Viện hn LM Khoa học x hội Việt Namã
Học viện khoa học xã hội
Nguyễn Quang V
PHP LUT V DOANH NGHIP CUNG NG
HNG HO, DCH V CễNG - THC TRNG
V GII PHP HON THIN
Chuyờn ngnh : Lut Kinh t
Mó s : 62.38.50.01
Tóm tắt luận án tiến sĩ luật học
Hà Nội - 2013
Công trình đợc hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội - Vin hn lõm Khoa học Xã hội Việt Nam
Ngời hớng dẫn khoa học:
1- PGS. TS. Nguyn Nh Phỏt
2- PGS. TS. Lờ Th Chõu
Phản biện 1: GS. TS. Lê Hồng Hạnh
Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Quang Tuyến
Phản biện 3: PGS.TS. Đinh Văn Thanh
Luận án sẽ đợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện,
họp tại Học viện Khoa học Xã hội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2013
Có thể tìm hiểu luận án tại Th viện Quốc gia và
Học viện Khoa học Xã hội - Viện hn lõm Khoa học Xã hội Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Ở Việt Nam trong những năm qua, yêu cầu phát triển đang đặt ra
cho các nhà quản lý, nhà khoa học và toàn xã hội đổi mới cách tiếp cận,
tìm kiếm mô hình tiến bộ và phù hợp cho hoạt động cung ứng hàng hoá,
dịch vụ công.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam
lần thứ XI khẳng định “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
và "doanh nghiệp phục vụ quốc
phòng, an ninh"
4
. Ngày 29 - 11 - 2005, Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 8
thông qua Luật Doanh nghiệp quy định về tổ chức, hoạt động, quyền và
nghĩa vụ của các loại hình doanh nghiệp.
Tuy nhiên, pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ
công ở nước ta vẫn tồn tại nhiều hạn chế. “Hệ thống thể chế, pháp luật,
nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn
nhiều bất cập, vướng mắc. Chức năng nhiệm vụ của một số cơ quan
trong hệ thống hành chính nhà nước chưa đủ rõ, còn trùng lặp và chưa
bao quát hết các lĩnh vực quản lý nhà nước”
5
. “Thể chế luật pháp về quản
lý tài chính công tuy có nhiều đổi mới nhưng còn bất cập. Thủ tục hành
chính còn nhiều vướng mắc, gây phiền hà cho tổ chức và công dân”
6
.
Để từng bước giải quyết những vướng mắc đó, cần “đẩy mạnh
vững chắc việc sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp nhà nước và xã hội hoá một số loại hình dịch vụ công
cộng”
7
đang là chủ trương và giải pháp lớn của Đảng và Nhà nước ta.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá X,
Đảng ta chỉ rõ: Thực hiện cơ chế tổ chức hoạt động đối với các đơn vị
sự nghiệp dịch vụ công theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực
hiện hạch toán thu - chi không vì lợi nhuận tối đa và nhà nước không
bao cấp bình quân. Cải cách tài chính công phục vụ cho chủ trương đẩy
mạnh xã hội hoá trong các ngành ; phát huy trách nhiệm và tính sáng
hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng
hoá, dịch vụ công.
Từ mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:
- Tổng hợp, phân tích những vấn đề lý luận về doanh nghiệp cung
ứng hàng hoá, dịch vụ công;
- Phân biệt doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công với
doanh nghiệp khác; từ đó, xây dựng cơ chế cung ứng thích hợp đối với
doanh nghiệp;
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng
hoá, dịch vụ công; phát hiện những bất cập của pháp luật trong mối
quan hệ với thực tiễn.
8
Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Nghị quyết lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khoá
X, (xem trên Internet, trang Cải cách hành chính tỉnh Đồng Nai).
