PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tôn giáo, một hình thái ý thức xã hội, được hình thành và song hành
cùng với quá trình tiến hóa, phát triển của lịch sử xã hội loài người. Tôn giáo
và khái niệm tôn giáo ngày càng đa dạng, biến thiên, và vẫn khẳng định được
vị thế, những giá trị của mình trong đời sống tâm linh cộng đồng, từng vùng
miền, dân tộc. Những giá trị đó đã chi phối, thậm chí khuynh loát tinh thần,
đời sống con người. Các giáo lý của tôn giáo nói chung đều chứa đựng giá trị
đạo đức nhân bản rất hữu ích cho việc xây dựng nền đạo đức mới và nhân
cách con người, hướng con người tới Chân – Thiện – Mĩ, tới những điều tốt
đẹp, công bằng, bác ái, sống lương thiện hơn, hạnh phúc hơn trong cõi thế
tục.
Văn học nghệ thuật, theo Mác và Ăng-ghen, cũng là một hình thái ý thức xã
hội thuộc thượng tầng kiến trúc, dĩ nhiên không ngoài quỹ đạo ảnh hưởng
của tôn giáo, với những biểu hiện tinh vi nhất. Không phải ngẫu nhiên mà
trong thế giới nghệ thuật của nhiều văn nghệ sĩ, dấu ấn tôn giáo lại in đậm
đến vậy. Tôn giáo ở một khía cạnh nào đó cũng được nhìn nhận như một cảm
quan, một cách nhìn nghệ thuật về thực tại, “nó tồn tại trong thơ và bằng
thơ, chứ không thể xé rào ra ngoài thơ để thành tôn giáo của thế tục.
Rabindranath Tagore gọi đó là “tôn giáo của nhà thơ”.” [39, 2]. Tôn giáo đã
ăn sâu vào ý thức của nhà thơ, làm cơ sở để họ cắt nghĩa cảm nhận đời sống
theo nhãn quan tôn giáo. Vì vậy, tìm hiểu cảm hứng tôn giáo của một nhà thơ
chính là từng bước thâm nhập vào thế giới tôn giáo dưới nhãn quan thi sĩ, từ
đó hiểu được cách tiếp cận đời sống từ chiều sâu tâm linh, nó chi phối nhân
sinh quan, thế giới quan để tạo nên một thế giới nghệ thuật với những
phương thức biểu đạt riêng biệt.
1.2. Mai Văn Phấn – con người âm thầm trong hành trình của những đổi mới,
Do vậy, chọn đề tài “Cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn”, người viết
hi vọng sẽ khám phá thêm về những yếu tố cấu thành nhân sinh quan, thế
giới quan của nhà thơ, đồng thời, giúp người đọc hiểu thêm một khía cạnh
mới trong nhận thức khám phá thế giới của một hồn thơ thi sĩ.
2. Lịch sử vấn đề
Từ năm 1992 với “giọt nắng”, tập thơ mở đường chính thức đưa Mai Văn
Phấn vào làng văn, từ đó đến nay ông liên tiếp cho ra đời những tác phẩm có
giá trị, để rồi trên chính con đường ấy đã ghi nhận những đóng góp hết sức
tích cực của nhà thơ. Không gian thơ của Mai Văn Phấn luôn là khu vườn đầy
hương sắc, lôi cuốn sự tìm tòi, khám phá của những người yêu thơ. Vì vậy,
khi đến với độc giả dưới góc nhìn đa diện, các tác phẩm của ông được soi
chiếu dưới nhiều chiều kích khác nhau. Có thể khẳng định, số lượng bài viết
về thơ Mai Văn Phấn khá lớn, theo thống kê chưa đầy đủ cho đến thời điểm
hiện tại có đến hàng trăm các bài viết trên nhiều phương diện: giới thiệu
sách, giới thiệu chân dung nhà thơ, thảo luận, nghiên cứu, phê bình… Trong
đó, có đủ cả khen và chê, phê phán và khẳng định.
