Tóm tắt luận văn thạc sĩ: Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn hai cây bút nữ Nam Bộ: Nguyễn Lập Em và Nguyễn Ngọc Tư - Pdf 38

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm hà nội
--------&--------

Vũ thị quỳnh trang

Yếu tố trữ tình trong
truyện ngắn hai cây bút nữ nam bộ:
Nguyễn lập em và nguyễn ngọc t
Chuyên ngành: Lí LUậN VĂN HọC
Mã số

: 60.22.01.20

Tóm tắt Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn

hà nội - 2015
1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giao thoa thể loại trong văn học là một hiện tượng đặc sắc, chính sự giao
thoa này đã tạo ra thể loại văn xuôi trữ tình, một trong những thể loại mang âm
hưởng khác lạ: không gai góc, sắc nhọn, văn xuôi trữ tình mang đến sự thi vị,
trong trẻo, ấm áp dù hiện thực cuộc sống trong tác phẩm phản ánh là bi kịch
hay hạnh phúc. Ở Việt Nam, dòng chảy văn xuôi trữ tình hiện đại có khởi
nguồn từ giai đoạn văn học đầu thế kỉ XX với tên tuổi của các tác giả như
Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Xuân Diệu... Không khó để thấy rằng, sự giao thoa giữa
trữ tình và tự sự tiếp tục phát triển trong giai đoạn văn học 1945 – 1986 với một
số cây bút tiêu biểu như Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Anh Đức, Lưu

muốn cho thấy sự giao thoa của trữ tình và tự sự trong truyện ngắn Nam Bộ như
là một sự tiếp nối dòng truyện ngắn trữ tình Việt Nam hiện đại, mặt khác chúng
2


tôi muốn đặt hai tác giả trong sự đối sánh, bởi mỗi tác giả lại truyền tải vào trong
sáng tác của mình chất trữ tình riêng, rất cá tính và đặc sắc.
Với mong muốn chỉ ra một cách hệ thống và trọng tâm vào chất trữ tình
trong văn xuôi Nam Bộ sau 1986, qua các sáng tác của hai cây bút nữ Nam Bộ
là Nguyễn Lập Em và Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi thực hiện đề tài “Yếu tố trữ
tình trong truyện ngắn hai cây bút nữ Nam Bộ: Nguyễn Lập Em và Nguyễn
Ngọc Tư”
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu chất trữ tình trong truyện ngắn Nam Bộ
Chúng tôi ghi nhận được một số luận án, luận văn, và khá nhiều các bài
viết tập trung nghiên cứu truyện ngắn khu vực Nam Bộ, tuy nhiên việc nghiên
cứu này mới chỉ dừng lại ở mức khái quát như sau:
Luận án Tiến sĩ Tương tác thể loại trong văn học Việt Nam sau 1986, tác
giả Trần Viết Thiện qua việc khảo sát tổng quát về sự tương tác thể loại trong
văn học Việt Nam có nhắc đến bộ phận các nhà văn Nam Bộ với những sáng
tác mang đậm chất trữ tình như Bích Ngân, Nguyễn Ngọc Tư...
Luận án Tiến sĩ Khảo sát đặc điểm truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay
có chỉ ra diện mạo và cảm hứng chung trong sáng tác của các tác giả ĐBSCL
sau 1975. Trong đó, có khái quát “Truyện ngắn ĐBSCL từ 1975 đến nay, các
tác giả rất chú ý đến việc xây dựng các chi tiết thể hiện đời sống bên trong, các
trạng thái tâm trạng, trạng thái cảm xúc của nhân vật” [19, tr.155]. Những ý
kiến khái quát trên đều khẳng định một trong những đặc điểm của văn học
ĐBSCL là biểu hiện tâm trạng, tuy nhiên, tác giả chưa khẳng định được đây
chính là sự tương tác giữa tự sự và trữ tình trong truyện ngắn ĐBSCL, và cũng
như chỉ ra được hệ thống biểu hiện cụ thể của chất trữ tình đó.

cứu các vấn đề khác. Chúng tôi ghi nhận được điều này ở các bài viết sau:
Trong Luận văn Tiến sĩ Tương tác thể loại trong văn học Việt Nam từ
1986 đến nay của tác giả Trần Viết Thiện có nhắc đến sự thâm nhập của yếu tố
trữ tình vào truyện ngắn tạo nên dòng truyện ngắn trữ tình đặc sắc, đặc biệt các
truyện ngắn đậm chất thơ.Để làm rõ biểu hiện của sự tương tác thể loại trong
văn học Việt Nam từ 1986 đến nay, tác giả có minh họa bằng nhiều tác phẩm,
trong đó một vài truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư. Tác giả khẳng định sự có
mặt của cái tôi trữ tình và chất thơ trong văn của Nguyễn Ngọc Tư
Nhận xét về nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư, tác giả Nguyễn Ngọc Thành Bảo trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư có đề cập tới xu hướng trữ tình hóa trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư: “Một số truyện ngắn của chị chịu sự xâm nhập mạnh
mẽ của một thể loại trữ tình là thơ mà chúng tôi tạm gọi là những truyện ngắn
– trữ tình hóa, tiêu biểu như những truyện ngắn: Cái nhìn khắc khoải, Một trái
tim khô, Một mối tình…” [4, tr.63]. Cũng trong luận văn này, tác giả có đề cập
đến thủ pháp “dòng ý thức” trong những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Thủ
pháp này góp phần biểu hiện sâu sắc nội tâm của nhân vật và là một trong
những yếu tố tạo nên chất trữ tình.
Tác giả Nguyễn Thị Phương trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm sáng tác
Nguyễn Ngọc Tư khi nghiên cứu về ngôn ngữ, giọng điệu trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư có nhận định , giọng điệu cơ bản trong các sáng tác của chị là
giọng điệu trữ tình, mượt mà. “Giọng văn của chị dung dị mà sâu lắng, trữ tình
nhẹ nhàng, câu văn mềm mại”[35].
Trả lời thắc mắc của độc giả về “Chất thơ trong văn xuôi” trên báo Quân
đội nhân dân năm 2012, nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy điểm đến tên
nhiều tác giả tác phẩm minh họa cho “chất thơ trong văn xuôi”, trong đó
có khẳng định, một trong những truyện ngắn giàu chất thơ của văn xuôi Việt
Nam hiện đại là Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư.
Tác giả Đào Duy Hiệp trong bài viết Chất thơ trong Cánh đồng bất tận
đăng trên báo Văn nghệ, số 32 (12/8/2006) có nhận xét về truyện ngắn này tràn

