DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DN : Doanh nghiệp
ĐKDN : Đăng ký doanh nghiệp
ĐKKD : Đăng ký kinh doanh
Giấy CNĐKDN : Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
GPKD : Giấy phép kinh doanh
HĐND : Hội đồng nhân dân
MTKD : Môi trường kinh doanh
NĐT : Nhà đầu tưECD : Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế
PLDN : Pháp luật doanh nghiệp
QLNN : Quản lý nhà nước
TNHH : Tráchệm hữu hạc hành chính
VAT : Thuế giá trị gia tăng
VCCI : Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
WB : Ngân hàng thế giới
WEF : Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
DN : Doanh nghiệp
ĐKDN : Đăng ký doanh nghiệp
ĐKKD : Đăng ký kinh doanh
Giấy CNĐKDN : Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
GPKD : Giấy phép kinh doanh
HĐND : Hội đồng nhân dân
MTKD : Môi trường kinh doanh
NĐT : Nhà đầu tư
OECD : Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế
PLDN : Pháp luật doanh nghiệp
QLNN : Quản lý nhà nước
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TTHC : Thủ tục hành chính
VAT : Thuế giá trị gia tăng
VCCI : Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
WB : Ngân hàng thế giới
WEF : Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cải cách TTHC là một trong số giải pháp cơ bản nhất để hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh
doanh, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp và tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN ở
Việt Nam thời kỳ hội nhập. Tiến trình cải cách TTHC đó không thể tách rời với sự hoàn thiện PLDN,
vì quy định PLDN đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cải cách TTHC và tác
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu đề tài Pháp luật doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách thủ tục hành
chính ở Việt Nam với nội dung nghiên cứu được giới hạn ở quy định PLDN về thủ tục thành lập, tổ
chức lại và giải thể doanh nghiệp. Luận án không nghiên cứu quy định PLDN điều chỉnh tổ chức
quản trị và hoạt động của doanh nghiệp không liên quan đến TTHC đối với doanh nghiệp.
Luận án không nghiên cứu toàn bộ TTHC đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực thuế, hải quan,
đất đai, lao động, nhà ở, quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành. Ngoài ra, việc tìm
hiểu, phân tích, đánh giá doanh nghiệp ở góc độ kinh tế, không liên quan đến pháp luật điều chỉnh
doanh nghiệp cũng nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của Luận án.
Luận án không nghiên cứu các quy định pháp luật chuyên ngành, pháp luật đầu tư điều chỉnh
việc thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp. Chỉ những doanh nghiệp được thành lập, tổ chức
lại và giải thể theo quy định tại Luật DN 2005 mới là đối tượng được nghiên cứu trong nội dung Luận
án. Việc thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý, tiền tệ – ngân
hàng, chứng khoán, bảo hiểm, y tế, giáo dục…chịu sự điều chỉnh của các Luật chuyên ngành cũng
không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án.
Luận án chỉ nghiên cứu quy định PLDN về thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể đối với
doanh nghiệp bao gồm công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân,
không nghiên cứu thủ tục thành lập, tổ chức lại, giải thể đối với HTX và hộ kinh doanh.
4. Điểm mới của Luận án
Luận án nghiên cứu đề tài Pháp luật doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách thủ tục hành
chính ở Việt Nam là sự kế thừa và bổ sung cho các công trình nghiên cứu trên với mục đích phục vụ
cho việc hoàn thiện MTKD và nâng cao hiệu quả cải cách TTHC ở Việt Nam. So với các công trình
nghiên cứu khoa học đã công bố trước đó, nội dung của Luận án có một số điểm mới cơ bản sau :
Thứ nhất, Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên giải quyết các vấn đề lý luận cơ bản về mối
quan hệ giữa quy định PLDN với cải cách TTHC ở Việt Nam. Luận án phân tích các nguyên tắc của
quy định PLDN về TTHC, nội dung PLDN về TTHC, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của
PLDN về TTHC, nêu lên sự cần thiết để Việt Nam tiến hành cải cách TTHC đối với doanh nghiệp và
các mục tiêu đạt được từ cải cách TTHC đó. Đây là những nội dung quan trọng được Luận án nghiên
cứu và chưa được giải quyết ở nhiều công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước trước đó.