2.1. Trước hết, là những đánh giá ghi nhận những đóng góp của Mai Văn
Phấn cho quá trình hiện đại hóa của văn học nước nhà, là nhà thơ cách tân
hàng đầu trong nền thơ ca đương đại Việt Nam với sự sáng tạo không ngừng.
Sự thống nhất chung đó có ở các bài viết của các tác giả Đình Kính, Cao Năm,
Đỗ Quyên, Nguyễn Quang Thiều… Đặc biệt được nhấn mạnh một cách toàn
diện và sâu sắc trong hai luận văn tốt nghiệp:“Đặc điểm nghệ thuật thơ Mai
Văn Phấn” của Vũ Thị Thảo và “Một số cách tân nghệ thuật trong thơ Mai
Văn Phấn” của Nguyễn Quang Hà.
Nhà văn Đình Kính trong bài mở đầu tại hội thảo “Thơ Mai Văn Phấn và
Đồng Đức Bốn khác biệt và thành công” đã nhấn mạnh: “Mai Văn Phấn là
Như vậy, có thể nói trên đây đã dẫn ra một vài ý kiến tiêu biểu cho cách nhìn
nhận, đánh giá những đóng góp tích cực cũng như những thành công trên
con đường tìm kiếm nghệ thuật đích thực của Mai Văn Phấn. Tuy các bài viết
chưa thể bao quát hết được các phương diện đánh giá về các sáng tác của
ông, nhưng với mỗi cách nhìn, mỗi quan niệm cho ta một mảnh ghép quan
trọng để hoàn thiện dần bức chân dung về thơ và đời của nhà thơ Mai Văn
Phấn.
2.2. Bên cạnh những tình cảm yêu mến, sự trân trọng và đón nhận nồng
nhiệt, còn có những ý kiến trái chiều trong hành trình sáng tác của thơ ông.
Đó là những nhận xét phê phán cực đoan của các nhà thơ, các nhà phê bình
trước những thành tựu được ghi nhận trong thơ Mai Văn Phấn.
Rõ ràng, thơ Mai Văn Phấn “bên cạnh những thành công thì thơ ông còn
nhiều điều dang dở. Trước hết, thơ Mai Văn Phấn, có những bài thơ gây khó
hiểu cho bạn đọc. Với niềm say mê cách tân thơ, nhiều khi nhà thơ quá sa đà
vào việc thể nghiệm những cái mới nên thơ ông trở nên rối rắm, khó
hiểu” [44, 119]. Đây có lẽ là cái nhìn biện chứng hơn cả đối với một thế giới
thơ mà ở đó nhà thơ tạo ra nhiều “cánh cửa” để bạn đọc có thể tiếp cận ở
nhiều chiều kích khác nhau. Ở đó, họ thực sự tự do, “nó không có chỗ cho sự ù
lì, dễ dãi…đọc thơ anh trước hết cần sự đồng cảm, tháo gỡ những quan niệm
cũ về thơ vẫn nằm ẩn sâu trong mỗi người, cần vươn tới những tìm kiếm
mới, giá trị mới”…[13, 2].
Nói tóm lại, dù đánh giá ở phương diện nào thì cũng không thể phủ nhận
được những giá trị và đóng góp của thơ Mai Văn Phấn. Thơ Mai Văn Phấn
vẫn giành được những ưu ái và đánh giá cao bởi những cây bút uy tín,
chuyên nghiệp trên văn đàn hiện nay
2.3. Trong các công trình nghiên cứu còn hạn chế về thơ Mai Văn Phấn, vấn
hình ảnh biểu tượng tâm linh, chủ đề tâm linh trong thơ Mai Văn Phấn, có thể
nói “ ý niệm tâm linh giống như luồng ánh sáng linh thiêng soi rọi, phủ ngập
lộ trình thơ Mai Văn Phấn”[44, 55].