3
- Đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về
doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các vấn
đề sau:
- Khái niệm, đặc điểm, vai trò, tầm quan trọng… của doanh nghiệp
cung ứng hàng hoá, dịch vụ công;
- Thực trạng và nhu cầu của xã hội, các yếu tố tác động đến việc
cung ứng và thụ hưởng hàng hoá, dịch vụ công; từ đó đề xuất qui trình,
thứ tự ưu tiên trong việc cung ứng các loại hình hàng hoá, dịch vụ công
để tạo ra sự cân bằng, ổn định cho sự phát triển;
- Thực trạng và bất cập của pháp luật về doanh nghiệp cung ứng,
người thụ hưởng; cơ quan quản lý, điều hành; trách nhiệm của các bên
khi tham gia hoạt động cung ứng và thụ hưởng hàng hoá, dịch vụ
công…;
trong giai đoạn hiện nay.
- Phương pháp lịch sử: Phương pháp này chủ yếu được sử dụng tại
Chương 2, Chương 4 của luận án nhằm đưa ra những cứ liệu trong từng
giai đoạn lịch sử đặt trong những bối cảnh, mối quan hệ qua lại với những
yếu tố lịch sử khác. Ngoài ra, phương pháp này cũng được sử dụng tại các
Chương khác của luận án khi trình bày, phân tích và đánh giá pháp luật về
doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Với việc thực hiện mục đích và nhiệm vụ trên đây, nội dung của
luận án đạt được những ý nghĩa khoa học sau:
- Xây dựng khái niệm, đặc điểm, tiêu chí xác định và phân loại
doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công làm cơ sở lý luận đối
chiếu với pháp luật, giải quyết các vấn đề khoa học có liên quan.
5
- Với nội dung trên, luận án góp phần xây dựng phương pháp tiếp
cận và quản lý, nâng cao chất lượng cung ứng hàng hoá, dịch vụ công…
- Phân tích vai trò của nhà nước và của doanh nghiệp tham gia
việc cung ứng, sử dụng hàng hoá, dịch vụ công trong từng hoàn cảnh
lịch sử cụ thể và trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Xây dựng khái niệm khoa học pháp lý vào hệ thống lý luận về
hàng hoá, dịch vụ công và doanh nghiệp cung ứng
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về doanh
nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay, tìm ra
những điểm bất cập, chưa phù hợp;
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp làm cơ sở khoa học
cho hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung
ứng hàng hoá, dịch vụ công ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên
- Về phương thức cung ứng hàng hoá, dịch vụ công điển hình, thể
hiện xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới;
- Xã hội hóa cung ứng hàng hoá, dịch vụ công;
- Về tăng cường kiểm tra giám sát, áp dụng các biện pháp đảm bảo
trong cung ứng hàng hoá, dịch vụ công.
1.1.2. Một số kết quả đạt được của hoạt động nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống, phân tích các vấn đề khoa học như đã nêu ở
trên, luận án đưa ra những đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu, với
nội dung cơ bản là:
Cùng với việc tìm hiểu, phân tích, xác định khái niệm hàng hoá,
dịch vụ công, các công trình còn nêu lên những hạn chế của hoạt
8
động cung ứng trong thực tiễn. Từ việc nghiên cứu ấy, các tác giả
đưa ra một số giải pháp nhằm tháo gỡ vướng mắc trong hoạt động
cung ứng hàng hoá, dịch vụ công của các doanh nghiệp;
- Phương hướng được kiến nghị nhiều nhất là "xã hội hoá" hoạt
dộng cung ứng hàng hoá, dịch vụ công theo nguyên tắc: "Nhà nước chỉ
làm những gì mà tư nhân không làm, không làm được, không được
phép làm";
- Cùng với "xã hội hoá" các công trình cũng kiến nghị nâng cao
trách nhiệm của các chủ thể cung ứng. Nhà nước không bao cấp bình
quân, không làm thay doanh nghiệp trong cung ứng hàng hoá, dịch
vụ công;
- Tăng cường kiểm tra, giám sát và áp dụng bảo vệ pháp chế,
trật tự kỷ cương trong hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ công;
- Bên cạnh kiến nghị chủ yếu nêu trên, các công trình nghiên cứu
cũng có đề cập đến mô hình cung ứng hàng hoá, dịch vụ công trên thế
giới mà Việt Nam có thể tham khảo, học tập, rút kinh nghiệm phục vụ
cho hoàn thiện chính sách pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng
hoá, dịch vụ công.
doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công chưa được pháp luật đề
cao, qui định rõ.