Thứ hai, Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên đánh giá toàn diện những thành công và hạn
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trước và sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, đã có nhiều công trình
nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng MTKD, thực trạng PLDN và QLNN liên quan đến thủ tục
thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp ở VN và nước ngoài. Tuy nhiên, dù có những sự khác
biệt nhất định về kinh tế, chính trị, quan điểm pháp lý ở các quốc gia, song việc nghiên cứu đề tài có
nội dung luận bàn về PLDN và vấn đề cải cách TTHC đối với doanh nghiệp đã được các nhà khoa
học, các tổ chức phi chính phủ có uy tín cao khảo sát, đánh giá một cách nghiêm túc và có giá trị
khoa học cao. Các công trình nghiên cứu đều có điểm thống nhất chung ở chỗ : thừa nhận vai trò của
các quy định pháp luật về TTHC đối với doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến môi trường đầu tư, kinh
doanh, đến hiệu quả của chính sách thu hút đầu tư của một quốc gia, cải cách TTHC và quyền tự do
kinh doanh của doanh nghiệp. Các chương trình cải cách TTHC đối với doanh nghiệp dù có khác
nhau về cách thức tiến hành nhưng đều hướng đến đảm bảo cho việc thành lập và hoạt động của
doanh nghiệp ngày càng thuận lợi và ít tốn kém hơn
- Hầu hết công trình nghiên cứu đều xác định các quy định pháp luật về TTHC đối với doanh
nghiệp luôn có mặt tích cực và hạn chế tác động đến MTKD, quyền tự do kinh doanh của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, việc đưa ra các giải pháp để hoàn thiện MTKD, hoạt động QLNN đảm bảo quyền
tự do kinh doanh của doanh nghiệp ở mỗi công trình nghiên cứu đều có cách nhìn nhận khác nhau,
chưa thống nhất phụ thuộc vào tình hình chính trị, kinh tế cụ thể của từng quốc gia và góc nhìn của
các tác giả cũng có sự khác biệt khá lớn.
- Việc hoàn thiện quy định pháp luật về TTHC đối với doanh nghiệp được các tác giả nêu ra
theo hai xu hướng : Dưới góc độ QLNN, hoàn thiện quy định về TTHC nhằm đảm bảo tăng cường
hiệu lực, hiệu quả QLNN và chức năng điều tiết của nhà nước đối với doanh nghiệp. Đặc biệt, sau sự
kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu, người ta lại cần sự can thiệp mạnh mẽ hơn của nhà nước để hạn
chế các khuyết tật thị trường phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp. Dưới góc độ bảo vệ quyền lợi
ảnh hưởng đến cải cách TTHC ở Việt Nam.
- Chưa làm rõ thực trạng quy định pháp luật về ứng dụng công nghệ thông tin trong thủ tục
ĐKDN, cấp phép kinh doanh, giải thể doanh nghiệp cũng như mối quan hệ giữa cơ quan ĐKKD với
cơ quan cấp phép kinh doanh, cơ quan thuế vẫn còn bỏ ngỏ
6
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP, THỦ TỤC HÀNH
CHÍNH TRONG PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ CẢI CÁCH THỦ
TỤC HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.1 Khái niệm, đặc điểm và những nội dung cơ bản của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật doanh nghiệp
Hiểu theo nghĩa rộng, PLDN bao gồm tất cả QPPL được quy định trong các văn bản QPPL do
nhà nước ban hành điều chỉnh doanh nghiệp. Hiểu theo nghĩa này, PLDN có nội hàm rất rộng, bao
gồm các QPPL được quy định tại Luật DN, văn bản dưới luật thi hành Luật DN và tại các văn bản
QPPL khác như Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật Kiểm toán độc lập,
Luật Luật sư, Luật Khám chữa bệnh, Luật Xuất bản quy định việc thành lập, tổ chức quản lý, hoạt
động của doanh nghiệp, được gọi chung là PLDN. Ngược lại, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, PLDN chỉ bao
gồm các QPPL được quy định tại Luật DN và văn bản dưới luật thi hành Luật DN điều chỉnh việc
thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Từ định nghĩa PLDN nêu trên, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của PLDN như sau :
Thứ nhất, PLDN là một bộ phận cấu thành của pháp luật kinh tế, là một chế định pháp luật quan
trọng của ngành luật kinh tế, do đó mức độ hoàn thiện của PLDN có ảnh hưởng đến mức độ hoàn
thiện của hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.
Thứ hai, nội dung PLDN có chứa đựng các QPPL quy định về TTHC đối doanh nghiệp, đó là
thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp, phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước với
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 63/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 08
tháng 06 năm 2010 về kiểm soát thủ tục hành chính thì TTHC được hiểu là trình tự, cách thức thực
hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết
một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức.
Còn TTHC đối với doanh nghiệp được hiểu là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu,
điều kiện phát sinh trong quá trình thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp được quy định tại
PLDN.