- Phương pháp nghiên cứu tác giả của thi pháp học
Cùng với các phương pháp trên là những thao tác: tổng phân hợp, phân
tích tác phẩm, so sánh, đối chiếu…
6. Đóng góp của luận văn
Với mong muốn có sự quan tâm thỏa đáng cho khu vực văn học Nam Bộ
nói chung và các cây bút nữ Nam Bộ nói riêng, luận văn muốn khai thác và chỉ ra
một cách hệ thống sự tiếp nối của chất trữ tình trong văn xuôi Việt Nam ở khu vực
văn học phương Nam, cũng như cho thấy những nét riêng đặc sắc chỉ có ở chất trữ
tình trong sáng tác của hai nhà văn nữ Nguyễn Lập Em và Nguyễn Ngọc Tư. Hi
vọng luận văn sẽ mang đến cho bạn đọc cái nhìn toàn diện hơn về văn chương
Nam Bộ, cũng như hiểu nhiều hơn về các sáng tác của hai nhà văn Nguyễn Lập
Em và Nguyễn Ngọc Tư nói riêng và thể loại truyện ngắn trữ tình nói chung.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia làm ba chương:
- Chương 1: Yếu tố trữ tình trong sự phát triển của thể loại truyện ngắn
hiện đại Việt Nam
- Chương 2: Nguyễn Lập Em và chất trữ tình nghĩa hiệp
- Chương 3: Nguyễn Ngọc Tư và chất trữ tình cảm thương
5


CHƯƠNG 1
YẾU TỐ TRỮ TÌNH TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
1.1. Tổng quan về yếu tố trữ tình trong truyện ngắn
1.1.1. Khái niệm trữ tình
“Trữ tình” hay “Chất trữ tình” hoặc “Yếu tố trữ tình” là một thuật ngữ lý
luận văn học, dùng như một khái niệm để nói đến một tính chất của văn học.
Qua khảo sát, chúng tôi ghi nhận được một số quan niệm về khái niệm trữ tình
như sau:

“chất trữ tình”, “tính trữ tình” hay “yếu tố trữ tình” để diễn tả đặc điểm này
trong các tác phẩm tự sự. Trữ tình là một khái niệm dùng để chỉ một phương
6


thức trong sáng tác văn học, trong đó chú trọng đến miêu tả cảm xúc, tâm trạng,
tình cảm chủ quan của chủ thể trữ tình. Chúng tôi sử dụng cách hiểu thống nhất
này để nghiên cứu về yếu tố trữ tình trong truyện ngắn ở những phần tiếp theo
của luận văn.
1.1.2. Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn
Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nhà văn sử dụng nhân vật, sự
kiện, biến cố… để bộc lộ tư tưởng nghệ thuật về cuộc sống con người. Khác với
tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn
của nó, truyện ngắn thường chỉ hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát
hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con
người. Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Nếu
mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là
một mảnh nhỏ của thế giới ấy. Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn là
những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo
cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết. Trong truyện ngắn, yếu tố tự sự là
chủ đạo và xuyên suốt. Tuy nhiên, do bị phụ thuộc vào nội dung được trần
thuật, phụ thuộc vào thể tạng của nhà văn mà trong một số sáng tác, yếu tố tự
sự bị giảm nhẹ. Khi đó, các yếu tố như trữ tình, nghị luận sẽ tăng, tạo ra sự giao
thoa thể loại trong truyện ngắn.
L.Tônxtôi từng thốt lên: “Tôi không bao giờ hiểu đâu là ranh giới giữa
văn xuôi và thi ca”. Còn Pauxtôpxki, “nhà thơ bị đóng đinh trên cây thánh giá
của văn xuôi”, trong Truyện cuộc đời cũng bộc bạch rằng: “Tôi đã nhìn thế giới
xung quanh qua tấm lăng kính trong suốt của thơ… Tôi biết rằng thơ – đó là
cuộc sống được thể hiện ở dạng hoàn thiện nhất, là thế giới mở ra trong tất cả
chiều sâu mà cặp mắt dửng dưng lười nhác không thể nào bao quát

giả sau này Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Hồ DZếnh hay Đỗ Tốn đã lần lượt bắt nhịp
thể nghiệm các sáng tác của mình, làm nên một dòng phong cách truyện ngắn
8


