lệ góp vốn liên doanh không thành điều kiện bắt buộc. Tuy nhiên các
dự án cho phép Thái Lan góp vốn trên 50 % được ủy ban đầu tư cấp chứng
chỉ bảo lãnh.
Về thuế lợi tức, đánh thuế 30% vào các công ty và đối tác có đăng ký tại
thị trường chứng khoán của Thái Lan và đánh thuế 35% vào các công ty và
đối tác khác. Tùy từng dự án mà có thể được miễn giảm thuế lợi tức 3-8năm
kể từ khi có lãi.
sau:
Thứ nhất: Lựa chọn lĩnh vực, hình thức và đối tác đầu tư
- Lĩnh vực đầu tư:
Có thể nói nhiệm vụ cơ bản của cônng nghiệp hóa là phải đẩy nhanh các
ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ. Nhờ đó công nghiệp hóa được ngành
nông nghiệp và các nghành kinh tế khác. Do vậy, việc khuyến khích thu hút
đầu tư FDI vào các ngành công nghiệp và dịch vụ, nhất là các ngành công
nghiệp có tính chiến lược như điện tử, tin học, viễn thông… Sẽ có ý nghĩa
rất to lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực hiện chiến
lược “” đi tắt đón đầu” của nước ta.
Việc khuyến khích FDI vào những lĩnh vực đã nêu, một mặt không chỉ
đáp ứng được đièu kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa
và hiện đại hóa nền kinh tế, mà còn khai thác được thế mạnh của các INCs.
Mặt khác, đây còn là các lĩnh vực có nhiều tiềm năng và sẽ trở thành lợi thế
18
so sánh của nước ta trong thu hút đầu tư FDI giữa các nước trong khu vực và
thế giới.
Khuyến khích FDI vào các nghành công nghiệp và dịch vụ là một giải
pháp thiết thực nhất đối với nươc ta đê thực hiện chiến lược “đi tắt đón đầu”.
Thực tế cho thấy, là một nước đi sau trong thực hiện công nghiệp hóa, so với
các nước trong khu vực chúng ta khó mà hiện đại hóa nên kinh tế mà không
dựa vào TNCs mạnh. Bởi vậy, bên cạnh khuyến khích FDI vào các ngành
kinhh kế, cần đặc biệt chú trọng FDI vài các nghành công nghiệp, dịch vụ có
hàm lượng khoa học và giá trị cao dễ thu hút TNCs mạnh.
- Hình thức đầu tư:
Từ kinh nghiệm một số nước cho thấy, hiệu quả của các hìh thức đầu tư
phụ thuộc rất nhièu vào khả năng tham giâ của các nhà đầu tư trong nước. Vì
vậy điều này gợi cho chúng ta một bài học là không nên quá chú trọng ưu
tiên khuyến khích FDI vào những hình thức trên khi các nhà đầu tư trong
nước kém năng lực đầu tư. Khi chọn lĩnh vực đầu tư cần phải tính đến đặc
các biện pháp thu hút FDI thích hợp trong đó nổi bật là các biện pháp xúc
tiến đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn lao động kỹ thuật. Từ
kinh nghiệm của họ, chúng ta có thể rút ra một số bài học quan trọng như:
+ Thứ nhất: Nên thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư một cách thường
xuyên, theo định hướng vào các đối tác có tiềm năng đầu tư lớn. Cần quan
niệm các hoạt động xúc tiến đầu tư là những công việc bắt buộc có tính
quyết định đến khối lượng và hiệu quả của việc thu hút FDI, cần đa dạng các
hoạt động đầu tư nhưng tránh tình trạng tràn lan.
+ Thứ 2: Cần chuẩn bị cơ sở hạ tầng tốt trước khi tiếp nhận FDI. Muốn
thu hút được các TNCs lớn có dự án đầu tư kỹ thuật cao thì chất lượng cơ sở
hạ tầng phải đáp ứng được yêu cầu của họ.
Ngoài ra còn một số bài học khác cũng rất đáng chú ý như: Cần thống
nhất nhận thức và có cách nhìn nhạy bén về kinh tếm chính trịm nắm bắt
thời cơ, thuận lợi thấy rõ được những khó khăn thách thức từ bên trong cũng
như bên ngoài để kịp thời đề ra được chủ trương, đường lối đúng đắn, hợp
lý. Cơ chế, chính sách phải đồng bộ, thể hiện tính khuyến khích và cạnh
tranh cao so với các nước trong khu vực. Công tác chỉ đạo, điều hành phải
thông suốt, thống nhất, có nề nếp, kỷ cương trong bộ máy công quyền, tọa
niềm tin và độ tin cậy đối với nhà đầu tư.
1.2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.1. Khái niệm công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986, cùng với việc từng bước phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng các lực
lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kih tế, đổi mới cơ chế quản lý, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã xác địh ngày càng rõ quan
điểm đổi mới về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quan điểm mới ấy là kết quả tổng kết thực tiễn, rút ra từ những bài học
của mấy thập kỷ trước đây kết hợp với sự nghiên cứu học hỏi kiến thức và
kinh nghiệm của thế giới và hiện đại.
Cuối thế kỷ 20, Đảng và Nhà nước ta đã vạch ra công nghiệp hóa, hiện