Yếu tố thần kì trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ - Pdf 12

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA NGUYỄN ĐỊNH YẾU TỐ THẦN KÌ
TRONG TRUYỀN THUYẾT
VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI VIỆT
Ở NAM TRUNG BỘ

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA DÂN GIAN
MÃ SỐ: 62 31 70 05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC HÀ NỘI – 2007
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
VIỆN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA

viên và học sinh, nhất là giáo viên và sinh viên ngành văn ở các
trường cao đẳng và đại học trên vùng đất Nam Trung B
ộ.
Nhận thức được ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên
cứu truyện cổ dân gian người Việt ở Nam Trung Bộ như đã trình
bày, trong phạm vi bản luận án, chúng tôi khảo sát yếu tố thần kì của
truyền thuyết và truyện cổ tích thần kì người Việt ở vùng đất này.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễ
n) là bộ
sách có ghi chép truyện cổ dân gian người Việt ở Nam Trung Bộ
sớm nhất và duy nhất thế kỉ XIX. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
(Nguyễn Đổng Chi) là bộ sách có ghi chép truyện cổ dân gian người
Việt ở Nam Trung Bộ sớm nhất thế kỉ XX.
Tiếp theo là những cuốn địa phương chí các tỉnh Nam Trung
Bộ của một số nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ như: Quách Tấn,
Nguyễn Đình Tư
, Phạm Trung Việt…xuất hiện vào hai thập niên 60,
70 của thế kỉ XX. Truyện cổ dân gian người Việt ở Nam Trung Bộ
được đề cập trong các cuốn địa phương chí của những tác giả nêu
trên, chủ yếu là ở góc độ sưu tầm và ít nhiều cũng có sự nghiên cứu.
Dù vậy, trước 1975, công trình nghiên cứu truyện cổ dân gian người
Việt ở Nam Trung Bộ chưa xuất hiện.
Những truyện cổ
dân gian người Việt ở Nam Trung Bộ được
biên chép trong tập V sách Kho tàng truyên cổ tích Việt Nam của
Nguyễn Đổng Chi có thể được coi là kết quả sưu tầm đầu tiên thời kì
sau năm 1975. Tiếp theo là những kết quả đáng phấn khởi trong

2

học nước ta đã cho ra đời hàng loạt công trình ở nhiều phương diện
khác nhau. Sách và bài viết dành riêng cho việc sưu tầm, nghiên cứu
truyện cổ dân gian có Chuyện xưa học sinh (Ngô Sao Kim); Quảng
Ngãi giai thoại - truyền thuyết, tập II, (Thế Kỉ, Hà Thanh); Truyện cổ

3
thành Đồ Bàn vịnh Thị Nại, Các ngôi sao Tây Sơn (Nguyễn Xuân
Nhân); Truyện cổ Tuy Hoà (Nguyễn Hoài Sơn); Huyền thoại Phú
Yên (Đoàn Việt Hùng); Về hiện tượng nhầm lẫn của tác giả dân gian
khi lưu truyền các truyện kể về Cao Biền, Về những kết quả chủ yếu
của việc sưu tầm, nghiên cứu truyện cổ dân gian người Việt ở Nam
Trung B
ộ, Hình ảnh sông nước trong truyền thuyết dân gian người
Việt ở Nam Trung Bộ (Nguyễn Định)…Sách sưu tầm, biên soạn văn
học dân gian có phần truyện cổ dân gian như Văn học dân gian Tây
Sơn (Nguyễn Xuân Nhân); Văn học dân gian Quảng Nam (miền
biển) (Nguyễn Văn Bổn); Văn học dân gian Sông Cầu (Nguyễn Định
chủ biên, Lê Đức Công, Lê Bạt Sơn)…
Ở kết qu
ả nêu trên đã xuất hiện bài nghiên cứu có đề cập đến
yếu tố thần kì hay có tính chất tổng kết quá trình sưu tầm và nghiên
cứu truyện cổ dân gian người Việt phạm vi cả vùng Nam Trung Bộ
(Hình ảnh sông nước trong truyền thuyết dân gian người Việt ở Nam
Trung Bộ, Về những kết quả chủ yếu của việc sưu tầm, nghiên cứu
truyện cổ dân gian người Việt
ở Nam Trung Bộ). Bàn về yếu tố thần
kì trong truyền thuyết Việt ở Nam Trung Bộ, tác giả bài Hình ảnh
sông nước trong truyền thuyết dân gian người Việt ở Nam Trung Bộ
viết: “ Trong thế giới nghệ thuật của truyền thuyết, hầu hết các hình
ảnh về loài vật ở sông nước đều được thần kì hoá (27/31 trường hợp,