trữ tình đặc sắc và đa dạng. Đối với Thạch Lam, phần lớn truyện của ông thuộc
loại truyện không có cốt truyện. Mỗi truyện là một tâm trạng, mang âm hưởng
như một bài thơ trữ tình. Trong truyện Thạch Lam, ta thấy hiện lên một cái tôi
của một người từng trải điểm tĩnh. Cái tôi trong truyện ngắn Thạch Lam đa
dạng và biến hóa: khi là một thế giới nhân vật nhỏ bé, nghèo khổ, nhưng luôn
mang một tấm lòng trắc ẩn trong Gió lạnh đầu mùa; là cái tôi tự vấn của Thanh
trong Một cơn giận, Liên, Huệ trong Tối ba mươi, hay Sinh, Mai trong Đói; đó
cũng có thể là cái tôi đồng cảm như Dung (Hai lần chết) hay mẹ Lê (Nhà mẹ
Lê)... Có thể thấy, dù đa dạng, nhưng cái tôi trong truyện ngắn Thạch Lam đều
thống nhất ở cách biểu hiện sự trải đời, điềm tĩnh của chính tác giả.
Với Thanh Tịnh, đó là cái tôi tâm trạng ẩn sâu trong cái nhìn của một cậu
bé từ ấu thơ tới lúc trưởng thành trước những đổi thay của làng quê. Làng Mỹ
Lý xuất hiện trở đi trở lại trong 13 truyện ngắn tập Quê mẹ. Từ cảm xúc rưng
rưng ngày trở lại trường của cậu bé trong Tôi đi học, đến những rung động đầu
đời của Mẫn và Hương trong Quê bạn,và rồi là tình quê khi xa làng Mỹ Lý đi
làm ăn xa của Đông và Thuyên trong Tình quê hương...
Có thể thấy, yếu tố trữ tình trong văn học giai đoạn 1930 – 1945 đã góp
phần thúc đẩy những cái tôi xuất hiện. Bằng dòng cảm xúc tinh tế, những
truyện ngắn trữ tình thời kỳ này thiên về sự trải nghiệm và thể nghiệm lần đầu
của những cái tôi. Đó có thể là cảm xúc của “qua một đêm mưa rào, trời bỗng
đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa
đông rét mướt”, nơi những đứa trẻ nghèo sống đầy nhân hậu, nơi một mảnh áo
ấm sẵn sàng được sẻ chia. Đó có thể là tâm trạng của một cái tôi trong trẻo giữa
không gian nên thơ “Hàng năm, cứ vào độ cuối thu, lá ngoài đường rụng
nhiều, lòng tôi lại man mác nhớ về những kỷ niệm ấu thơ... Hay đơn giản, chỉ là

đến phẩm chất cũng xuất hiện nhiều trong các truyện ngắn của Đỗ Chu. Đó là
Chuyên trong Ráng đỏ, cô thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh để cứu
xe trong trận bom của giặc Mỹ. Đó là Quế, một cô văn công hiền lành nhưng
gan góc; kín đáo nhưng sôi nổi. Hay là Vĩnh trong Tháng Hai, một cán bộ địa
chất xông xáo nhưng cũng là một nghệ sĩ tài hoa, sống đẹp… Nhìn chung, diện
mạo nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Chu là hóa thân của lý tưởng cách mạng,
mang vẻ đẹp của con người thời đại. Hình tượng nhân vật Nguyệt và Lãm với
những phẩm chất cao quý, và niềm tin vào tương lai trong hoàn cảnh bom đạn
khốc liệt khiến cho truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng đậm chất thơ.. Truyện
như một bản giao hưởng tình yêu giữa chiến tranh khốc liệt, người đọc vẫn cảm
thấy vẻ đẹp con người thiên nhiên đầy thơ mộng giữa chiến tranh.
Truyện ngắn trữ tình giai đoạn 1945 – 1985 còn khai thác vẻ đẹp thiên
nhiên đất nước và mang âm hưởng của thời đại. Đó là những câu chuyện nhẹ
nhàng, lấy cảnh làm duyên cớ để biểu lộ tâm trạng của nhận vật trong các sáng
tác của Đỗ Chu. Cảnh sắc thiên nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Thành Long,
Nguyễn Minh Châu, Đỗ Chu gắn liền với sinh hoạt của làng quê, đó là cánh
đồng, lũy tre, dòng sông. Hay là rặng núi mờ sương trong Lặng lẽ Sapa… Cảnh
vật ở đây giúp bộc lộ nội tâm, từ đó khiến chất trữ tình chảy tràn trong các
truyện ngắn với những cảm xúc đến từ tâm trạng các nhân vật.
Nhìn chung, có thể thấy, truyện ngắn trữ tình giai đoạn 1945 – 1986 mang
âm hưởng của thời đại, một thời đại cách mạng hào hùng. Vẻ đẹp của thiên
nhiên, con người góp phần thi vị hóa các sáng tác văn học thời kỳ này, ngược
lại, yếu tố trữ tình cũng khiến thể hiện được cảm hứng lý tưởng hóa con người,
thiên nhiên trong cách mạng, đem lại lại dòng truyện ngắn trữ tình - cách mạng
độc đáo.
1.2.3. Yếu tố trữ tình với việc thể hiện cảm hứng thế sự - đời tư từ năm 1986
đến nay
Rũ bỏ khuynh hướng sử thi lãng mạn với hình tượng con người lý tưởng,
văn học thời kỳ mới hướng ngòi bút vào những lát cắt nhiều chiều của cuộc
sống, vào tâm trạng, suy nghĩ của con người trước xã hội mới. Với tôn chỉ văn

chúng tôi muốn nhắc đến đó là Nguyễn Lập Em và Nguyễn Ngọc Tư. Chất trữ
tình trong truyện ngắn của hai tác giả nữ này ngoài việc được định hình trong
phương thức sáng tác, còn mang âm phổ chung của phong cách truyện ngắn trữ
tình hiện đại Việt Nam, và hòa theo bản phối khí mang âm hưởng Nam Bộ. Đọc
truyện ngắn của Nguyễn Lập Em, ta thấy hiện lên một thế giới cảm xúc của
những người Nam Bộ nghĩa hiệp, còn truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, là một
thế giới những số phận bi thương được soi nhìn qua con mắt cảm thương của
chính tác giả. Đây có thể coi là hai đại diện tiêu biểu cho dòng văn xuôi trữ tình
phát triển ở Nam Bộ từ sau 1986 đến nay.
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy dòng chảy chung của truyện ngắn trữ
tình có lúc sôi động, có lúc êm ả nhưng vẫn tiếp tục làm phong phú và làm giàu
thêm gia sản của dòng văn học Việt Nam.