2.2.2. Đặc điểm của thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp
Từ định nghĩa trên, có thế rút ra những đặc điểm của TTHC đối với doanh nghiệp sau :
- Thứ nhất, TTHC đối với doanh nghiệp được quy định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Thứ hai, TTHC đối với doanh nghiệp là những thủ tục được quy định tại Luật DN 2005 và các
văn bản dưới luật thi hành Luật DN 2005.
- Thứ ba, TTHC đối với doanh nghiệp là cách thức, trình tự, hồ sơ, yêu cầu và điều kiện nhà
nước quy định, thể hiện tính quyền lực của nhà nước đối với doanh nghiệp.
- Thứ tư, đối tượng áp dụng của TTHC tại PLDN là các doanh nghiệp.
2.2.3. Nội dung của thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp
Nội dung của TTHC đối với doanh nghiệp là các bộ phận cấu thành TTHC do nhà nước quy
định áp dụng cho doanh nghiệp khi thành lập, tổ chức lại và giải thể, bao gồm các bộ phận sau:
- Tên TTHC
- Đối tượng áp dụng của TTHC
8
- Trình tự thực hiện
- Cách thức thực hiện
- Hồ sơ
- Thời hạn giải quyết TTHC
- Kết quả thực hiện TTHC
- Cơ quan thực hiện TTHC
2.3. Quy định pháp luật doanh nghiệp về thủ tục hành chính
PLDN về TTHC được phân thành 3 nhóm cơ bản sau :
:
- Các quy định PLDN về các trường hợp giải thể doanh nghiệp
- Các quy định PLDN về thủ tục giải thể doanh nghiệp
- Các quy định PLDN về thẩm quyền của cơ quan QLNN có trách nhiệm giải quyết thủ tục giải
thể cho doanh nghiệp.
- Các quy định PLDN về điều kiện giải thể.
2.4. Các nguyên tắc quy định về thủ tục hành chính trong pháp luật doanh nghiệp và các
tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của quy định pháp luật doanh nghiệp về thủ tục hành
chính đối với doanh nghiệp
2.4.1 Các nguyên tắc quy định về thủ tục hành chính trong pháp luật doanh nghiệp
Quy định PLDN về TTHC phải tuân thủ 5 nguyên tắc sau :
Một là, quy định về TTHC phải đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện đối với doanh nghiệp.
Hai là, quy định về TTHC phải phù hợp với mục tiêu quản lý hành chính nhà nước.
Ba là, phải bảo đảm quyền bình đẳng cho doanh nghiệp khi thực hiện TTHC.
Bốn là, phải tiết kiệm được thời gian và chi phí cho doanh nghiệp và cơ quan hành chính nhà
nước trong quá trình thực thi và giải quyết TTHC cho doanh nghiệp.
Năm là, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ của quy định về TTHC.
2.4.2. Các tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thiện của quy định pháp luật doanh nghiệp về
thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp
Để đánh giá mức độ hoàn thiện của PLDN về TTHC phải dựa trên 4 tiêu chí sau :
- Tính tính phù hợp
- Tính hợp lý
- Tính hợp pháp
- Tính minh bạch
2.5. Mối quan hệ giữa quy định pháp luật doanh nghiệp về thủ tục hành chính và cải cách
thủ tục hành chính ở Việt Nam
PLDN về TTHC tác động đến cải cách TTHC ở Việt Nam ở những nội dung sau :
- Thứ nhất, PLDN về TTHC đóng vai trò ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả cải cách TTHC ở
Việt Nam. Có thể nói, cải cách TTHC trong lĩnh vực kinh tế phụ thuộc vào sự hoàn thiện của PLDN
2
Về phần nhà nước Việt Nam, Quyết định 339/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban
hành ngày 19 tháng 02 năm 2013 về phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế giai đoạn 2013- 2020
đã đề ra 10 giải pháp cơ bản để tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam, trong đó giải pháp ưu tiên hàng đầu
là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh
của MTKD quốc gia. Chính phủ giao nhiệm vụ cho Bộ Kế hoạch & Đầu tư chủ trì, phối hợp với các
Bộ, cơ quan, địa phương rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách về MTKD theo hướng:
3
Tháo bỏ rào cản, bãi bỏ hoặc bổ sung, sửa đổi các quy định lạc hậu, không phù hợp với cơ chế thị
trường; tiếp tục đơn giản hóa, giảm TTHC; giảm chi phí thực thi TTHC và pháp luật đối với nhân dân
và doanh nghiệp; không xây dựng, ban hành các quy định cấm hoặc hạn chế quyền kinh doanh của
1
Xem : Đảng Cộng sản Việt Nam : “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
2011, trang 106
2
Xem : Đảng Cộng sản Việt Nam : “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
2011, trang 247
3
Xem : Điểm b và Điểm e Mục II.1 Quyết định 339/2013/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 19 tháng 02
năm 2013
11
người dân và doanh nghiệp vì lý do yếu kém về năng lực và trình độ quản lý của các cơ quan
QLNN liên quan; khắc phục tình trạng ban hành quy định mới không bảo đảm tính khả thi, không
thực hiện được hoặc thực hiện không hiệu quả, gây tổn hại đến lợi ích của nhân dân và doanh nghiệp.