Điểm qua một vài bài viết trên, chúng ta có thể thấy được, vấn đề“Cảm hứng
tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn” chưa được nhìn nhận như là một vấn đề
trọng tâm mà mới chỉ tồn tại dưới những nhận xét lẻ tẻ trong các bài nghiên
cứu. Các tác giả đã bắt đầu tiếp cận ở phương diện tâm linh, hình ảnh – biểu
tượng tôn giáo. Trên cơ sở hệ thống hóa các bài viết có liên quan, người
nghiên cứu sẽ cố gắng phân tích, lí giải, đánh giá vấn đề “cảm hứng tôn giáo
trong thơ Mai Văn Phấn” trên bình diện sâu và rộng hơn.
Lịch sử nghiên cứu Mai Văn Phấn chưa phải đã dài, ý kiến đề cập trực tiếp
đến vấn đề tôn giáo trong thơ của tác giả này cũng chưa phong phú. Nhưng,
dầu sao chúng cũng là những tiền đề hữu ích để người sau bước tiếp. Với đề
tài này, chúng tôi một lần nữa muốn góp thêm một tiếng nói khẳng định giá
trị thơ Mai Văn Phấn. Và, hơn thế bài viết muốn đưa đến một cái nhìn mới,
toàn diện hơn khi soi chiếu thành tựu thơ của Mai Văn Phấn dưới góc nhìn
của cảm hứng tôn giáo – một trong những nguồn cảm hứng chủ đạo làm nên
sức sống thơ ông.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề cảm hứng tôn giáo trong
thơ Mai Văn Phấn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ sáng tác thơ của Mai Văn
Phấn gồm các tác phẩm đã xuất bản: Giọt nắng (thơ, Hội Liên hiệp VHNT TP.
Hải Phòng, 1992);Gọi xanh (thơ, Nxb. Hội Nhà văn, 1995); Cầu nguyện ban
mai (thơ, Nxb. Hải Phòng, 1997); Nghi lễ nhận tên (thơ, Nxb. Hải Phòng,
4.3. Phương pháp thống kê, phân loại
Với phương pháp này sẽ được xem xét dựa trên sự tương đồng về mặt giá trị,
giúp người viết xắp xếp một cách có hệ thống những hình ảnh, biểu tượng
xuất hiện nhiều lần như một phương tiện quan trọng biểu hiện cho cách nhìn
của nhà thơ. Để từ đó người nghiên cứu sẽ xác lập, xâu chuỗi các biểu hiện đa
dạng của các yếu tố trong thơ Mai Văn Phấn.
4.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Người viết sử dụng phương pháp này để thiết lập hệ thống luận điểm. Trên
cơ sở làm rõ những nét độc đáo về cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn
Phấn để có cái nhìn khái quát về hành trình thơ ông. Từ đó, làm cơ sở khái
quát chung về những dấu ấn mới trong cách nhìn của thi sĩ.
4.5. Phương pháp so sánh – đối chiếu
Trên cơ sở lí giải các yếu tố, các phương diện đặc biệt trong thơ ông, từ đó so
sánh, đối chiếu những cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa của Mai Văn Phấn
với các nhà thơ cùng thời để tìm ra dấu ấn riêng biệt của Mai Văn Phấn.
5. Đóng góp của luận văn
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện, hệ thống về “Cảm
hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn”.
Trong khuôn khổ cho phép, luận văn cố gắng làm nổi bật nét đặc sắc trong
thơ Mai Văn Phấn ở phương diện tôn giáo. Thực hiện luận văn, chúng tôi
mong muốn góp tiếng nói khẳng định về giá trị của một tiếng thơ, làm rõ một
gương mặt thơ trong thi đàn đương đại.
cái thiêng và sự thánh thiện, nó giúp tâm hồn con người bình yên, thanh thản.