CHƯƠNG 2
CHẤT TRỮ TÌNH NGHĨA HIỆP
11


TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN LẬP EM
Nguyễn Lập Em sinh ngày 22. 2. 1955 tại Châu Đốc – An Giang, tốt
nghiệp trường viết văn Nguyễn Du (Hà Nội) khóa 2 (1983 – 1985); Tập truyện
ngắn Bến nước kinh Cùng xuất bản năm 2002, đã đạt giải B – Ủy ban toàn quốc
Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam năm 2003; Giải A đồng hạng – tác phẩm
xuất sắc viết về đề tài nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong 30
năm (từ 1980-2010) - Hội nhà văn Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam tặng năm 2011. Truyện ngắn của Nguyễn Lập Em giàu
chất trữ tình, nhưng là một chất trữ tình độc đáo – chất trữ tình mang vẻ nghĩa
hiệp của con người Nam Bộ.
2.1. Nhân vật đạo nghĩa trong truyện ngắn Nguyễn Lập Em
Nhân vật đạo nghĩa trong truyện ngắn Nguyễn Lập Em thành hai loại:

12


đàn ông xa lạ, đã giúp đỡ, cưu mang mình. Chữ nghĩa còn tồn tại trong quan hệ
giữa hai người đàn bà và một người đàn ông, ấy là vợ chồng ông Hai Hùm và
cô Út Sen. Đó là chị Ba Hiền trong Ngọn gió mùa thương, một điển hình cho
đức hy sinh của người phụ nữ. Nhân vật sống tình nghĩa trong truyện ngắn
Nguyễn Lập Em đôi khi giữ trọn chữ nghĩa chỉ vì tình thương. Dì Hòa trong
Mùa vông chín cả cuộc đời, đi tìm người chồng mất tích trong chiến tranh, dì
không nỡ làm tổn thương, làm mất lòng tin của một người mẹ Việt Nam anh
hùng. Chữ nghĩa ở đây có thể là nghĩa vợ tình chồng, vì chữ nghĩa, mà thầy
Tình (Sông vơi) dù mang trong lòng một nỗi day dứt khôn nguôi với bà Út Na,
nhưng chưa khi nào thầy nghĩ đến việc chia tay người vợ sống bên kia sông, để
đến với bà. Dường như bất cứ một nhân vật nào xuất hiện trong truyện ngắn
Nguyễn Lập Em đều sống tình nghĩa, dù họ có thuộc một trong hai tuyến nhân
vật mà chúng tôi đã phân ra ở trên. Hai chữ tình nghĩa này khiến cho những
biểu hiện nội tâm của các nhân vật trở nên sâu sắc hơn, dòng chảy nội tâm tạo
nên chất trữ tình bao trùm trong truyện ngắn của bà.
Sự thầm lặng trong nội tâm, cộng hưởng với hai chữ nghĩa tình chảy tràn
trong cách sống, cách suy nghĩ của các nhân vật trong truyện Nguyễn Lập Em,
tạo nên âm hưởng trữ tình giản dị, mộc mạc, gần gũi, mà vẫn toát lên khí tính
nghĩa hiệp của người Nam Bộ.
2.1.2. Nhân vật hành động trượng nghĩa
Nghĩa hiệp là thứ đạo nghĩa biểu hiện ra bằng hành động. Tuy nhân vật
hành động trượng nghĩa, nhưng hành động ấy vẫn là biểu hiện của trữ tình.
Hành động nghĩa hiệp của họ nảy sinh từ cảm xúc, từ bản chất con người. Họ
quyết định như vậy là bởi bản thân họ không muốn hay không nỡ chứng kiến
một cảnh khổ, một cảnh bất hạnh nào.
Hành động của những nhân vật này là những hành động tự nhiên, không
hề suy tính. Họ không khi nào tính toán thiệt, hơn, mọi quyết định dường như

hiện qua tính cách dịu dàng, nhưng thẳng thắn. Hành động trả đất cho vợ chồng
Hai Hùm của cô Út Sen chứng tỏ, ẩn sâu trong cái tình của người phụ nữ ấy, là
một sự rành rọt và minh bạch: quyết không trở thành kẻ xen vào hạnh phúc của
gia đình người khác, và cũng quyết không là kẻ cơ hội. Người vợ của thầy Tình
trong Sông vơi chấp nhận đứng nhìn chồng mình giúp đỡ bà Út Na như thể
người ruột thịt. Chính từ sự đồng cảm giữa phụ nữ với nhau, mới khiến cho họ
hành động nghĩa hiệp hơn, vì nhau hơn.
Nhân vật trượng nghĩa là một trong hai tuyến nhân vật đạo nghĩa trong
truyện Nguyễn Lập Em. Xuất thân, biểu hiện của họ có thể khác nhau, nhưng tất
cả những nhân vật này, đều hướng chung tới hai chữ “đạo nghĩa”, mọi hành
động, quyết định của họ cũng là để tròn đạo nghĩa. Điều này góp phần tạo nên
một kiểu kết truyện lạc quan, có hậu, khiến cho người đọc ngoài cái xúc cảm trữ
tình được trải nghiệm, còn thấy được niềm tin vào cuộc sống, nơi mà không thiếu
những con người luôn sẵn sàng làm đẹp cho đời bằng nhân cách của mình.
2.2. Tình huống truyện cưu mang trong truyện ngắn Nguyễn Lập Em
Trong truyện của Nguyễn Lập Em, xuất hiện với tần suất dày đặc tình
huống truyện cưu mang. Hành động cưu mang bắt nguồn từ tư tưởng đạo nghĩa,
bởi cưu mang có nghĩa là giúp đỡ người khác trong hoạn nạn, khó khăn.
Nguyễn Lập Em dường như có biệt tài trong việc chọn ra những khoảnh khắc
éo le nhất của cuộc đời nhân vật, để làm nảy sinh tình huống cưu mang trong
nhiều sáng tác của bà.
Tình huống “cưu mang” trong truyện Nguyễn Lập Em được nhà văn chắt
lọc từ biết bao nhiêu khoảnh khắc thực của cuộc đời. Nó thường mang diện mạo
của khung cảnh éo le nhất trong số phận một con người. Đó là một đêm tối mịt
mờ nơi bãi sông, đêm mà anh Hai Hùm cưu mang hai mẹ con Út Sen trong Bãi
sông xanh. Đó là cái quán trọ tuềnh toàng của vợ chồng Năm Mèo, nơi đón tiếp
bao nhiêu kẻ tứ xứ, nơi con Thơm bán thân trả nợ cho cha mẹ phải chịu bao
cảnh ê chề trong Đi một ngày đường. Hay đó là một đêm khó ngủ của vợ chồng
ông lão ngư dân, đêm mà vợ chồng ông lão bắt gặp cái thau nhỏ với đứa trẻ còn
đỏ hỏn nằm tròn vo trong đó, được thả trôi sông trong Lời của dòng sông…

