tóm tắt luận án tiến sĩ đạo đức phật giáo với công tác giáo dục thanh thiếu niên tín đồ phật giáo tt huế hiện nay - Pdf 24

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ VĂN TRÂN
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC
THANH THIẾU NIÊN TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO
THỪA THIÊN HUẾ HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử
Mã số: 60 22 80 05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS.Hoàng Thị Thơ
2. PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng

HÀ NỘI - 2013
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS.Hoàng Thị Thơ
2. PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học
Xã hội
Vào hồi … giờ… phút, ngày … tháng… năm…
Có thể tìm luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Gia đình Phật tử và công tác giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo Thừa Thiên Huế hiện
nay. Tạp chí Công tác Tôn giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ số 11(63)/2011.

giảng dạy Triết học, Quản lý nhà nước về tôn giáo mong muốn hoàn thiện kiến thức nhằm phục vụ cho
công tác nghiên cứu, giảng dạy và quản lý của mình, cụ thể là: Tiếp tục hoàn thiện lý luận chung về đạo đức
Phật giáo và giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo ở TT Huế; Đóng góp lý luận cho công
1
tác giáo dục thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo TT Huế; Góp phần tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả
giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên Huế nói chung và thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo nói riêng; Góp
phần bổ sung cho các giải pháp quản lý tôn giáo, đoàn thể tôn giáo, trong đó có GĐPT ở TT Huế.
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn “Đạo đức Phật giáo với công tác giáo dục thanh thiếu niên tín
đồ Phật giáo TT Huế hiện nay” làm đề tài nghiên cứu Luận án Tiến sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Luận án nghiên cứu công tác giáo dục đạo đức thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo ở TT Huế, trên cơ sở
làm rõ đạo đức Phật giáo và những giá trị cơ bản của nó cần được kế thừa và phát huy trong sự kết hợp với
các tổ chức xã hội nhằm hoàn thiện hơn nữa việc giáo dục đạo đức thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo TT Huế
hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
Thứ nhất: Khái quát nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo và vai trò của những giá trị tích cực của
chúng đối với cá nhân (tín đồ) và xã hội qua công tác giáo dục thanh thiếu niên tín đồ và thực tiễn xây dựng
và phát triển GĐPT;
Thứ hai: Khái quát về Phật giáo Huế và làm rõ vai trò giáo dục đạo đức của nó trong công tác giáo dục
thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo TT Huế qua GĐPT;
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp về nhận thức và thực tiễn đối với các chủ thể giáo dục nhằm nâng
cao hiệu quả của việc giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo ở TT Huế cũng như các địa
phương có Phật giáo trong cả nước qua mô hình GĐPT.
2
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của Luận án tập trung vào thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo trên địa bàn TT Huế
và chủ yếu là đoàn sinh trong GĐPT.
Về mặt không gian, Luận án giới hạn trong phạm vi tỉnh TT Huế.
Về thời gian, Luận án tập trung nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Đây là một luận án triết học nghiên cứu về triết học-đạo đức Phật giáo trên quan điểm DVBC và
DVLS của triết học Mác Lênin nhằm làm rõ giá trị của chúng và đáp ứng nhu cầu giáo dục đạo đức của xã
hội Việt Nam hiện nay cho thanh thiếu niên nói chung và cho thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo nói riêng. Vì
vậy, dựa trên mục đích, nhiệm vụ và cấu trúc vấn đề của Luận án, các tư liệu cần tổng quan được phân theo
một số nhóm vấn đề sau:
1. Về nghiên cứu triết học - tôn giáo, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước về tôn giáo
Nhóm tư liệu này làm cơ sở phương pháp luận cho Luận án, giúp tác giả xây dựng khung lý thuyết cho
toàn bộ Luận án liên quan đến nhận thức về tôn giáo, đạo đức tôn giáo trong quan hệ với đạo đức xã hội và
giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo; lập trường để đề xuất một số giải pháp định hướng phát
triển và quản lý công tác giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên qua mô hình GĐPT.
2. Về đạo đức, đạo đức Phật giáo, đạo đức xã hội và giáo dục đạo đức
Nhóm tư liệu này thể hiện trên hai khuynh hướng chính đó là đạo đức học, đạo đức Phật giáo. Đặc biệt
nhóm đạo đức Phật giáo làm cơ sở lý luận chung cho Luận án khái quát các giá trị đạo đức của Phật giáo từ
góc độ Triết học, Đạo đức học, Giáo dục học để xây dựng một định hình về công tác giáo dục đạo đức cho
thanh thiếu niên tín đồ tôn giáo nói chung và tín đồ Phật giáo nói riêng. Chúng có thể chia nhỏ hơn thành ba
hướng tư liệu:
* Nghiên cứu về đạo đức Phật giáo từ góc độ Nhân học tôn giáo.
* Nghiên cứu về đạo đức Phật giáo từ góc độ Triết học.
* Nghiên cứu về đạo đức Phật giáo từ góc độ văn hoá.
5
3. Về lịch sử Phật giáo Việt Nam và lịch sử Phật giáo Đàng trong
Nhóm công trình này giúp cho tác giả có cái nhìn khái quát về Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Huế và
những đóng góp của nó đối với sự phát triển đời sống tinh thần, xã hội TT Huế, đặc biệt phong trào Chấn
hưng Phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo đến công tác giáo dục thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo ở TT
Huế, thể hiện trên hai mảng tư liệu chính:
* Nghiên cứu về lịch sử Phật giáo
* Nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Đàng Trong và Phật giáo TT Huế.
4. Về giáo dục đạo đức Phật giáo cho tín đồ trẻ tuổi và mô hình GĐPT