đối tượng được xác định như thế, những mục đích nghiên cứu đề tài
như sau: Khảo sát, mô tả những khía cạnh cơ bản của yếu tố thần kì
trong truyền thuy
ết và cổ tích thần kì người Việt ở Nam Trung Bộ.
Từ đó, luận án chỉ ra một số nét riêng về yếu tố thần kì của truyền
thuyết và truyện cổ tích thần kì người Việt ở Nam Trung Bộ so với
yếu tố thần kì của truyền thuyết và truyện cổ tích thần kì người Việt
ở những vùng, miền khác (Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Bộ…). Mục
đích ch
ủ yếu của luận án là góp phần tìm hiểu đặc trưng di sản văn
hoá dân gian Nam Trung Bộ.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chúng tôi chủ yếu sử dụng ba phương pháp sau để nghiên cứu
đề tài: Phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh và phương pháp
tổng hợp.
5
5. BỐ CỤC LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác
giả, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được chia làm 3 chương:
CHƯƠNG 1: Khái niệm “yếu tố thần kì”, khái quát về tiểu
vùng văn hoá và tổng quan về tư liệu truyện cổ dân gian người Việt ở
Nam Trung Bộ.
CHƯƠNG 2: Yếu tố thần kì trong truyền thuyết người Việt ở
Nam Trung Bộ
.
CHƯƠNG 3: Yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì người
Việt ở Nam Trung Bộ.

sau thần thoại.
1.1.3. Vai trò của yếu tố thần kì trong truyền thuyết và truyện cổ
tích thần kì
Trong truyền thuyết, yếu tố thần kì có vai trò chủ yếu là
huyền ảo hoá các nhân vật và sự kiện lịch sử. Trong truyện cổ tích
thần kì, yếu tố thần kì có vai trò chủ yếu là giải quyết xung đột
truyện.
1.2. Khỏi quỏt v tiu vựng vn hoỏ Nam Trung B
Nam Trung B gm tỏm tnh v thnh ph: Nng, Qung
Nam, Qung Ngói, Bỡnh nh, Phỳ Yờn, Khỏnh Ho, Ninh Thun v
Bỡnh Thun. õy l vựng t cú y m
i yu t ca thiờn nhiờn
Vit Nam gm sụng bin, ng bng v rng nỳi.
Nu tớnh t 1306 nm Ch Mõn dõng t chõu ễ (phớa nam
chõu ễ ngy xa thuc thnh ph Nng ngy nay) v chõu Lớ ca
Chiờm Thnh cho Nh Trn ci Huyn Trõn cụng chỳa n 1693
nm i Vit cú thờm t Bỡnh Thun, thỡ ngi Vit nh c ti
Nam Trung B, sm nht l Nng, ó khong 7 th k, mun
nh
t l Bỡnh Thun, ó khong trờn 3 th k.
Sinh sng vựng t ny, ngoi tc ngi Vit, cũn cú cỏc tc
ngi khỏc nh: Hoa, Gia Rai, ấ ờ, Ba Na, Chm, C Ho, X
ng, Hrờ, Ra Glai, C Tu, Giộ Triờng, Co, Chu RuSau ngy t

7
nước thống nhất, có thêm người Tày, Nùng từ phía Bắc di cư vào.
Người Việt và người Hoa chủ yếu sống ở đồng bằng. Các tộc người
khác chủ yếu sống ở miền núi. Riêng địa bàn cư trú của người Chăm
có đặc biệt hơn. Ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và
Phú Yên dân số người Chăm ít hơn nhiều so với các tộc người khác.