Chính cách tạo tình huống hồi cố, nhấn nhà ấy đã giúp cho các nhân vật
trong truyện Sông Hậu xuôi về có dịp bộc lộ tính cách và phẩm chất cá nhân của
mình. Một ông lão nông dân, vì cảm mến chàng trai chăm chỉ lao động, sẵn sàng
gả con gái mình dù người trai ấy đã qua một đời vợ. Một cô gái giấu kín chuyện
lầm lỡ của mình bao năm, nhưng đến khi lấy chồng không thể quên đứa con dứt
ruột đẻ ra mà hàng ngày vẫn nhận là em nuôi. Một chàng trai thật thà tốt bụng,
sẵn sàng bỏ qua mọi chuyện, yêu thương hết lòng người con gái trót một lần lầm
lỡ… Bãi sông xanh có diễn biến câu chuyện kéo dài ngót 50 năm, bằng cả đời
người. Cái tình người giữa những ngang trái cuộc đời ấy có dịp được thể hiện.
Các nhân vật bọc lót cho nhau, nâng nhau lên, tạo nên một câu chuyện ân tình
giữa lênh đênh sông nước mà “hết cuộc đời cũng không trả được”
Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện mang tính chất hồi cố của
Nguyễn Lập Em giúp cho các truyện ngắn của bà tuy nhẹ nhàng nhưng không
mất đi sự hấp dẫn, dẫn dắt người đọc đi đến các bất ngờ, giúp cho các nhân vật
bộc lộ hết tính cách, phẩm chất mà hầu hết các tính cách phẩm chất ấy mang
15


tính đạo nghĩa cao cả mà không mấy khi có tính tiêu cực. Qua cách xây dựng
tình huống truyện, người đọc cảm nhận được xúc cảm trữ tình, nhưng là trữ tình
rất nghĩa hiệp. Từ tình huống cưu mang xuất hiện dày đặc, đến những tình tiết
nhớ về quá khứ, những nét tính cách của người Nam Bộ đã được chắt ra để xây
dựng nên những câu chuyện rất đời, rất thực. Hành động “cưu mang” người
hoạn nạn, và sự xuất hiện những con người không thể quên được ơn nghĩa ngày
xưa, dù thời gian đã qua đi đến cả đời người,thì ân nghĩa mà họ nhớ về nhau,
dành cho nhau chưa khi nào vơi cạn. Những nhân vật luôn quyết tìm cho ra,
quyết trả nghĩa ngày nào. Đó là nét tính cách đặc biệt của người dân nơi đây. Cá
tính của con người Nam Bộ ăn sâu vào thế giới quan của nhà văn, khiến những
trang văn của bà có chất giọng và sắc thái riêng: chất trữ tình nghĩa hiệp.
2.4. Không gian sông nước lênh đênh trong truyện của Nguyễn Lập Em

16


khát vọng, cũng yêu thương, cũng dữ dội và có lúc bi lụy trong mỗi con người,
mỗi số phận của người dân Nam Bộ. Sông nước lênh đênh trong truyện ngắn
Nguyễn Lập Em là bối cảnh để các nhân vật bộc lộ những nét tính cách đẹp. Dù
không gian đôi khi tiêu điều, buồn thảm, nhưng không khi nào tình nghĩa con
người sống trong không gian ấy không được đong đầy. Giữa nền cảnh đầy chất
Nam Bộ ấy, xúc cảm về tình nghĩa con người được khơi dòng tuôn chảy.
Qua việc khảo sát các yếu tố nhân vật, kết cấu, tình huống truyện và
không gian truyện, chúng tôi nhận thấy sự giao hòa nhuần nhị giữa yếu tố trữ
tình và tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Lập Em. Đó là những nhân vật có phẩm
chất đẹp, cái đẹp đặc trưng của tính cách con người Nam Bộ: bao dung, vị tha,
nhân hậu, hiếu khách. Tuyến nhân vật sống tình nghĩa, và có lối cư xử trượng
này tạo nên dòng chảy trữ tình nghĩa hiệp trong các sáng tác của Nguyễn Lập
Em. Bên cạnh đó, các tình huống truyện “cưu mang”, kết cấu hồi cố hay không
gian sông nước lênh đênh nơi con người đùm bọc lấy nhau cũng cho thấy nét cá
tính trọng nghĩa trong văn hóa Nam Bộ. Sử dụng lối viết thiên về miêu tả tâm
trạng, nội tâm của các nhân vật mang cá tính Nam Bộ, Nguyễn Lập Em qua đó
mang đến chất trữ tình nghĩa hiệp độc đáo trong các sáng tác của mình. Những
sáng tác này vừa đóng góp, gửi gắm những đặc trưng của người phương Nam
vừa tiếp nguồn cho mạch văn học trữ tình trong văn học Việt Nam hiện đại.
CHƯƠNG 3
NGUYỄN NGỌC TƯ VÀ CHẤT TRỮ TÌNH CẢM THƯƠNG
Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu viết văn từ năm 1996, lúc chị 20 tuổi. Ba truyện
ngắn đầu tay của chị đăng trên Tạp chí Văn nghệ Bán đảo Cà Mau đã gây được
sự chú ý nơi ban biên tập và người đọc. Năm 2001, tác phẩm được Hội nhà văn
Việt Nam trao tặng giải B, Ủy ban Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam tặng giải
thưởng dành cho tác giả trẻ. Chị đươc kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam, trở
thành Hội viên trẻ nhất – 27 tuổi. Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư tràn trề cảm