2.6.2. Cải cách thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp nhằm thực hiện các cam kết quốc tế
Việt Nam đã ký kết hoặc phê chuẩn trong quá trình hội nhập.
6
Để đẩy lùi vấn nạn tham nhũng, giải pháp quan trọng là
4
Xem : Mục 2 và Mục 3 Nghị quyết 71/2006/NQ-QH do Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006
5
Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải rà soát và sửa đổi khoảng 148 quy định pháp lí, bao gồm các luật, pháp lệnh, nghị
định và một số lượng lớn các Thông tư, các quyết định của các Bộ trưởng và Chủ tịch các tỉnh (Trích từ bài viết của Lê
Đăng Doanh – Những thay đổi căn bản được mong đợi về chính sách và MTKD liên quan đến việc gia nhập WTO của
Việt Nam được trình bày trong quyển “Các doanh nghiệp Việt Nam với việc gia nhập WTO” do GS.TS Đỗ Hoài Nam chủ
biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2005, trang 46)
6
Có thể tru cập tại www.cafef.vn, thứ sáu ngày 21/03/2014
12
nhà nước phải tiến hành cải cách TTHC đối với doanh nghiệp,
7
vì TTHC thông thoáng, minh
bạch sẽ giúp kéo giảm tệ tham nhũng, kích thích doanh nghiệp đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
2.7. Mục tiêu của cải cách thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp ở Việt Nam
Cải cách TTHC đối với doanh nghiệp là quá trình lâu dài, phức tạp nhưng phải hướng đến
những mục tiêu cơ bản sau :
Một là, phải củng cố và mở rộng được quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cơ hội
cho doanh nghiệp gia nhập thị trường và hoạt động kinh doanh thuận lợi hơn, tạo chất xúc tác cần
thiết để khuyến khích NĐT bỏ vốn đầu tư, kinh doanh vào nền kinh tế.
Hai là, hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước, hướng đến xây dựng nền hành chính nhà nước
trong sạch, vững mạnh ở Việt Nam, giúp giảm chi phí tài chính cho nhà nước trong hoạt động quản lý
doanh nghiệp, chấn chỉnh công tác nhân sự, khắc phục được tình trạng cồng kềnh của bộ máy nhà
nước, nêu cao tinh thần trách nhiệm của công chức nhà nước giải quyết TTHC cho doanh nghiệp,
phòng ngừa tình trạng tham nhũng trong bộ máy hành chính nhà nước.
ĐKKD và 7 ngày để cấp phép thành lập chi nhánh, VPĐD của doanh nghiệp. Chính cải cách thủ tục
ĐKDN trên đã tạo động lực cho NĐT gia nhập thị trường. Ngay trong năm 2010, cả nước đã có
85.000 doanh nghiệp thành lập mới.
9
Năm 2013 có 76.955 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 10,1%
so với năm 2012.
10
Trong 02 tháng đầu năm 2014, đã có 10.869 doanh nghiệp được thành lập mới với
tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2013.
11
- Thứ hai, PLDN quy định
công nghệ hóa thủ tục ĐKDN tại một đầu mối
Nghị định 43/2010/NĐ-CP cho phép NĐT có thể ĐKDN bằng hồ sơ điện tử qua Cổng thông tin
ĐKDN quốc gia - có giá trị pháp lý như hồ sơ bằng bản giấy.
12
Ngoài ra, NĐT có thể nhận giấy
chứng nhận ĐKDN qua dịch vụ chuyển phát hoặc nhận tại cơ quan ĐKKD. Giấy chứng nhận ĐKDN
được lưu dưới dạng dữ liệu điện tử trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN có giá trị pháp lý như giấy
chứng nhận ĐKDN bằng bản giấy do cơ quan ĐKKD cấp. Như vậy, sự phân biệt giấy chứng nhận
ĐKDN bằng giấy và bằng dữ liệu điện tử đã không còn, giúp NĐT có thể online 100% khi thành lập
doanh nghiệp, tiết kiệm được thời gian, chi phí cho NĐT và tăng cường hiệu quả QLNN bằng công
nghệ cao phù hợp với xu thế chung của thế giới.