- Nghiên cứu GĐPT ở giác độ lịch sử ra đời và phát triển với vai trò thực hiện tinh thần “nhập thế” của
Phật giáo Huế nhằm tập hợp, giáo dục thanh thiếu niên Phật giáo phụng đạo, nhưng chưa chú trọng nghiên
cứu dưới giác độ giáo dục học và đạo đức học nhằm kết hợp thêm vai trò các chủ thể giáo dục tích cực khác.
- Một số công trình nghiên cứu sâu về công tác đoàn kết tập hợp thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo
thông qua GĐPT để thực hiện chức năng là mô hình tu học, song cũng chỉ mới dừng lại ở giác độ công tác
thanh vận.
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thanh thiếu niên tín đồ TT Huế, Luận án xác định rõ đối
tượng, phạm vi tác động; làm rõ ưu thế và hạn chế cơ bản của GĐPT trong công tác giáo dục đạo đức thanh
7
thiếu niên tín đồ Phật giáo ở Huế, để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những ưu điểm của đạo
đức Phật giáo, nâng cao hiệu quả giáo dục, hiệu lực quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tôn giáo.
Với cách tiếp cận triết học-đạo đức tôn giáo, Luận án sẽ phân tích được một cách có căn cứ khoa học
về vai trò và ảnh hưởng của công tác giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo qua mô hình
GĐPT ở TT Huế nói riêng, Việt Nam nói chung. Qua đó sẽ có đánh giá khách quan, đúng mức hơn về công
tác giáo dục đạo đức cho tín đồ Phật giáo trẻ tuổi ngày nay.
Như vậy, nghiên cứu “Đạo đức Phật giáo với công tác giáo dục thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo TT
Huế hiện nay” có thể là một đóng góp có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho công tác giáo dục đạo đức trong bối
cảnh kinh tế thị trường và hội nhập ở nước ta hiện nay.
8
Chương 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
2.1. Một số vấn đề lý luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức tôn giáo
2.1.1. Mối quan hệ giữa đạo đức xã hội và đạo đức tôn giáo
Trên cơ sở kế thừa kết qủa những công trình đi trước, từ cách tiếp cận Mác-xít, tác giả đưa ra những
khái niệm về đạo đức, đạo đức Phật giáo và mối quan hệ giữa đạo đức xã hội với đạo đức tôn giáo để làm
sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức tôn giáo
Đạo đức tôn giáo không tồn tại độc lập và bất biến, nó là một sản phẩm xã hội đặc thù và chịu tác
động qua lại với các hệ tư tưởng ngoài nó cũng như bởi các điều kiện tồn tại kinh tế-xã hội cụ thể. Xét từ
trong mỗi tôn giáo, đạo đức tôn giáo là bộ phận cấu thành quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi

Tuy nhiên, nguyên thủy, Phật giáo trong triết lý của mình đã không thừa nhận một vị thần sáng tạo ra
vũ trụ và điều chỉnh nó. Vạn vật tự nhiên mà có, con người tồn tại không nhờ và không bị chi phối bởi sức
mạnh của một đấng siêu nhiên, thần thánh nào mà ngược lại con người phải tự giác, tự tâm phản tỉnh để
“thành Phật”.
Phật giáo cho rằng vũ trụ và vạn vật không phải do một đấng thiêng liêng nào tạo tác ra, mà do nhân duyên
hòa hợp mà thành (Duyên khởi). Thế giới không ngừng vận động, là một dòng biến hoá liên tục sinh sinh - diệt
diệt (vô thường), nhân duyên nối tiếp nhau (nhân-quả) vô thuỷ, vô chung. Bản chất của thế giới là Không - tức
không có cái gì cố định, bất biến. Theo đó bản chất đích thực của con người là Vô ngã.
Theo luật Vô thường, vạn vật đều vận động theo chu kỳ: “Sinh - Trụ - Dị - Diệt” hoặc “Thành - Trụ -
Hoại - Không” mà cụ thể ở con người là “Sinh - Lão - Bệnh - Tử”.
11
Thế giới quan có tính vô thần, biện chứng của Phật giáo là lập trường tư tưởng chống lại thần quyền
Bà La Môn giáo thời Ấn Độ cổ. Đây chính là nền tảng cơ bản quy định toàn bộ nhận thức luận và nhân sinh
quan cũng như đạo đức của Phật giáo.
2.2.2. Nhân sinh quan tiến bộ và độc đáo của Phật giáo
Nhân sinh quan tiến bộ của Phật giáo:
Vũ trụ quan biện chứng, vô thần là nền tảng cơ bản cho nhân sinh quan vô thần, bình đẳng, khoan dung tiến
bộ của Phật giáo. Xét cho cùng đó chính là khát vọng mà loài người hướng tới nhưng đồng thời đó cũng là điều
kiện tinh thần cần thiết để xây dựng hạnh phúc cho con người nơi trần gian, vì vậy chúng luôn đại diện cho tính tiến
bộ và nhân văn.
Thuyết Vô ngã chiếm vị trí đặc biệt trong nhân sinh quan Phật giáo. Đây là cơ sở để lập luận và phân
tích nguồn cội vô minh của mọi khổ đau: Chính là do chấp Hữu ngã mà nảy sinh tham, sân, si, ái, dục , do
chấp Hữu ngã mà tạo nghiệp và còn trong vòng luân hồi Khổ. Khi nhận thức được Vô ngã và không chấp
ngã thì con người tự chủ dứt nghiệp ác, tạo nghiệp thiện. Bởi vậy, Phật giáo chủ trương khổ là do chính
nghiệp mà mỗi người đã tự tạo tác và bị quy định vào đó. Giải thoát là sự nghiệp của chính mỗi người bằng
việc tích luỹ các nghiệp thiện và dứt bỏ hết các nghiệp ác. Mọi người đều bình đẳng với nhau trước nghiệp
và đều có thể tự giải thoát cho chính mình, không dựa vào sự cứu vớt của Phật hay bất kỳ thần thánh nào trên
con đường tới giải thoát.
Nhờ tư tưởng bình đẳng, khoan dung mà Phật giáo đã hòa nhập một cách thân thiện, hòa bình vào văn
hóa, đạo đức Việt Nam và những giá trị tiến bộ, độc đáo của Phật giáo vẫn còn vai trò tích cực góp phần

13
Nghiệp trong Giải thoát của Phật giáo hiểu đúng thì không phải là định mệnh bất di bất dịch. Mỗi
người tạo ra nghiệp cho chính mình, nhưng cũng chính mình giải thoát được nghiệp của chính mình. Vì vậy,
đạo đức Phật giáo luôn nhấn mạnh yếu tố tự giác tu dưỡng, tích thiện cho giải thoát.
2.3. Vai trò của đạo đức Phật giáo trong giáo dục đạo đức ngày nay
2.3.1. Đạo đức Phật giáo đề cao việc hoàn thiện đạo đức cá nhân
Đạo đức Phật giáo đặt trọng tâm vào con người cá nhân. Con người ở đây là chủ thể chịu trách nhiệm
về những hành vi (thân, khẩu, ý) thiện ác của chính mình, mà không qui tránh nhiệm cho thần thánh hay
đấng siêu nhiên nào.
Giáo lý “nhân quả”, “nghiệp báo” xác định rõ con người cá nhân là chủ nhân tác thành ra nghiệp, là kẻ
thừa hưởng các nghiệp của chính mình. Con người tu dưỡng đạo đức cá nhân và từ đó có thể làm thay đổi
cuộc sống cá nhân thừa hưởng thiện quả đó và theo đó thay đổi xã hội.
Đáng chú ý là đạo đức Phật giáo không áp đặt, trừng phạt mà chỉ hướng con người về với hệ quả của
“chính nó”, tự chịu trách nhiệm về nhận thức và hành động của cá nhân mình. Ý nghĩa này mang tính nhân bản,
trí tuệ và tích cực hơn hẳn các đạo đức tôn giáo thần quyền.
2.3.2. Phật giáo đề cao đạo đức gia đình và góp phần hoàn thiện đạo đức xã hội
Phật giáo là một tôn giáo xuất thế song đức Phật rất chú trọng tới đạo đức của tín đồ tại gia và coi gia
đình là cái khởi đầu cho các mối quan hệ đạo đức xã hội. Đức Phật đã dạy, trong gia đình con cái phải có bổn
phận với cha mẹ và chuẩn mực là đức hiếu hạnh, yêu thương, kính trọng; Ngược lại, cha mẹ phải có trách
nhiệm yêu thương, nuôi nấng, dạy dỗ con nên người. Các nguyên tắc ứng xử trong quan hệ vợ-chồng, cha
mẹ-con cái được xem là quan hệ đạo đức không thể thiếu của mỗi người dù là xuất gia hay tại gia.
Cùng với đạo đức cá nhân, gia đình đức Phật còn chú ý tới các chuẩn mực đạo đức trong các quan hệ
cộng đồng, xã hội, quốc gia như: quan hệ vua tôi, thầy trò, bạn bè, chủ tớ, thân quyến và coi đó là điều kiện
quan hệ đạo đức để bồi dưỡng, hoàn thiện đạo đức cá nhân.
14
Phật giáo thực sự có quan niệm tiến bộ về mối quan hệ giữa người và người và những tiêu chí ấy phù hợp với
đạo đức xã hội hiện nay. Đạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp với phát triển tâm lý về tình cảm của
dân tộc Việt: Từ gần đến xa, từ trong gia đình đến bạn bè, thầy cô, trường học; từ làng xã lan rộng ra đến đất nước và
mở rộng ra cuộc sống mọi người ngoài xã hội và rộng lớn hơn là toàn nhân loại.
2.3.3. Đạo đức Phật giáo góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường

xây dựng niềm tin hư ảo ở Niết Bàn. Đây là chỗ mâu thuẫn với tinh thần giải thần quyền, có tính vô thần của
Phật giáo. Đó là cơ sở để Phật giáo đưa ra phương châm xây dựng xã hội lý tưởng bằng đạo đức từ bi, bác ái
trong xã hội bất bình đẳng, có đối kháng giai cấp một cách ảo tưởng. Quan niệm này có thể làm nảy sinh tâm
trạng buông xuôi, lánh đời, làm ngơ trước bất công xã hội, bàng quan với cuộc sống thực tại.
Mặt trái của quan niệm nhân quả“ai làm nấy chịu” dễ dẫn tới thái độ không đấu tranh với cái ác, cái xấu
thậm chí để mất quyền bảo vệ thân thể, tính mạng, danh dự mình, mà ở một góc độ nhất định lại là sự tiếp tay,
đồng lõa với cái ác. Quan niệm này có lúc đề cao hạnh phúc ở kiếp tương lai và dễ rơi vào tiêu cực “nhẫn nhục”,
an phận, thủ thường trước mọi nghịch cảnh. Do tin vào “nhân quả”, “nghiệp” nên tín đồ Phật giáo dễ bằng lòng
với những gì đang có, mà hệ quả thứ nhất là thủ tiêu ý thức đấu tranh đối với sai trái, tiêu cực của xã hội; hệ quả
thứ hai là hình thành thói an phận, thủ thường và triệt tiêu ý thức, nhu cầu, khát vọng vươn lên trong cuộc sống
cho bản thân và xã hội.
Giới “bất sát” có ý nghĩa giáo dục lòng nhân ái, bảo vệ sự sống muôn loài nhưng cần phải điều chỉnh vì từ
góc độ khoa học dinh dưỡng, đối với lứa tuổi thanh thiếu niên lại cần nhiều dinh dưỡng (có thịt) để tăng trưởng
16
thể xác và tinh thần. “Bất sát” còn có ý nghĩa “bất bạo động” song khuynh hướng cực đoan đã thậm chí dẫn đến
tự thiêu!
“Vô chấp”,“nhẫn nhục” của Phật giáo dễ dẫn tới thiếu nhạy cảm trước môi trường cạnh tranh cao, đòi
hỏi sự năng động và thích ứng nhanh của cơ chế thị trường.
Cách sống bao dung nhưng tĩnh tại, ít thay đổi có mặt trái là chậm thích nghi với cuộc sống hiện đại
đang đòi hỏi tính chủ động và năng động cao.
Mặt trái của phương thức giải thoát có tính cá nhân là thiên về nỗi khổ tinh thần cá nhân, ít quan tâm
đến nhu cầu về số lượng và chất lượng cuộc sống vật chất, nhưng do vậy mà thiếu động lực phát triển. Vì
vậy có lúc, có nơi, hoài bão giải phóng con người chỉ là giải pháp về mặt tinh thần, dễ rơi vào duy tâm, phiến
diện, không nhìn sự vật hiện tượng một cách khách quan. Thực sự nỗi khổ của con người không chỉ có
nguồn gốc chủ quan (tham, sân, si) mà còn các nguồn gốc xã hội khác (kinh tế, chính trị, văn hóa), nên muốn
thoát khổ con người phải cải tạo tự nhiên xã hội, chống lại áp bức, bất công xã hội. Do vậy, nếu bỏ qua hay
không chú ý nhiều đến cái khổ về mặt vật chất, cái khổ do khách quan bên ngoài đưa lại cũng đồng nghĩa là
ít quan tâm đến việc làm thế nào cho của cải vật chất ngày càng phong phú để phục vụ cuộc sống con người.
17
Chương 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status