Pháp luật doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam - Pdf 13



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN HUỲNH THANH NGHỊ

PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP TRONG
MỐI QUAN HỆ VỚI CẢI CÁCH

THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Mai Hồng Quỳ
PGS.TS Nguyễn Cảnh Hợp


MỤC LỤCTRANG

PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và lý
thuyết nghiên cứu đề tài
1.1 Bối cảnh và sự cần thiết của việc nghiên cứu thủ tục hành chính đối với
thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thủ tục hành chính đối với thành lập, tổ
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
1.3 Lý thuyết nghiên cứu đề tài và câu hỏi nghiên cứu
1.3.1 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
1.3.3 Các giả thuyết nghiên cứu
1
9

9

13
13
20
27
29
29
29

42
43
2.4.1. Các nguyên tắc quy định về TTHC trong PLDN
2.4.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của quy định PLDN về TTHC
đối với doanh nghiệp
2.5. Mối quan hệ giữa quy định PLDN về TTHC và cải cách TTHC ở Việt Nam
2.6. Sự cần thiết của cải cách TTHC đối với doanh nghiệp
2.7. Mục tiêu của cải cách TTHC đối với doanh nghiệp ở Việt Nam
43
46

48
49
62
Chương 3
:
Đánh giá quy định pháp luật doanh nghiệp về thủ tục thành lập,
tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam
67
3.1. Đánh giá quy định PLDN về thủ tục thành lập doanh nghiệp
67
3.1.1 Những kết quả đạt được
67
3.1.2

Những hạn chế của quy định pháp luật doanh nghiệp về thủ tục thành lập
doanh nghiệp


110

116

122

122
143 4.3.3. Hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp về thủ tục giải thể doanh nghiệp
KẾT LUẬN
146
151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cải cách TTHC là một trong số giải pháp cơ bản nhất để hoàn thiện môi trường đầu tư,
kinh doanh, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp và tăng cường hiệu lực, hiệu
quả QLNN ở Việt Nam thời kỳ hội nhập. Tiến trình cải cách TTHC đó không thể tách rời
với yêu cầu hoàn thiện PLDN vì các quy định PLDN ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cải
cách TTHC và việc thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp. Thực tiễn đã khẳng định
những thành tựu của cải cách TTHC thời gian qua ở Việt Nam có một phần đảm bảo quan

sắc, phù hợp với yêu cầu đổi mới và hoàn thiện MTKD để đưa ra các giải pháp hoàn thiện
PLDN góp phần tích cực vào cải cách TTHC ở Việt Nam là đề tài nóng bỏng thu hút sự
quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa PLDN và cải cách TTHC cũng
như ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Pháp luật
doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam” để
làm Luận án tiến sĩ luật học cho mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án nghiên cứu đề tài Pháp luật doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách thủ
tục hành chính ở Việt Nam nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản sau :
- Thứ nhất, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về PLDN và TTHC như nội dung quy định
PLDN về TTHC, nguyên tắc quy định PLDN về TTHC, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn
thiện của PLDN về TTHC để bổ sung vào kho tàng lý luận về PLDN và TTHC ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó, Luận án sẽ làm rõ mối quan hệ giữa PLDN về TTHC với cải cách TTHC,
đồng thời khẳng định cải cách TTHC đối với doanh nghiệp là giải pháp cơ bản để hoàn thiện
MTKD, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp và tăng cường hiệu lực QLNN ở
Việt Nam trong điều kiện hội nhập.
- Thứ hai, đánh giá toàn diện thực trạng PLDN về TTHC, phát hiện được những thành
công và hạn chế của PLDN về thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp đang
tác động tích cực và tiêu cực đến cải cách TTHC ở Việt Nam.
- Thứ ba, nêu lên các yêu cầu, định hướng hoàn thiện PLDN thúc đẩy cải cách TTHC
và các giải pháp hoàn thiện PLDN về thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp,
góp phần mang lại sự hiệu quả hơn cho cải cách TTHC ở Việt Nam trong thời gian tới.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu đề tài Pháp luật doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách thủ
tục hành chính ở Việt Nam chủ yếu nghiên cứu quy định tại Luật DN 2005 và các văn bản
thi hành Luật DN 2005 về TTHC đối với doanh nghiệp. PLDN có phạm vi điều chỉnh rộng,