1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài
1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả luận án xác định một
số câu hỏi nghiên cứu như:
- Doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công là gì, ý nghĩa, vai
trò của chúng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội?
10
- Ở nước ta hiện nay, pháp luật đang quy định cho các doanh nghiệp
hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ công dưới những hình thức nào?
Những ưu điểm và hạn chế của quy định đó?
- Những yêu cầu nào đặt ra cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về
doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công? Phương hướng và giải
pháp hoàn thiện?
1.2.2. Lý thuyết nghiên cứu:
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu của đề tài luận án là lý luận
của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp
luật; khẳng định vai trò xã hội to lớn của Nhà nước trước nhân dân.
Cùng với tư tưởng nêu trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng duy vật và các quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập đến việc xây dựng, hoàn thiện, đổi
mới nhà nước và pháp luật; đồng thời tiếp thu có chọn lọc lý thuyết
về cung ứng hàng hoá, dịch vụ công từ các nhà khoa học trong và
ngoài nước.
1.2.3. Các giả thuyết nghiên cứu:
- Cung ứng hàng hoá, dịch vụ công là hoạt động có tính chính trị -
pháp lý và nhân văn sâu sắc, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc ổn
định và phát triển đất nước.
- Thực tiễn cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ở Việt Nam những
Doanh nghiệp - chủ thể chủ yếu thực hiện việc cung ứng hàng hoá,
dịch vụ công được các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam quan tâm
nghiên cứu. Trên cơ sở nhu cầu phát triển quyền con người, tính dân
chủ được đề cao, việc nghiên cứu về các công cụ, phương tiện thực hiện
12
quyền dân chủ đó càng trở nên bức xúc. Vì lẽ đó, việc ra đời các công
trình và hoạt động nghiên cứu nêu trên là xu hướng tất yếu, góp phần
thúc đẩy quá trình phát triển xã hội, đảm bảo lợi ích của người dân ngày
càng khả thi và phát triển bền vững.
Các công trình khoa học nêu trên mặc dù đã giải quyết được các
vấn đề cơ bản trong việc tiếp cận, phân tích về hàng hoá, dịch vụ công và
cung ứng, nhưng nhìn chung, dưới góp độ nghiên cứu pháp luật về
doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công vẫn còn nhiều vấn đề cần
được tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ.
13
Chương 2
LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG HÀNG HOÁ, DỊCH
VỤ CÔNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG
HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG
2.1. Nhận thức chung về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá,
dịch vụ công
- Trên cơ sở tham khảo các quan điểm khác nhau và căn cứ vào
nội dung của pháp luật hiện hành, luận án xác định: Doanh nghiệp cung
ứng hàng hoá, dịch vụ công là tổ chức có chức năng hoạt động kinh tế -
xã hội, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký và hoạt động trong lĩnh vực cung ứng hàng hoá, dịch vụ công theo
quy định của pháp luật.
- Từ nội dung khái niệm, luận án rút ra đặc điểm của doanh nghiệp
cung ứng hàng hoá, dịch vụ công căn cứ vào tiêu chí như: Tính chất,
mục đích, nhiệm vụ, cách thức tổ chức bộ máy quản trị, mức độ chủ
+ Pháp luật bảo vệ, phục vụ quyền lực công, đảm bảo lợi ích
xã hội;
+ Cơ chế điều chỉnh của pháp luật mang tính liên ngành;
+ Pháp luật đề cao vai trò, trách nhiệm của chủ thể cung ứng hàng
hoá, dịch vụ công;
+ Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp cung ứng
hàng hoá, dịch vụ công có mối liên hệ chặt chẽ với chức năng quản lý
nhà nước;
+ Mục đích của pháp luật là không đưa lợi nhuận lên làm mục tiêu
trực tiếp, hàng đầu.