mảng “văn xuôi” dân gian như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ
tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn và giai thoại. Khái niệm “truyện
cổ tích” từng được sử dụng với hai ý nghĩa chủ yếu: 1) (cũng) để chỉ

một bộ phận của văn học dân gian, trong trường hợp này, khái niệm
“truyện cổ tích” tương đương với khái niệm “truyện cổ dân gian”; 2)
để chỉ truyện cổ tích - một thể loại của bộ phận truyện cổ dân gian
trong văn học dân gian. Để tránh lẫn lộn hai khái niệm, chúng ta chỉ
sử dụng khái niệm “truyện cổ tích” trong trường hợp để chỉ riêng thể
loại truyệ
n cổ tích; sử dụng khái niệm “truyện cổ dân gian” với ý
nghĩa khái quát tất cả các thể loại thuộc mảng “văn xuôi” dân gian
như đã nêu ở trên.
1.3.2. Tổng quan về tư liệu truyện cổ dân gian người Việt ở Nam
Trung Bộ
Nam Trung Bộ không có thần thoại, mảng truyện cổ dân gian
chỉ gồm các thể loại: truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười,
truyện ngụ ngôn và giai thoạ
i.
Truyền thuyết là thể loại có số lượng truyện nhiều nhất. Đa
phần tác phẩm của thể loại này là truyền thuyết địa danh và truyền
thuyết nhân vật. Nội dung phản ánh của truyền thuyết chủ yếu gắn
liền với các sự kiện lịch sử thời kì chống ách Bắc thuộc, thời kì quân
Tây Sơn đánh nhau với quân Nguyễn Ánh, thời kì chống thực dân
ph
ương Tây xâm lược. Đối với thể loại truyện cổ tích, phần lớn số
lượng truyện thuộc về cổ tích thần kì, truyện cổ tích loài vật có số
lượng ít nhất. So với Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ, ở Nam Trung Bộ có
rất ít truyện cổ tích mang nội dung phản ánh mâu thuẫn xã hội, khai
thác các tình thế tương phản giữa tốt với xấu, giữa thiện với ác, giữa

2.1.2. Việc phân lo
ại truyền thuyết
Nổi bật lên trong các cách phân loại truyền thuyết là cách phân
loại của tác giả Kiều Thu Hoạch: chia truyền thuyết thành 3 loại lớn:

10
1) Truyền thuyết nhân vật, 2) Truyền thuyết địa danh, 3) Truyền
thuyết phong – vật. Ở mỗi loại lớn lại tuỳ theo đề tài, chức năng của
nội dung truyện kể mà phân chia tiếp thành các tiểu loại.
Quá trình khảo sát yếu tố thần kì trong truyền thuyết người
Việt ở Nam Trung Bộ, chủ yếu, chúng tôi cũng theo quan điểm phân
loại truyền thuyết của Kiều Thu Hoạch.
2.2. Yế
u tố thần kì trong truyền thuyết địa danh
2.2.1. Yếu tố thần kì trong truyền thuyết địa danh tự nhiên
2.2.1.1. HÇu hÕt truyÒn thuyÕt gi¶i thÝch nguån gèc ®Þa danh theo ®Æc
®iÓm tù nhiªn cã yếu tố thần kì dạng hữu hình
Đề cập đến truyền thuyết địa danh tự nhiên là chủ yếu nói về
truyền thuyết giải thích nguồn gốc các địa danh theo đặc điểm tự
nhiên. Trong truyền thuyết địa danh của người Việt ở Nam Trung
Bộ, hầu hế
t tác phẩm mang nội dung giải thích tên gọi địa danh theo
đặc điểm tự nhiên có yếu tố thần kì thuộc dạng hữu hình và được xây
dựng thành hình ảnh trung tâm. Đó là Sự tích đèo Cổ Mã (ngựa
thần), Yêu Xà Thạch (mãng xà, thần nhân), Hắc Xà (rắn thần)…
2.2.1.2. Yếu tố thần kì trong Sự tích Ngũ Hành Sơn – một truyền
thuyết địa danh tự nhiên đặc biệt
ở Nam Trung Bộ
Tác dụng tạo ra niềm tin trong tâm thức người nghe là tính
chất chung của yếu tố thần kì ở mọi truyền thuyết mà Sự tích Ngũ