cách các nhân vật sống, mưu sinh lênh đênh trên sông nước tạo nên khí chất
Nam Bộ riêng cho tuyến nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư
Nhân vật Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư vẫn nằm trong
motip con người đạo nghĩa vốn được xem là một nét đặc trưng cho tính cách
người Nam Bộ. Nó thể hiện ở bản tính cương trực, phóng khoáng; ở hành động
cưu mang người khác, hi sinh vì người khác; không hận thù mà luôn tha thứ.
Sinh ra trên cùng một mảnh đất Nam Bộ, lựa chọn đối tượng phản ánh cũng là
những con người Nam Bộ, nên sự tương đồng giữa kiểu loại nhân vật trong
truyện ngắn của Nguyễn Lập Em và Nguyễn Ngọc Tư là hoàn toàn dễ hiểu. Khi
nghiên cứu đồng thời các sáng tác của hai cây bút Nam Bộ này, chúng tôi nhận
thấy rằng các nhân vật trong truyện ngắn của hai tác giả có thể tập hợp thành
một xã hội Nam Bộ, với những con người thuần một thứ khí chất có thể gọi tên
“đạo nghĩa phương Nam”
Tuy vậy, nếu như trong truyện Nguyễn Lập Em tuyến nhân vật đạo nghĩa
là tuyến nhân vật xuyên suốt làm nên chất trữ tình nghĩa hiệp trong các sáng tác
của Nguyễn Lập Em, thì tuyến nhân vật mang tính cách Nam Bộ - dù cũng biểu
hiện ra trên các phương diện tình nghĩa nhưng chỉ là một trong những tuyến nhân
vật tạo nên chất trữ tình cảm thương trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Sở dĩ
có điều này là bởi tính cách nghĩa hiệp, và lối sống tình nghĩa nếu như ở truyện
Nguyễn Lập Em tạo nên chất trữ tình nghĩa hiệp, thì ở truyện Nguyễn Ngọc Tư
nó mang lại cảm xúc cảm thương, cảm thương từ bi kịch của những nhân vật
mang tính cách Nam Bộ. Họ là những người bao dung, độ lượng, vị tha, nhưng
lại có số phận trớ trêu. Người đọc dễ dàng thấy điều đó bởi lối viết xuất phát từ
nội tâm nhân vật của tác giả. Chú trọng miêu tả tâm trạng bên trong, Nguyễn
Ngọc Tư xây dựng nên những nhân vật đáng ca ngợi. Đó là những người tốt bị
hoàn cảnh đưa đẩy, tác giả dù không hề chủ ý thể hiện sự bênh vực, nhưng bản
chất nhân văn tự nhiên giữa người với người đã giúp những câu chuyện đều
mang giọng điệu, cái nhìn cảm thông. Từ cái nhìn cảm thông của tác giả, khiến
người đọc tiếp cận tác phẩm một cách chân thực nhất, và hơn hết đó là sự dung
18

3.1.2. Nhân vật phụ nữ - những số phận bất hạnh
Đọc truyện Nguyễn Ngọc Tư, người đọc dễ bị ám ảnh bởi sự trở đi trở lại
dày đặc của hình ảnh những người phụ nữ bất hạnh trong tình yêu, hôn nhân.
Cái nhìn ẩn ức nữ tính trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là cái nhìn thiên về
sự khổ đau, bất hạnh, đổ vỡ.
Khai thác đề tài phụ nữ, Nguyễn Ngọc Tư đi sâu vào những mảnh đời, số
phận của họ. Những người phụ nữ trong truyện ngắn chị được khắc họa qua lời
nói, tâm trạng, qua cuộc đời. Những người phụ nữ trong các câu chuyện đều
mang trong tim sâu nặng một mối tình. Họ cùng ngân lên bản giao hưởng trữ
tình về tình người, tình yêu. Những người phụ nữ ấy cho ta thấy vẻ đẹp từ phẩm
chất đến lối sống. Cuộc đời đẩy họ đến những hoàn cảnh thật trớ trêu, nhưng
bản tính chân thật, lòng chung thủy, và vị tha của họ vẫn làm cho đời thật đẹp.
Đó là ba người phụ nữ trong Một mối tình. Những người phụ nữ trong câu
chuyện mỗi người mang trong tim sâu nặng một mối tình. Những người phụ nữ
19