3


Luật DN trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam

4

Về thời gian nghiên cứu : Luận án nghiên cứu PLDN về thủ tục thành lập, tổ chức lại
và giải thể doanh nghiệp do nhà nước Việt Nam ban hành trong giai đoạn đổi mới và hội
nhập kinh tế quốc tế từ năm 1990 đến nay
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về PLDN và TTHC được quy định trong PLDN, giải quyết được
mối quan hệ giữa quy định PLDN về TTHC với cải cách TTHC ở Việt Nam
- Phân tích được các lý do cơ bản phải tiến hành cải cách TTHC đối với doanh nghiệp
và các mục tiêu cơ bản cần đạt được từ cải cách TTHC đó.
- Làm rõ những mặt tích cực và hạn chế của quy định PLDN về thủ tục thành lập, tổ
chức lại và giải thể doanh nghiệp ảnh hưởng đến cải cách TTHC ở Việt Nam
- Nêu ra các giải pháp khoa học đề xuất với nhà nước hoàn thiện PLDN về thủ tục
thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp phục vụ cho việc đẩy mạnh cải cách TTHC ở
Việt Nam thời gian tới.
6. Điểm mới của Luận án
So với các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố trước đó, Luận án nghiên cứu đề
tài Pháp luật doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam
có một số điểm mới cơ bản sau :
Thứ nhất, Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên giải quyết các vấn đề lý luận cơ
bản về mối quan hệ giữa quy định PLDN với cải cách TTHC ở Việt Nam. Luận án phân tích
các nguyên tắc của quy định PLDN về TTHC, nội dung PLDN về TTHC, các tiêu chí đánh
giá mức độ hoàn thiện của PLDN về TTHC, nêu lên sự cần thiết để Việt Nam tiến hành cải
cách TTHC đối với doanh nghiệp và các mục tiêu đạt được từ cải cách TTHC đó. Đây là
những nội dung quan trọng được Luận án nghiên cứu và chưa được giải quyết ở nhiều công
trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước trước đó.
Thứ hai, Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên đánh giá toàn diện những thành
công và hạn chế của PLDN về thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp ảnh

pháp phân tích còn được Luận án sử dụng để diễn giải, giải thích các luận cứ khoa học, quan
điểm của tác giả đưa ra trong Luận án là có căn cứ, phù hợp và tính khả thi cao.
Ngoài ra, việc sử dụng phương pháp phân tích còn giúp Luận án kiểm chứng lại các
nguồn tài liệu, thông tin Luận án sử dụng từ các Báo cáo của Ngân hàng thế giới, Diễn đàn
Kinh tế thế giới, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế. Từ đó Luận án phân tích, đánh giá
mức độ phù hợp với các quy định PLDN và thực tiễn thi hành PLDN ở Việt Nam nhằm đảo
bảo độ tin cậy của các số liệu công bố đó.
6

- Phương pháp so sánh
Bên cạnh phương pháp phân tích, Luận án còn sử dụng phương pháp so sánh nhằm
giúp cho độc giả có một cái nhìn toàn diện hơn về những tiến bộ của quy định PLDN về thủ
tục thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp so với các quy định ban hành trước đó.
Trên cơ sở đó, chỉ ra được những đóng góp tích cục của PLDN đến cải cách TTHC ở Việt
Nam. Ngoài ra, việc sử dụng phương pháp so sánh rất cần thiết để giúp Luận án tìm hiểu về
những điểm tương đồng và khác biệt giữa PLDN Việt Nam với PLDN một số quốc gia khác
trên thế giới quy định về TTHC đối với doanh nghiệp. Để từ đó, Luận án có thể tiếp thu
những quy định tiến bộ và đề xuất với nhà nước chọn lọc, vận dụng cho việc hoàn thiện quy
định PLDN về TTHC ở Việt Nam. Trong trường hợp này, việc sử dụng phương pháp so
sánh có ý nghĩa quan trọng giúp cho các giải pháp Luận án đưa ra không những phù hợp với
thực tại kinh tế Việt Nam, mà còn phù hợp với các quy định chung của thế giới trong bối
cảnh hội nhập.
- Phương pháp chứng minh
Đây là phương pháp được Luận án sử dụng để làm sáng tỏ các luận cứ khoa học của
công trình nghiên cứu, giải quyết mối liên hệ giữa quy định PLDN về TTHC và thực tiễn thi
hành các quy định đó nhằm phục vụ cho việc đánh giá những thành công và hạn chế của
PLDN tác động đến cải cách TTHC ở Việt Nam thời gian qua.