biểu: Mả quan thất trận (sự linh nghiệm), Mộ Ông Khám (sự linh
thiêng), Miếu Phò Giá Đại Vương (âm binh – âm tướng)…Bên
cạnh đó còn có những truyền thuyết mang yếu tố thần kì vô hình giữ
vai trò huyền ảo hoá các nhân vật và sự kiện lịch sử, trong đó có hai
tác phẩm tiêu biểu:
Sự tích cầu Quân Sư (lời tiên tri) và Sự tích địa
danh Cam Ranh (sự linh ứng).
2.3. Yếu tố thần kì trong truyền thuyết phong vật
Phần này chủ yếu khảo sát truyền thuyết phong vật giải thích
nguồn gốc các tục thờ: Thiên Ya Na, ba Cô, Cố Hỉ Phu nhân, ông
Húc, rái cá, cá voi - cá Ông, thần Hổ.
2.3.1. Nữ thần Thiên Ya Na

12
Tip thu huyn thoi Pụ Ino Nogar
của ngời Chăm, ngi
Vit sỏng to ra truyn thuyt Thiờn Ya Na. Ch ging nhau ch yu
gia Pụ Ino Nogar trong truyn thuyt Chm v Thiờn Ya Na trong
truyn thuyt Vit l h u c xõy dng thnh n thn sỏng to
vn hoỏ. Tuy nhiờn gia Pụ Ino Nogar v Thiờn Ya Na cú nhiu nột
rt khỏc nhau. S khỏc nhau biu hin ngay trong tờn gi: Ngi
Chm gi n thn l Poh Nagar Pụ Ino Nogar Pụ Nagar Pụ In
Nagar Pụ Yan In Nga Yanh Pu Negara Muk Juk. Ngi Vit
gi Thiờn Ya Na. V tớnh cht hỡnh tng nhõn v
t, Pụ Ino Nogar
gn vi thn thoi; Thiờn Ya Na gn vi truyn c tớch thn kỡ.
Thiên Ya Na là hiện tợng văn hoá tiêu biểu về sự hỗn dung
văn hoá Chăm - Việt.
2.3.2. C H Phu nhõn, ba Cụ, ụng Hỳc
C H Phu nhõn: Ngi cht oan (thng l cụ gỏi) linh

Nguyễn Ánh. Cá voi - cá Ông: Tục thờ cúng cá voi là một tín
ngưỡng của người Chăm mà lưu dân Việt đã tiếp thu trên đường
Nam tiến. Đây là thực tế khó có thể chối cãi. Song vùng châu thổ
sông Hồng của Việt Nam cũng đã từng tồn tại tục thờ cá - thờ cá voi,
vậy thì, tục thờ cúng cá voi cần phải được xem xét đến tầng sâu
v¨n
ho¸ hơn - từ khi tổ tiên chúng ta còn ở sông Hồng và đương nhiên,
nguồn gốc của con vật thần kì cá voi - cá Ông trong truyền thuyết
người Việt ở Nam Trung Bộ cũng phải được xem xét đến tầng sâu
như thế. Thần Hổ - Ông cọp: Giống như người Việt ở Nam Bộ,
người Việt ở Nam Trung Bộ có cả một chuỗi truyền thuyết về hổ.
Ngược lại, trong truyệ
n cổ dân gian người Việt ở Bắc Trung Bộ,
truyền thuyết phong vật về hổ hầu như vắng bóng. Phải chăng tác
nhân lịch sử đã làm cho tục thờ cá voi ở Bắc Bộ không còn diện mạo
ban đầu cũng đã làm cho hình ảnh con hổ vốn là con vật không có
rừng núi ở vùng miền nào trên đất nước Việt Nam mà không có,
nhưng lại rất ít xuất hiện trong truyện cổ dân gian người Việ
t ở Bắc
Trung Bộ !