8
Xem : Phạm Chi Lan “Phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, số 2+3
(122 + 123), 2007
9
Nguồn : Cục Quản lý ĐKKD (Bộ Kế hoạch & Đầu tư) có thể truy cập tại www.dangkykinhdoanh.gov.vn
cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp
Trong quy định về GPKD, PLDN có hai cải cách quan trọng :
Một là, đã giới hạn thẩm quyền quy định về điều kiện kinh doanh và GPKD. Điều 7 Luật DN
2005 và Điều 8 Nghị định 102/2010/NĐ-CP đã xác định ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều
kiện kinh doanh áp dụng theo các quy định của các luật, pháp lệnh, nghị định chuyên ngành hoặc
quyết định có liên quan của Thủ tướng Chính phủ. Các quy định về loại ngành, nghề kinh doanh có
điều kiện và điều kiện kinh doanh đối với ngành nghề đó tại các văn bản QPPL khác đều không có
hiệu lực thi hành. Việc giới hạn thẩm quyền quy định về điều kiện kinh doanh và GPKD nêu trên sẽ
giúp nhà nước kiểm soát từ đầu việc hình thành GPKD, giảm đầu mối đặt ra điều kiện cấp phép kinh
doanh, giảm cơ chế xin – cho trong công tác cấp phép, tiết kiệm cho doanh nghiệp chi phí thành lập
và hoạt động, góp phần nâng cao hiệu quả QLNN, hạn chế tư tưởng cục bộ ngành, địa phương gây
phương hại đến quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.
Hai là, tính đến thời điểm năm 2009, Việt Nam đã bỏ được 316 GPKD và chuyển 44 giấy phép
khác thành điều kiện kinh doanh, đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp.
14
Năm 2010, Chính phủ đã
ban hành 25 Nghị quyết về phê duyệt phương án đơn giản hóa TTHC thuộc phạm vi quản lý của bộ,
13
Ưu điểm nổi bật của hệ thống này là Cơ sở dữ liệu trung tâm, bất kỳ Phòng ĐKKD cấp tỉnh nào cũng có thể truy cập
vào cơ sở dữ liệu này để lưu thông tin ĐKDN của tỉnh đó. Thông tin chỉ có thể được lưu giữ và chỉnh sửa bởi chính
Phòng ĐKKD đó, nhưng tất cả các Phòng ĐKKD các địa phương khác đều có thể truy cập và tra cứu thông tin của một
DN trên phạm vi cả nước. (Giải thích của Bộ Kế hoạch & Đầu tư đăng trên Báo Đầu tư số ra ngày 22/05/2010.)
14
Xem : Hà Quang Ngọc : “Cải cách thủ tục hành chính từ khi Việt Nam gia nhập WTO”, Tạp chí Cộng sản số 3 (171),
2009.
15
ngành đã loại bỏ thêm một số GPKD không cần thiết đối với doanh nghiệp. Năm 2013, thực hiện
Luật Đầu tư 2005 chỉ cần điều chỉnh việc cấp giấy chứng nhận đầu tư, thực tế lại điều chỉnh cả việc
cấp giấy chứng nhận ĐKDN cho doanh nghiệp, dẫn đến sự chồng chéo chức năng giữa cơ quan
ĐKKD và cơ quan quản lý đầu tư, làm phát sinh nhiều vướng mắc về thủ tục bổ sung, sửa đổi nội
dung ĐKDN trong giấy chứng nhận đầu tư như tên gọi, địa chỉ trụ sở chính, người đại diện theo pháp
luật,… gây rối cho cả cơ quan QLNN lẫn NĐT.
15
Nguồn : www.doingbusiness.org/data/exploreeconomies/vietnam#starting-a-business, 2014
16
Xem : Khoản 1 Điều 50 Luật Đầu tư 2005
16
- Thứ tư, pháp luật về giấy phép kinh doanh còn gây khó doanh nghiệp
Một là, GPKD còn nhiều. Theo thống kê của VCCI, tính đến đến thời điểm 03/2010, cả nước có
315 GPKD.
17
So với số GPKD bị bãi bỏ hoặc chuyển thành điều kiện kinh doanh, số lượng GPKD
còn lại khoảng 250 là hợp lý, thực tế có hơn 300 giấy phép. Điều đó chứng tỏ một số lớn GPKD bằng
nhiều phương thức khác nhau đã “hồi sinh”, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tự do kinh doanh
của doanh nghiệp và cải cách TTHC ở Việt Nam. Theo thống kê của VCCI, một doanh nghiệp cần
bình quân 4,14 GPKD các loại, 14,56% doanh nghiệp đánh giá rất khó để có đủ các loại giấy phép
này.