ấy cho ta thấy vẻ đẹp từ phẩm chất đến lối sống. Cuộc đời đẩy họ đến những
hoàn cảnh thật trớ trêu, nhưng bản tính chân thật, lòng chung thủy, và vị tha của
họ luôn nhen lên ngọn lửa của tình thương, điều này khiến cho người đọc dễ
dàng đồng cảm với tâm trạng nhân vật. Đó là Đậm trong Giao thừa, một người
phụ nữ bình thường, không nhan sắc, không hấp dẫn, lại lỡ bước, nhưng cuộc
đời chị có thể làm bừng sáng nhiều cuộc đời người phụ nữ khác, những người
cũng lầm lỡ như chị.
Bằng hình tượng những người phụ nữ đẹp, cao cả, vị tha trong những
hoàn cảnh bi thương, khắc nghiệt nhất cuộc đời, Nguyễn Ngọc Tư đã mang chất
trữ tình len lỏi trong từng truyện ngắn, khiến cho bi kịch không chỉ là đau
thương, mà bi kịch nơi con người Nam Bộ bộc lộ bản chất về thứ vẫn được gọi
là “lẽ sống tình thương”, lẽ sống này khơi gợi nên nỗi niềm cảm thương, sự
đồng cảm thấu hiểu của người đọc với những số phận phụ nữ bất hạnh nhưng



sông), hay là một người suốt đời cô đơn không được cha mẹ chăm sóc (Phi
trong Biển người mênh mông)
Bằng ngòi bút trữ tình tinh tế Nguyễn Ngọc Tư xây dựng nên một thế giới
những người nghệ sĩ có đức có tài. Chính những người nghệ sĩ này đã góp phần
gìn giữ một kho tàng văn hóa phi vật thể của dân tộc nói riêng và của nhân loại nói
chung. Ca ngợi những người nghệ sĩ, Nguyễn Ngọc Tư còn muốn gửi gắm sự thật
về sự bạc bẽo của nghề và gióng lên hồi chuông báo động về ý thức trách nhiệm
gìn giữ văn hóa của tổ tiên cha ông. Nói lên điều này, cũng có nghĩa là tác giả đã
đứng về phía họ, nghiêng mình xuống với họ, sẻ chia và cảm thông. Đây chính là
tính nhân bản, nét nhân văn cao cả và cũng là nội dung tư tưởng của hệ thống
truyện về người nghệ sĩ của Nguyễn Ngọc Tư. Sự cảm thông đối với số phận
những người nghệ sĩ “sinh nghề, tử nghiệp” của chị khiến cho chất cảm thương cứ
thế hòa vào mạch nội tâm nhân vật, tạo nên âm hưởng trữ tình lắng đọng, đồng
cảm từ tận đáy sâu tâm hồn trong câu chuyện đời của những người nghệ sĩ.
3.2. Kết cấu tâm lý và chất trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Kết cấu tâm lý trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư được thành lập qua
hai dạng thức: dạng thức thứ nhất đó là kết cấu tâm lý theo trình tự thời gian
tuyến tính của tâm trạng nhân vật. Kết cấu tâm lý tuyến tính thường xuất hiện ở
những truyện ngắn giai đoạn đầu sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Ở đây tác giả
chủ yếu biểu hiện tâm trạng, nội tâm nhân vật theo trình tự thời gian của những
sự kiện trong truyện. Dạng thức thứ hai đó là kết cấu tâm lý hồi tưởng. Loại kết
cấu tâm lý này thường xuất hiện nhiều hơn ở những truyện ngắn ra đời sau này.
Những truyện ngắn này thường khá hiện đại, sử dụng những kĩ thuật của điện
ảnh để biểu hiện tâm trạng nhân vật. Tuy không thực sự đa dạng trong phương
thức thể hiện nhưng việc sử dụng kết cấu tâm lý trong truyện ngắn giúp Nguyễn
Ngọc Tư truyền tải được xuất sắc bản chất con người và xã hội Nam Bộ.
3.2.1. Kết cấu tâm lý tuyến tính
Kết cấu tâm lý theo trật tự tuyến tính thường gặp trong những truyện ngắn

trên một chuyến tàu. Câu chuyện cuộc đời em được tua lại qua câu chuyện của
cha con hành khách cùng phòng. Hai cuộc đời xa lạ nhưng đồng dạng đang song
hành trên một chuyến tàu. Câu chuyện kết thúc dù bi kịch là sự ra đi của cả em
và thằng bé. Nhưng bi kịch đó không phải là gào thét, là nước mắt. Truyện để lại
dư vị xót xa len lỏi trong sâu thẳm tâm hồn. Hay là dòng nội tâm đầy ám ảnh
trong Biến mất ở thư viện. Câu chuyện ẩn chứa dày đặc những khoảnh khắc hồi
tưởng của Hảo về người mình yêu, đã biến mất kì lạ ở thư viện.
Nhìn chung, đa phần truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư được xây dựng
bằng kết cấu tâm lý, hay nói cách khác là lấy tâm trạng của các nhân vật làm
tâm điểm cho việc xây dựng tác phẩm của mình... Đi từ tâm lý nhân vật, hành
động, diện mạo của các nhân vật trong truyện của chị luôn bị tẩy trắng hoặc mờ
hóa, để thứ duy nhất nổi lên trên cốt truyện đó là dòng tâm trạng của nhân vật:
đắng cay, chua xót, phiền muộn, mong chờ... Truyện ngắn có kết cấu tâm lý rõ
ràng mang lại cho người đọc nhiều xúc cảm trữ tình từ chính sự đồng cảm với
nội tâm nhân vật.
3.3. Nghệ thuật kết truyện bi kịch nhưng không bi lụy
Giọng văn của Nguyễn Ngọc Tư nhẹ nhàng nhưng nội lực cầm bút của chị
lại mạnh mẽ. Nguyễn Ngọc Tư quan tâm, dành nhiều tình cảm cho lớp người
lao động nghèo, những người dưới đáy. Hàng ngày hàng giờ họ chống chọi với
đủ loại bệnh tật để tồn tại. Nghèo đói và bệnh tật bao giờ cũng đi cùng với nhau
như một hệ quả tất yếu, trì níu kiềm tỏa họ luẩn quẩn trong cái vòng tròn khép
kín. Có thể thấy hầu hết các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đều có kết cục
buồn thảm. Những bi kịch được tạo nên từ sự đối lập đến mức tương phản giữa
quá khứ và hiện tại, giữa công sức bỏ ra và những gì thu lại được đã được ngòi
bút của Nguyễn Ngọc Tư thể hiện thành công tới mức tài tình. Bi kịch trong
truyện Nguyễn Ngọc Tư thường thể hiện qua những câu chuyện tình duyên
dang dở, qua những số phận lênh đênh hay qua những cú shock trước sự đổi
thay nhanh chóng của đô thị.
22