14
2.4. Yếu tố thần kì trong truyền thuyết nhân vật
2.4.1. Motip sinh nở thần kì
Motip nhân vật sinh nở thần kì hầu như ít được sử dụng trong
truyền thuyết nhân vật của người Việt ở Nam Trung Bộ. Đây là đặc
điểm của truyền thuyết người Việt ở vùng đất phía nam Tổ quốc.
2.4.2. Motip chiến công phi thường
Giữa hai biểu hiện sức mạnh phi thường tự thân và sự phù tr


Hồng (yếu tố thần kì trong các motip của truyền thuyết nhân vật).
Hai: Có một số y
ếu tố thần kì vốn đã có trong truyền thuyết người
Việt ở vùng châu thổ sông Hồng, do biến thiên của lịch sử và sự bồi
lắng các lớp văn hoá làm chúng mất đi, nhưng truyền thuyết người
Việt ở Nam Trung Bộ lại làm chúng “sống lại” (hình ảnh rái cá, cá
voi trong truyền thuyết phong vật). Ba: Trên cơ sở yếu tố thần kì của
truyền thuyết ở đất cội ngu
ồn, dựa vào điều kiện mới về địa lí, lịch
sử và văn hoá của vùng đất mới, nhất là tiếp thu yếu tố thần kì trong
huyền thoại, truyền thuyết của cư dân bản địa, tác giả dân gian sáng
tạo ra những truyền thuyết mới (một số truyện của truyền thuyết địa
danh, truyền thuyết Thiên Ya Na).
CHƯƠNG 3
YẾU TỐ THẦN KÌ
TRONG TRUY
ỆN CỔ TÍCH THẦN KÌ NGƯỜI VIỆT
Ở NAM TRUNG BỘ
3.1. Định nghĩa và phân loại truyện cổ tích
3.1.1. Định nghĩa truyện cổ tích
Theo Chu Xuân Diên, trong hàng loạt định nghĩa về truyện cổ
tích, có mấy nội dung ít nhiều đã có sự thống nhất như sau:
1. Truyện cổ tích đã nảy sinh từ trong xã hội nguyên thuỷ.
Song truyện cổ tích phát triển chủ yếu trong xã hội có giai cấp, nên
chủ đề chủ y
ếu của nó là chủ đề xã hội, phản ánh nhận thức của nhân
dân về cuộc sống xã hội với những xung đột đặc trưng cho các thời

16
kì lịch sử khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng, có mâu


17
Trong 25 truyện cổ tích thần kì người Việt ở Nam Trung Bộ
được khảo sát, chúng tôi nhận thấy: nếu xét theo dạng biểu hiện thì
yếu tố thần kì xuất hiện với tần số 50 lần; trong đó dạng vô hình có
5/50 trường hợp (8%); dạng hữu hình có 45/50 trường hợp (92%). So
với tần số xuất hiện của yếu tố thần kì dạng hữu hình, tần số xuất
hiệ
n của yếu tố thần kì dạng vô hình gần như không đáng kể. Khảo
sát yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì người Việt ở Bắc Trung
Bộ và Nam Bộ, chúng ta cũng thấy có hiện tượng tương tự như thế.
3.2.1.2. Sự phong phú, đa dạng của yếu tố thần kì dạng hữu hình
Trước hết là yếu tố thần kì thuộc dạng người xuất hi
ện với tần
số 13/45 lần (28,9%), chẳng hạn, Thổ thần (Một cuộc thi tài), Long
Vương (Ông Dài «ng Cụt), (Ba anh em chôn xác cha), Thần thành
hoàng (Đôi sam biển). Tiếp theo là yếu tố thần kì hữu hình thuộc
dạng loài vật xuất hiện với tần số 9/45 lần (20%), chẳng hạn, hình
ảnh con rùa (Cứu vật vật trả ơn), chàng rắn (Ông Dài «ng Côt), nàng
cá (Hai anh em). Yếu t
ố thần kì hữu hình thuộc dạng đồ vật có tần số
xuất hiện 15/45 lần (33,3%). Đó là cục phép, gậy thần (Chiếc gậy
thần), chiếc nồi thần (Hai anh em), quạt thần (Nàng Út), cây kim
thần (Cây kim thần), cái ấm thần (Cái ấm đất).v.v. Ngoài ra, còn có
một dạng nữa (dạng khác), đó là các hiện tượng tự nhiên như: giếng
nước, hồ nước, hòn
đá và hoa quả có tần số xuất hiện 8 lần (17,8%).
3.2.2. Yếu tố thần kì tuyến thiện, tuyến ác và vai trò của nó
3.2.2.1. Hầu hết yếu tố thần kì thuộc tuyến thiện
Hầu hết yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì người Việt