Việt Nam. Mặt khác, các giải pháp, ý kiến của các nhà khoa học nước ngoài liên quan đến
cải cách TTHC, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, mở rộng quyền tự do kinh doanh
của doanh nghiệp cũng là thông tin, nguồn tài liệu quý báu để Luận án chọn lọc, tiếp thu và
đề xuất với nhà nước Việt Nam hoàn thiện PLDN đáp ứng yêu cầu cải cách TTHC.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Ở Việt Nam, đây là đề tài nghiên cứu khoa học đầu tiên về mối quan hệ giữa PLDN với
cải cách TTHC. Nghiên cứu đề tài này, Luận án sẽ cung cấp một dung lượng đáng kể thông
tin có giá trị về cơ sở lý luận của quy định PLDN về TTHC, trở thành tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn Luật Kinh tế, Luật Thương mại, Luật Doanh
nghiệp và Luật Hành chính ở Việt Nam. Ngoài ra, việc đánh giá toàn diện PLDN về thủ tục
thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp với những thành công và hạn chế nhất định
tác động đến cải cách TTHC, từ đó nêu ra các giải pháp hoàn thiện PLDN về TTHC có ý
nghĩa thực tiễn sâu sắc giúp cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam tham khảo để
đưa ra các quyết sách hoàn thiện PLDN phục vụ cho cải cách TTHC và nâng cao hiệu quả
QLNN đối với doanh nghiệp ở Việt Nam.

8

9. Kết cấu của Luận án.
Ngoài phần Lời nói đầu, Tài liệu tham khảo, Kết luận và Chương 1 của Luận án dành
để trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nội dung của Luận án được
chia thành các Chương sau :
- Chương 2 của Luận án trình bày những vấn đề lý luận chung về PLDN và TTHC
được quy định trong PLDN, các nguyên tắc đặt ra cho quy định PLDN về TTHC và sự cần
thiết của cải cách TTHC đối với doanh nghiệp. Trong đó, Luận án nêu lên những ảnh hưởng
của PLDN về TTHC đến cải cách TTHC và các mục tiêu cơ bản cần đạt được của cải cách
TTHC đối với doanh nghiệp ở Việt Nam.
- Chương 3 của Luận án phân tích, đánh giá thực trạng PLDN về TTHC ảnh hưởng đến
cải cách TTHC ở Việt Nam. Những kết quả đạt được của PLDN về thủ tục thành lập, tổ
chức lại và giải thể doanh nghiệp được Luận án làm sáng tỏ với các số liệu thực tế chứng

Đức, trường phái REM hay mô hình kinh tế tư bản tự do Anglo-Saxon (học thuyết Reegan –
Thatcher) phát triển mạnh trong thập niên 80 của thế kỷ XX. Đặc trưng cơ bản của các trào
lưu này là đề cao tự do hóa kinh tế, giảm sự can thiệp của nhà nước xuống mức thấp nhất,
loại bỏ mọi giám sát cho giới doanh thương, cải cách hành chính, đẩy mạnh tư hữu hóa khu
vực kinh tế công và khôi phục vai trò thống trị của thị trường.
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã đặt ra yêu cầu cấp thiết để thế giới đánh giá
lại mối quan hệ giữa tự do kinh tế, tự do kinh doanh của doanh nghiệp với vai trò quản lý
kinh tế của nhà nước. Đối phó với khủng hoảng kinh tế này, các quốc gia thường đưa ra hai
giải pháp quan trọng song song nhau :
Một là, có sự can thiệp của nhà nước bằng cách sử dụng biện pháp tài chính cần thiết
để giải cứu doanh nghiệp và nền kinh tế. Hoa Kỳ có gói cứu trợ hơn 1.000 tỷ USD hỗ trợ
doanh nghiệp và nền kinh tế trong năm 2008 và 2009. Liên minh Châu Âu (EU) có gói cứu
trợ kinh tế cho 27 quốc gia thành viên khoảng 750 tỷ euro.
1
Nhật Bản cũng có gói cứu trợ