2.3. Một số mô hình cung ứng hàng hoá, dịch vụ công điển hình
trên thế giới - Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
15
Sau khi nghiên cứu về doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp
cung ứng hàng hoá, dịch vụ công, luận án trình bày khái niệm, cách tiếp
cận mô hình cung ứng hàng hoá, dịch vụ công; theo đó: Mô hình cung
ứng hàng hoá, dịch vụ công là tổng thể các yếu tố về sự tham gia của
các thành phần kinh tế, xã hội (thành phần sở hữu, giai cấp, tầng lớp,
cá nhân ) gắn với phương thức tổ chức, hoạt động cung ứng hàng hoá,
dịch vụ công cho xã hội nhằm đảm bảo lợi ích các bên liên quan và duy
trì trật tự, an toàn, tiến bộ xã hội
Luận án trình bày một số mô hình cung ứng hàng hoá, dịch vụ
công điển hình trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam. Các mô hình mà thế giới đang áp dụng là:
+ Mô hình "Nhà nước cung ứng tài chính và nhà nước tổ chức
cung ứng hàng hoá, dịch vụ công";
+ Mô hình "Khu vực kinh tế ngoài nhà nước cung ứng tài chính và
tổ chức cung ứng hàng hoá, dịch vụ công";
+ Mô hình “Nhà nước và khu vực ngoài nhà nước cùng liên kết
cung ứng tài chính và tổ chức cung ứng hàng hoá, dịch vụ công”;
hoá, dịch vụ công của các nước trên thế giới làm căn cứ, cơ sở khoa học
cho việc hoàn thiện phương pháp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ở
Việt Nam. Có thể khẳng định, đây là nhu cầu thiết yếu hướng tới hoạt
động tư vấn hoàn thiện chính sách, pháp luật Việt Nam về cung ứng
hàng hoá, dịch vụ công trong điều kiện ngày nay.
Đây cũng là tư tưởng khoa học cơ bản làm cơ sở nền tảng về lý
thuyết cho việc nhìn nhận các vấn đề pháp luật hiện hành ở Việt
Nam và tìm giải pháp hoàn thiện, giúp cơ chế điều chỉnh pháp luật
ngày càng phù hợp khách quan, thực chất trong việc giải quyết các
17
vân đề phát sinh trong đời sống xã hội về cung ứng hàng hoá, dịch
vụ công ở nước ta.
Chương 3
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG
HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM
Tại chương này, luận án khái quát và phân tích những vấn đề thực
tiễn của pháp luật Việt Nam trong việc điểu chỉnh tổ chức, hoạt động
của doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công. Những vấn đề như:
Sự hình thành và phát triển của pháp luật về doanh nghiệp cung ứng
hàng hoá, dịch vụ công ở Việt Nam; đặc biệt là thực trạng pháp luật
điều chỉnh các quan hệ cụ thể của doanh nghiệp như: Pháp luật về thành
lập; cơ cấu tổ chức quản lý; tổ chức lại, giải thể, phá sản; quyền và
nghĩa vụ của doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công.
Trên cơ sở thực trạng pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng
hoá, dịch vụ công, luận án rút ra một số nhận xét, đánh giá; bao gồm ưu
điểm và hạn chế chủ yếu của pháp luật hiện hành về doanh nghiệp cung
ứng hàng hoá, dịch vụ công.
- Ưu điểm:
+ Nhà nước đã có sự quan tâm điều chỉnh một số loại hoạt động
của doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công;
dịch vụ công chưa được pháp luật đề cao, qui định rõ và cụ thể;
+ Về cách sử dụng từ, ngữ trong một số văn bản còn đa nghĩa,
thiếu chính xác
Cùng với nội dung trên, luận án cũng nêu những nguyên nhân ưu
điểm và hạn chế của pháp luật hiện hành về doanh nghiệp cung ứng
hàng hoá, dịch vụ công.