vai trò của yếu tố thần kì
Đây là yếu tố thần kì trực tiếp trừng phạt nhân vật tuyến ác là
nhân vật trung tâm truyện. Yếu tố thầ
n kì có vai trò như thế trong
những truyện tiêu biểu: Hai anh em, Cây kim thần, Hai chị em, Hố
vàng hố bạc Các truyện nêu trên có kết cấu giống nhau. Đó là kết
cấu hai phần tương phản thông qua yếu tố thần kì: Phần thứ nhất
kể chuyện nhân vật tuyến thiện nghèo khổ, bất hạnh. Phần thứ hai kể
chuyện nhân vật tuyến ác. Nhờ sự trợ giúp của yếu tố
thần kì, nhân

19
vật tuyến thiện thay đổi số phận. Ở phần thứ hai, nhân vật tuyến ác
lại chiếm đoạt yếu tố thần kì đã làm thay đổi số phận nhân vật tuyến
thiện. Đây là chỗ xung đột truyện phát triển đến đỉnh điểm. Tác giả
dân gian đã giải quyết xung đột bằng cách để cho yếu tố thần kì
trừng phạt chúng. Với cách giả
i quyết xung đột như vậy, truyện cổ
tích thần kì đã biểu hiện niềm tin vào triết lí cao đẹp và ước mơ công
lí của nhân dân.
3.3. Việc nghiên cứu yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì
người Việt ở Nam Trung Bộ theo lí thuyết hình thái học truyện
cổ tích của Propp
3.3.1. Sơ lược về lí thuyết hình thái học truyện cổ tích của Propp
Lí thuyết của Valadimir Iakovlevits Propp – nhà khoa lỗi lạc
Xô viết (1895 – 1970) trình bày trong công trình n
ổi tiếng: Hình thái
học truyện cổ tích xuất bản lần đầu năm 1928. Propp cho biết, kho tư
liệu về truyện cổ tích ông dùng khảo sát cho thấy cấu tạo cốt truyện
gồm 31 chức năng do hành động nhân vật tạo nên. Mỗi chức năng

, Z
6
, Z
7
, Z
8
. Tài liệu cổ tích
thần kì Việt cũng cho thấy nhóm biệt loại không có trong bảng kê
của Propp. Đó là trường hợp nhân vật được tặng những phương tiện
không thần kì (chủ yếu là vàng), kí hiệu Z
0
. Ở công trình Cổ tích

20
thần kì người Việt, đặc điểm cấu tạo cốt truyện, Tăng Kim Ngân cho
biết: cÊu t¹o cèt cña truyện cổ tích thần kì người Việt, ë chức năng
14 xuất hiện các nhóm: Z
1
, Z
2
, Z
4
, Z
5
, Z
6
, Z
7
, Z
8

: 1 lần; Z
9
: 1
lần; cổ tích thần kì người Việt Nam Trung Bộ cũng có nhóm biệt loại
Z
0
, Z
v
. Ngoài ra còn có nhóm biệt loại Z
y
. Nội dung nhóm này:
những sự vật, hiện tượng gắn bó với nhân vật chính, của nhân vật
chính (quần áo, mũ nón, lời nói) tự thân có tính chất thần kì.
Giữa kết quả khảo sát của chúng tôi và kết quả nghiên cứu của
hai tác giả Trần Đức Ngôn, Tăng Kim Ngân giống nhau ở chỗ đều
không có sự xuất hiện của nhóm Z
3
: Phương tiện thần kì được nhân
vật chế tạo. Sự vắng mặt nhóm Z
3
là một dấu hiệu về cái riêng của cổ
tích thần kì người Việt trong cái chung của cổ tích thần kì thế giới.
Yếu tố thần kì trong tài liệu A (của Tăng Kim Ngân) vắng bóng
nhóm Z
y
, nhưng nó lại có mặt trong tài liệu B (Nam Trung Bộ) là
biểu hiện sự tồn tại đa dạng trong thống nhất của yếu tố thần kì trong
cổ tích thần kì người Việt.