18
Trong nội dung một số văn bản QPPL ban hành gần đây có xu hướng khôi phục lại GPKD, về
thực chất đang làm sống lại cơ chế xin – cho trong cơ chế bao cấp trước đây.
19
Ví dụ, trước năm
2012, thành lập doanh nghiệp kiểm toán theo quy định tại Nghị định 105/2004/NĐ-CP chỉ cần
ĐKKD, không xin cấp phép kinh doanh tại Bộ Tài chính. Kết quả đã có 161 doanh nghiệp kiểm toán
trong đầu tư” , Tạp chí Tổ chức nhà nước,
03/2010.
18
Nguồn : có thể truy cập tại www.vneconomy.vn, thứ ba, ngày 25/09/2007
19
Xem : Nguyễn Thị Doan : “Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay” Bài viết đăng trong Kỷ
yếu hội thảo khoa học “Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam : Lý luận và Thực tiễn” do GS.TS Lê Hữu Nghĩa
và TS. Đinh Văn Ân (đồng chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004, trang 595
20
Xem : Tờ trình của Chính phủ về Dự thảo Luật Kiểm toán độc lập, 04/2010, Mục A.I
21
Xem : Điều 23 Luật Kiểm toán độc lập 2011, có hiệu lực thực thi từ ngày 01-01-2012
22
Xem : Anthony Ogus và Qing Zhang : “Licensing regimes East and West”, International Review of Law and
Economics, số 25, 2005, trang 139.
23
Xem : Điều 4 và Điều 12 Nghị định 109/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 04/11/2010, có hiệu lực từ ngày 01
tháng 01 năm 2011
24
Xem : Báo Thanh niên số 222 (5709), thứ tư ngày 10/08/2011, trang 4
25
Xem : W.D.White : “Dynamic elements of regulation : The case of occupational licensure”, Research in Law and
Economics, số 1, 1979, trang 15
17
Ba là, sự thiếu rõ ràng trong quy định về điều kiện kinh doanh.
Khoản 2 Điều 8 Nghị định 102/2010/NĐ-CP liệt kê 7 hình thức của các điều kiện kinh doanh,
trong đó hình thức thứ 6 và thứ 7 lại được quy định có tính đa nghĩa : “Chấp thuận khác của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền”
26
trường hợp nộp qua đường bưu điện), bản chụp bằng máy scan (đối với trường hợp nộp qua mạng
internet). Ngoài ra, trong hồ sơ chuyển đổi, danh sách người đại diện theo ủy quyền đối với công ty
26
Xem : Điểm e Khoản 2 Điều 8 Nghị định 102/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 01/10/2010
27
Xem : Điềm g, Khoản 2 Điều 8 Nghị định 102/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 01/10/2010
28
Xem : Phạm Thị Hiền : “Bàn về các quy định cấp phép cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mở cơ sở bán lẻ tại
Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (284), 2011, trang 45
18
TNHH một thành viên quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP và hợp đồng chuyển nhượng
phần vốn góp của công ty cũng được loại bỏ, giúp thủ tục chuyển đổi nhanh chóng hơn.
- Đối với thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty TNHH : Nghị quyết
70/2010/NQ-CP đã loại bỏ các loại giấy tờ sau ra khỏi thành phần hồ sơ chuyển đổi mà nếu áp dụng
theo Nghị định 43/2010/NĐ-CP và Nghị định 102/2010/NĐ-CP buộc doanh nghiệp phải có : (1)
Danh sách chủ nợ và số nợ chưa thanh toán, danh sách người lao động hiện có; danh sách các hợp
đồng chưa thanh lý. (2) Văn bản thỏa thuận với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty
TNHH chuyển đổi tiếp nhận và thực hiện các hợp đồng đó. (3) Văn bản cam kết của chủ doanh
nghiệp tư nhân hoặc thỏa thuận giữa chủ doanh nghiệp tư nhân và các thành viên góp vốn khác về
việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp.
29
3.2.2. Những hạn chế của pháp luật doanh nghiệp về thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp.
Một là, việc quy định các công ty cùng loại mới được sáp nhập, hợp nhất là chưa phù hợp với
thực tế Việt Nam, thể hiện sự can thiệp vào quyền tự chủ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và
không phù hợp với nguyên tắc tự do kinh doanh của kinh tế thị trường. Ở Trung Quốc, họ cho phép
các công ty được sáp nhập với nhau, không nhất thiết phải công ty cùng loại như ở Việt Nam.