một không gian trữ tình, là cái nền cảnh để nhân vật bộc lộ tâm trạng. Bao trùm
các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là không gian sông nước, không gian miệt
vườn Nam Bộ với những con sông, những bờ kênh, những con mương. Sông
nước gần như trở thành một biểu tượng, xuất hiện trở đi trở lại trong các sáng
tác của chị. Không gian sông nước xuất hiện trong cách đặt tên các sáng tác,
người ta có thể cảm thấy sự ăn sâu của tiềm thức về không gian sông nước
trong thế giới quan của chị. Không gian sông nước còn gắn bó với các nhân vật;
nó sống, vui, và buồn cùng nhân vật – những người con sinh ra và lớn lên từ
Nam Bộ.
Không gian sông nước trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thường mang
đậm cảm giác về một vùng quê nghèo. Chính vì đặc điểm này mà không gian
trong truyện ngắn của chị là cái nền cảnh để các nhân vật biểu hiện tâm trạng,
giữa hoàn cảnh nhiều khó khăn, con người lại tìm đến nhau, bao bọc, yêu
23


thương và che chở cho nhau. Cánh đồng bất tận là một truyện ngắn khắc họa rõ
nét không gian sông nước Nam Bộ. Không gian ở đây là những cánh đồng khô
nắng, khô cỏ, là những bến quê, ghe thuyền nay đây mai đó, là cái sàn nước, là
dòng sông. Giữa khung cảnh khốn khó ấy, là sự vô cảm của người cha, là nỗi
niềm đau khổ của Nương của Điền, những đứa trẻ cả cuộc đời khao khát được
yêu thương. Hiu quạnh, nghèo đói, khó khăn, những ước muốn, những hi vọng
về tình cảm gia đình của Nương và Điền càng được tô đậm. Mâu thuẫn nội tâm
của các nhân vật trở thành những điểm gây nhức nhối nhất trong toàn tác phẩm.
Không gian văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư còn thể
hiện qua những nghề nghiệp đặc trưng của người dân nơi đây. Đó là nghề “nuôi
vịt chạy đồng”, một nghề mà có lẽ chỉ có ở Nam Bộ, nơi có những cánh đồng
thẳng cánh cò bay. Không gian văn hóa Nam Bộ còn hiện lên qua hình ảnh
những đoàn hát cải lương, hay mộc mạc như những gánh hát rong ở chợ. Đó là
cái sân khấu tự phát, nơi người nghệ sĩ già hát phục vụ bà con mỗi buổi chiều,


KẾT LUẬN
Kế thừa từ nguồn mạch những truyện ngắn trữ tình giai đoạn trước, các
sáng tác của hai nhà văn nữ này đã giới thiệu ra công chúng cả nước những đặc
điểm riêng đặc sắc của vùng đất Nam Bộ bằng giọng văn trữ tình nhiều cảm
xúc. Sự giao thoa giữa tự sự và trữ tình biểu hiện khá rõ ràng trong các sáng tác
của Nguyễn Lập Em và Nguyễn Ngọc Tư. Bằng giọng văn chất chứa nội tâm,
cảm xúc, hai nhà văn Nam Bộ đã mang đến cho người đọc trước hết là cái nhìn
tổng quan về một vùng sông nước mênh mang trù phú nhưng khắc nghiệt. Trên
góc độ văn hóa, các sáng tác của Nguyễn Lập Em và Nguyễn Ngọc Tư cung
cấp cho người đọc cái nhìn đa chiều về cuộc sống người dân Nam Bộ. Không
gian, thời gian, văn hóa vùng miền chính là cái nền cốt để con người bộc lộ và
thể hiện mình.
Ở góc độ thi pháp học, chúng tôi nhận thấy chất trữ tình đằm thắm mang
đậm dấu ấn người phụ nữ Nam Bộ. Đó là phẩm chất vừa hy sinh thầm lặng, vừa
rắn rỏi kiên cường, vừa vị tha độ lượng lại quyết không chấp nhận đầu hàng số
phận. Sức mạnh của những cây bút nữ này không phải ở những ngôn từ mạnh mẽ
quyết liệt trong tác phẩm mà chính ở thủ pháp nghệ thuật dựng cốt truyện. Nếu
ngòi bút của Nguyễn Lập Em để lại những trang viết dung dị, nhẹ nhàng với
những nỗi buồn như thoảng qua mà vô cùng sâu sắc, cuộc sống còn gian khó
nhưng chưa bao giờ mất niềm tin thì Nguyễn Ngọc Tư bằng sự từng trải, quan
sát kỹ lưỡng và tinh tế lại có những trang viết với những nỗi buồn chất chứa,
những nỗi buồn tưởng như vô tận, những bi kịch sâu kín trong góc khuất mỗi
cuộc đời được lột tả và để lại những giằng xé khắc khoải đau xót trong lòng độc
giả. Những bi kịch của mỗi số phận được Nguyễn Ngọc Tư diễn tả trở thành
những tiếng kêu cứu không chỉ cho một người mà là lời cảnh tỉnh cho cả xã hội.
Dù có sự khác nhau trong văn phong cách viết hay kết cấu mạch truyện
thì Nguyễn Ngọc Tư và Nguyễn Lập Em có điểm nhìn chung là hướng tới chữ
Nhân. Những sáng tác của họ đều vì con người và có tính nhân bản sâu sắc,
đậm tính nhân văn. Điều này mang lại giá trị tồn tại lớn lao cho các sáng tác của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status