Không phải ngẫu nhiên mà từ xưa đến nay tôn giáo luôn là nguồn cảm hứng
bất tận trong các lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt là văn học. Trên thế giới có rất
nhiều các loại hình tôn giáo khác nhau, mỗi tôn giáo mang một màu sắc, một
nét đẹp riêng, tạo thành một bản âm hưởng đa thanh, đa sắc, từ đó đã có rất
nhiều cách hiểu về tôn giáo khác nhau. Khái niệm tôn giáo là một vấn đề
được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiều. Ở mỗi góc độ cho chúng
ta một cách nhìn, một cảm nhận ở nhiều khía cạnh.
Trước hết là những quan điểm về tôn giáo được đánh giá từ những mặt hạn
chế. Nói đúng hơn đó là những cách nhìn nhận, đánh giá chưa toàn diện,
hoàn chỉnh về tôn giáo vì họ chưa nhìn thấy bản chất xã hội của nó. Tiêu biểu
đó là những ý kiến đánh giá của các nhà triết học trước Mác.
Từ chủ nghĩa duy tâm đa khẳng định tôn giáo như một hiện tượng nằm ngoài
hiện thực khách quan, không phụ thuộc vào hiện thực khách quan mà
là “một sức mạnh kì bí thuộc “tinh thần” tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu đem
lại sinh khí cho con người”[38, 17].
Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con
người”.
Trong các nhà triết học duy vật trước Mác, thì L.Phoiơbắc (1804 – 1872) là
người có quan điểm tiến bộ về tôn giáo, khi ông xác định được đúng đắn mối
quan hệ giữa thần thánh và con người. Ông cho rằng: “không phải thượng đế
sáng tạo ra con người mà ngược lại, chính con người đã sáng tạo ra thượng
đế theo mẫu hình của mình”[33, 18]. Tuy nhiên với sự tiến bộ này ông vẫn
không nhìn thấy bản chất xã hội của tôn giáo. Hạn chế này cũng bộc lộ rõ ở
quan điểm của nhà phân tâm học người Áo Singmund Freud (1856 -1939) –
người xem hình thức tôn giáo đầu tiên là tô tem giáo, xác định:“Tôn giáo là
luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới
phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của
những vật thể hữu hình và vô hình. Cả hai thế giới ấy luôn tồn tại xung quanh
cuộc sống con người
Thứ hai, Trong đời sống xã hội có những hiện tượng phức tạp mà con người
không thể giải thích được, con người hướng những điều không thể lí giải đó
đến với niềm tin tâm linh vào thần thánh. Tôn giáo là nơi thể hiện sự gắn kết
giữa con người với thần linh. Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con
người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến
sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng
con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính
“Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng
chung sống. Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên
tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất
công và khổ ải.
Như vậy, Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang
tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một
cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên
kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch
sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn
giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau
của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
Bên cạnh cách hiểu về nội hàm khái niệm, thì khi nói về tôn giáo chúng ta
không thể không nhắc tới tác động to lớn của nó lên đời sống con người, đây
chính là điều làm nên sức sống vĩnh hằng của tôn giáo trong quá trình đi lên
của xã hội. Tôn giáo có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống con người
mà trước hết là sự giải thoát về mặt tâm hồn. Trong cuộc sống, những trạng
khẳng định trong một chuyên khảo về tôn giáo: “Tôn giáo nào cũng khuyên
con người – tín đồ, làm lành, lánh dữ, tích đức, hành thiện, yêu người, cho
người đói ăn, cho kẻ khát uống. Tôn giáo dạy con người tu thân, tề gia, đưa
ra những chuẩn mực trong quan hệ vua – tôi, cha – con, vợ - chồng, thầy –
trò. Hầu hết các nội dung trên là những lời răn dạy của đấng sáng tạo tôn
giáo (chúa trời, phật, thánh Ala), trở thành quy chuẩn, mô phạm điều chỉnh
hành vi của con người, tín đồ”[20, 3]. Chính vì vậy mà chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn tỏ thái độ tôn trọng và đề cao vai trò của tôn giáo và người sáng lập tôn
giáo: “Mục đích cao cả của Phật Thích Ca và Chúa Giê Su đều giống nhau.
Thích Ca và Giê Su đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do
và thế giới đại đồng”.