30
nội dung sau :
Một là, từ ngày 15/11/2010 thực thi Điều 40 Nghị định 102/2010/NĐ-CP, doanh nghiệp chỉ cần
nộp cho cơ quan ĐKKD giấy xác nhận của cơ quan công an về huỷ con dấu và xác nhận của cơ quan
thuế về việc hoàn thành nghĩa vụ thuế, thay cho quy định trước đây tại Nghị định 139/2007/NĐ-CP
buộc doanh nghiệp nộp cho cơ quan ĐKKD con dấu, giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu, số hoá đơn
VAT chưa sử dụng và giấy chứng nhận đăng ký thuế. Với sự điều chỉnh lại nêu trên tại Nghị định
102/2010/NĐ-CP đã giúp thủ tục giải thể doanh nghiệp được thông suốt hơn.
Hai là, Khoản 3 Điều 8c Nghị định 05/2013/NĐ-CP cho phép doanh nghiệp từ ngày 25/02/2013
được công khai quyết định giải thể trên Cổng thông tin ĐKDN quốc gia, thay vì phải đăng báo viết
hoặc báo điện tử, góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp giải thể, đảm bảo QLNN hiệu quả hơn.
Ba là, PLDN giao quyền chủ động thanh lý tài sản cho doanh nghiệp giải thể. Tiến độ giải thể
doanh nghiệp nhanh hoặc chậm phụ thuộc vào tiến độ thanh lý tài sản của doanh nghiệp trước các
chủ nợ và đối tác, nhà nước không can thiệp vào việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Trách nhiệm
của cơ quan ĐKKD chỉ làm thủ tục kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ giải thể theo quy định tại Luật DN
2005 và Nghị định 102/2010/NĐ-CP, sau đó ra quyết định xóa tên doanh nghiệp trong sổ ĐKDN.
3.3.2 Những hạn chế của PLDN về thủ tục giải thể doanh nghiệp
Hiện nay, thủ tục giải thể doanh nghiệp gặp một số vướng mắc, bất cập sau :
Chưa quy định thời hạn để cơ quan thuế xác nhận quyết toán thuế
Luật DN 2005 và Nghị định 102/2010/NĐ-CP chưa quy định cụ thể thời hạn để cơ quan thuế
xác nhận quyết toán thuế cho doanh nghiệp. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp đã thông qua quyết định giải
thể, gửi thông báo quyết định giải thể đến cơ quan ĐKKD, nhưng khi nộp hồ sơ quyết toán thuế đến
cơ quan thuế bị bị ách tắc kéo dải ảnh hưởng bất lợi đến doanh nghiệp.
Thủ tục giải thể chưa được hiện đại hóa
Luật DN 2005 và Nghị định 102/2010/NĐ-CP quy định doanh nghiệp giải thể nộp hồ sơ giấy tại
cơ quan ĐKKD và phải trực tiếp liên hệ với các cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội, công an để giải quyết
thủ tục quyết toán thuế, bảo hiểm xã hội và thủ tục hủy con dấu doanh nghiệp. Các công đoạn trên
đến nay vẫn chưa được tin học hóa gắn kết cơ quan ĐKKD với cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội và cơ
quan công an, gây mất nhiều thời gian và công sức cho doanh nghiệp, không phù hợp với yêu cầu cải
cách TTHC.
32
Thứ hai, tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi luật pháp, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và
minh bạch giữa doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
33
32
Xem : Đảng Cộng sản Việt Nam : “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI” Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
2011, trang 107 và 108.
33
Xem : Đảng Cộng sản Việt Nam : “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI” Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
2011, trang 108
21
4.1.3 Phải dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm xây dựng pháp luật
doanh nghiệp về thủ tục hành chính.
Hoàn thiện PLDN phải tiếp thu những bài học kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu khoa học đi
trước đã đúc kết trong các công trình nghiên cứu. Các sai lầm, những tồn tại, hạn chế của PLDN thể
hiện trong các quy định TTHC không phù hợp, không đồng bộ đối với doanh nghiệp cần phải được
loại trừ. Ngược lại, các giải pháp có tính khả thi cao, phù hợp với thực tại kinh tế Việt Nam, đảm bảo
tính thống nhất của PLDN về TTHC cần được tiếp thu nghiêm túc để hình thành các đề xuất, giải
pháp khoa học hoàn thiện PLDN trong thời gian tới.
4.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành
chính và hội nhập quốc tế ở Việt Nam.