19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trên cơ sở nội dung đã trình bầy, có thể thấy:
Pháp luật Việt Nam điều chỉnh các vấn đề về doanh nghiệp
cung ứng hàng hoá, dịch vụ công cho đến nay đã được Nhà nước ta từng
bước quan tâm và đạt được kết quả ở mức độ khác nhau qua từng giai
đoạn lịch sử xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cụ thể. Việc điều chỉnh ấy
ngày càng được đề cao, quy định rõ ràng hơn khi đất nước ta chuyển
đổi nền kinh tế từ tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, đặc
biệt với sự phát triển đa dạng, đa phương và hội nhập quốc tế trong
những năm vừa qua.
Từ các phần đã trình bầy ở trên về thực trạng pháp luật về doanh
nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ở Vịêt Nam, những vấn đề ưu
điểm, hạn chế của pháp luật cũng từng bước được phát hiện. Đặc biệt,
những hạn chế, vướng mắc có thể gây khó khăn cho tiến trình hoạt động
cung ứng hàng hoá, dịch vụ công cho xã hội bởi nhiều nguyên nhân;
trong đó chủ yếu là do các quy định của pháp luật về doanh nghiệp cung
ứng hàng hoá, dịch vụ công còn chưa đầy đủ, chặt chẽ và chính xác. Từ
khái niệm, các tiêu chí xác định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm tài sản, sự
bình đẳng, minh bạch của các chủ thể trong cung ứng, thụ hưởng; vấn
đề về xã hội hoá, về quản lý điều hành hoạt động cung ứng cũng như
chế tài xử lý các tiêu cực phát sinh cũng chưa được pháp luật quan
tâm đúng mức.
20
- Hỗ trợ doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ thiết yếu và ưu
tiên dân cư thuộc địa bàn khó khăn ;
- Đa dạng hóa hình thức cung ứng hàng hoá, dịch vụ công;
đảm bảo trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp phù hợp với lĩnh vực
hoạt động;
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới, đồng thời sửa đổi, bổ
sung nhằm hoàn thiện các chế định về: Thành lập, tổ chức quản lý, tổ
chức lại doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công trong pháp
luật hiện hành;
- Về cách sử dụng từ, ngữ trong văn bản pháp luật về doanh nghiệp
cung ứng hàng hoá, dịch vụ công;
- Nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát, kiểm soát chất lượng đầu
ra hàng hoá, dịch vụ công; áp dụng các biện pháp bảo vệ pháp luật.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
Phương hướng và giải pháp nêu trên đều thể hiện quan điểm khoa
học với mục tiêu tối thượng là duy trì, phát triển hoạt động cung ứng
hàng hoá, dịch vụ công ngày càng chất lượng, hiệu quả, phù hợp và thích
ứng với nhu cầu của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước.
Điều đó càng giữ vị trí quan trọng, thời sự trong điều kiện tăng cường
hội nhật quốc tế ở Việt Nam ngày nay.
Mặc dù kiến nghị sẽ còn nhiều khoảng trống, chưa bao quát và
phản ánh hết nhu cầu phát triển của thực tiễn. Đời sống xã hội đòi hỏi
22
vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu tìm giải pháp nhằm khắc phục, lấp
những khoảng trống của pháp luật điều chỉnh tổ chức, hoạt động của
các chủ thể cung ứng, trong đó có doanh nghiệp cung ứng hàng hoá,
dịch vụ công ở Việt Nam. Hy vọng thời gian tiếp theo, hoạt động nghiên
cứu khoa học trong lĩnh vực pháp luật về cung ứng hàng hoá, dịch vụ
công sẽ tiếp tục được thực hiện và có những kết quả, đóng góp thiết
thực, bồi đắp thêm những phương hướng, giải pháp vào kho tàng tri