21

tiện thần kì xuất hiện thuộc nhóm biệt loại Z
y
.
3.4. Về nét riêng của yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì
người Việt ở Nam Trung Bộ
Truyền cổ tích thần kì người Việt ở Nam Trung Bộ không có
hình ảnh ông Bụt (khác với truyện cổ tích thần kì người Việt ở B¾c
Bé vµ Bắc Trung Bộ). Một số truyện mang yếu tố thần kì trực tiếp
trừng phạt nhân vật tuyến ác nhưng không phải là nhân vật trung tâm
truy
ện đã mang lại cho truyện cổ tích thần kì người Việt ở vùng đất
này một tỉ lệ truyện nhất định có kết cấu lỏng lẻo (Sự tích Bàu
Hương, Chiếc gậy thần, Ba anh em chôn xác cha…). Theo lí thuyết
hình thái học truyện cổ tích của Propp, truyện cổ tích thần kì người
Việt ở Nam Trung Bộ xuất hiện nhóm phương tiện thần kì biệt loại
Z
y
(khác với truyện cổ tích thần kì nói chung). Trong số truyện có
yếu tố thần kì trừng phạt nhân vật tuyến ác là nhân vật trung tâm tác
phẩm mang kết cấu tương phản có 75% truyện mang nội dung phản
ánh xung đột gia đình (anh chị em ruột với nhau) (khác với truyện cổ

22
tích thần kì người Việt ở Bắc Trung Bộ và Nam Bộ). Đó là những
biểu hiện chủ yếu về nét riêng của yếu tố thần kì trong truyện cổ tích
thần kì người Việt ở Nam Trung Bộ so với yếu tố thần kì của truyện
cổ tích thần kì cả nước.
KẾT LUẬN
1. Trong truyền thuyết người Việt ở Nam Trung Bộ, hầu hết
yế

Việt ở Nam Bộ thì chúng cũng bộc lộ rõ điểm tương đồng. Đây là sự
minh chứng cụ thể và sinh động về vai trò “trung chuyển” của truyề
n
thuyết người Việt ở Nam Trung Bộ đối với quá trình chuyển di từ
Bắc vào Nam của truyền thuyết người Việt. Vai trò ấy của truyền
thuyết người Việt ở Nam Trung Bộ là một trong những minh chứng
tiêu biểu về vai trò “trung chuyển” của văn hoá dân gian người Việt
ở vùng duyên hải này đối với quá trình chuyển di từ Bắc vào Nam
của văn hoá dân gian người Việt nói chung.
2. Trong truyện cổ tích thần kì ng
ười Việt ở Nam Trung Bộ,
tần số xuất hiện của yếu tố thần kì dạng hữu hình rất cao (92%);
ngược lại, tần số xuất hiện của yếu tố thần kì dạng vô hình rất thấp
(8%); hầu hết yếu tố thần kì thuộc tuyến thiện. Vai trò chủ yếu của
yếu tố thần kì là trợ giúp nhân vật tuyến thiện, trừng phạt nhân vậ
t
tuyến ác và giải quyết xung đột truyện. Theo lí thuyết hình thái học
truyện cổ tích của Propp, yếu tố thần kì của truyện cổ tích thần kì
người Việt Nam Trung Bộ xuất hiện ở chức năng số 14 trong cấu tạo
cốt truyện: Phương tiện thần kì được nhân vật chính sử dụng gồm 8
nhóm: Z
1
, Z
2
, Z
4
, Z
5
, Z
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status