Việc hoàn thiện PLDN nhằm phục vụ thiết thực cho cải cách TTHC và hội nhập quốc tế ở Việt
Nam phải hướng tới các đảm bảo sau :
4.2.1 Đảm bảo thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân và doanh nghiệp
22
việc hoàn thiện quy định về thủ tục thành lập doanh nghiệp và TTHC liên quan đến mở cửa thị
trường cho các NĐT nước ngoài tham gia góp vốn, mua cổ phần tại doanh nghiệp Việt Nam theo
đúng lộ trình cam kết hội nhập phải được ưu tiên hàng đầu. Để thực hiện được yêu cầu này, Việt Nam
cần cải thiện chất lượng công tác xây dựng pháp luật trong nước, loại bỏ quy định về TTHC vướng
mắc, gây trở ngại cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, không phù hợp với xu thế hội
nhập.
4.3 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục
hành chính và hội nhập quốc tế ở Việt Nam.
4.3.1. Hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp về thủ tục thành lập doanh nghiệp
- Thứ nhất, mở rộng thủ tục ĐKDN cho doanh nghiệp do pháp luật chuyên ngành điều chỉnh
Sửa đổi Khoản 1 Điều 3 Nghị định 43/2010/NĐ-CP theo hướng : “ĐKDN, hợp tác xã bao gồm
nội dung ĐKKD và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã thành lập theo quy
định của Luật DN, Luật Hợp tác xã, Luật chuyên ngành và pháp luật khác có liên quan” thay thế cho
thuật ngữ “ĐKDN chỉ áp dụng cho doanh nghiệp theo Luật DN” tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP. Vì
với quy định hiện hành tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP đã bỏ sót nhiều doanh nghiệp mà pháp luật
chuyên ngành quy định phải ĐKDN, gây lúng túng cho cơ quan ĐKKD khi giải quyết thủ tục ĐKDN
đối với các doanh nghiệp này trên thực tế.
Thứ hai, quy định thủ tục ĐKDN mang tính bắt buộc đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp
trong nền kinh tế
Theo đó, tất cả doanh nghiệp trong các lĩnh vực chuyên ngành đều phải trải qua thủ tục ĐKDN
tại cơ quan ĐKKD, sau đó mới xin cấp phép kinh doanh tại cơ quan QLNN chuyên ngành. Như vậy,
các luật chuyên ngành phải theo hướng quy định về hoạt động, còn việc thành lập và quản lý của
doanh nghiệp sẽ theo Luật DN 2005. Để thực hiện được nội dung trên, nhà nước cần sửa đổi Điều 3
Luật DN 2005 theo hướng :
“1. Việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế áp dụng theo quy định của Luật này.
2. Trường hợp đặc thù liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp được quy định tại Luật khác
thì áp dụng theo quy định của Luật đó”.
- Thứ ba, bỏ thủ tục khắc dấu (đăng ký mẫu dấu) doanh nghiệp, nhà nước nên giao việc khắc
giống như doanh nghiệp trong nước, thay cho quy định hiện hành buộc họ phải làm thủ tục đầu tư và
phân định tỷ lệ sở hữu vốn của NĐT nước ngoài tại DN để có quyết định việc họ làm thủ tục đầu tư
hay thủ tục ĐKDN như quy định tại Nghị định 102/2010/NĐ-CP. Việc sửa đổi này là cần thiết nhằm
đảm bảo quyền bình đẳng cho doanh nghiệp và làm tăng tính hấp dẫn của MTKD tại Việt Nam trong
hoạt động thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới
- Thứ tám, hoàn thiện pháp luật về giấy phép kinh doanh
Một là, tiếp tục bãi bỏ các GPKD và điều kiện kinh doanh không phù hợp. Ví dụ, GPKD
dịch vụ cầm đồ tại Nghị định 72/2009/NĐ-CP cần được bãi bỏ, vì thực tế hiệu quả QLNN từ công tác
cấp phép này lại không cao. Bên cạnh đó, nhà nước nên rà soát, bãi bỏ điều kiện kinh doanh quy định
tại Nghị định 103/2009/NĐ-CP là yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh karaoke phải có xác nhận bằng
văn bản của các hộ liền kề cần.
37
Vì, thực tế áp dụng quy định trên là khó khả thi đối với doanh
nghiệp. Thay vào đó, nhà nước quy định chặt chẽ điều kiện cơ sở vật chất của hoạt động kinh doanh
36
Xem : Đảng Cộng sản Việt Nam : “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
2011, trang 250
37
Xem : Khoản 4 và Khoản 6 Điều 30 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh văn hóa công cộng ban hành kèm theo
Nghị định số 103/2009/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 06 /11/2009