1
Nguồn : Có thể truy cập tại www.vfinance.vn/m33/sm37/n35814 , thứ ba ngày 11/05/2010

10

kinh tế rất lớn lên đến 5.050 tỷ JPY (tương đương 1.186.390 tỷ VND).
2
Song, biện pháp giải
cứu này không phải quốc gia nào cũng có điều kiện thuận lợi để thực hiện mà phụ thuộc vào
tiềm lực tài chính của quốc gia đó, hơn nữa, khoản tài chính giải cứu thường rất lớn. Theo
ước tính, để ngăn chặn tác động của khủng hoảng kinh tế, các quốc gia phải cam kết chi số
tiền khổng lồ khoảng 3.200 tỷ USD.
3
Điều đó gây bất lợi cho các quốc gia, nhất là trong bối

Xem : Nguyễn Minh Quang và Đoàn Xuân Thuỷ (đồng chủ biên) : “Chính sách ứng phó với khủng hoảng kinh tế của
Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2010, trang 27.
4
Nguồn : www.doingbusiness.org, 2011
5
Nguồn : www.doingbusiness, 2013

11

Guatemala, Burundi là những nền kinh tế cải cách bậc nhất, có 51 quốc gia cải cách thủ tục
thành lập doanh nghiệp.
6

Ở thủ tục đóng cửa doanh nghiệp (closing a business), trong giai đoạn 2009 - 2013 đã
có 92 cải cách ở 62 nền kinh tế. Năm 2013, có 12 cải cách thủ tục đóng cửa doanh nghiệp ở
Italia, Israel, Philippines, Rwanda, Ukraine,…
7
Trong vòng 7 năm, các nước Nam Á đã rút
ngắn thời gian giải quyết đóng cửa doanh nghiệp từ 4.2 năm vào thời điểm năm 2006 xuống
chỉ còn 3.4 năm vào thời điểm năm 2012. Các nước Mỹ Latin và Caribe rút ngắn từ 3.5 năm
xuống còn 3.2 năm, chi phí đóng cửa doanh nghiệp giảm từ 17% xuống còn 16%.
Tóm lại, hoạt động cải cách thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp trên
thế giới thời gian qua có một số điểm đáng chú ý sau :
- Thứ nhất, các cải cách thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp được
tiến hành với hai nội dung chính : giảm bớt số lượng thủ tục và rút ngắn thời gian giải quyết
thủ tục thành lập và giải thể doanh nghiệp cho NĐT. Các cải cách đó được các quốc gia tiến
hành chủ yếu trong lĩnh vực thành lập doanh nghiệp với các chương trình cải cách thủ tục
ĐKDN (ĐKKD), cấp phép kinh doanh và đăng ký thuế, đảm bảo cho doanh nghiệp phát huy
được quyền tự do kinh doanh của họ trong điều kiện kinh tế thị trường và chủ thể thụ hưởng
kết quả tích cực từ những cải cách đó là doanh nghiệp,

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả tích cực trên, thủ tục thành lập và giải thể doanh nghiệp ở
Việt Nam so với mặt bằng chung của thế giới vẫn còn khoảng cách khá xa. Thứ hạng của
Việt Nam trên trường quốc tế ở các tiêu chí này thường thấp và thiếu ổn định. Thủ tục
ĐKDN tuy dễ nhưng TTHC khác đi kèm lại phức tạp, ảnh hưởng bất lợi đến việc thành lập
doanh nghiệp của NĐT. Các quy định về điều kiện kinh doanh và GPKD có chiều hướng bị
siết chặt, gây trở ngại lớn cho doanh nghiệp thành lập và hoạt động.
Từ thực tiễn trên đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận cho khoa học pháp lý phải giải quyết để
hoàn thiện PLDN đáp ứng yêu cầu cải cách TTHC ở Việt Nam, đó là :
- Cần thiết phải đánh giá lại toàn diện những mặt tích cực và hạn chế của các quy định
PLDN về thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp, để có giải pháp hoàn thiện
giúp đẩy nhanh, có hiệu quả cải cách TTHC ở Việt Nam.
- Nhiều quy định về điều kiện kinh doanh và GPKD vẫn còn cản trở quá trình thành
lập và hoạt động của doanh nghiệp. Để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp
và đáp ứng yêu cầu cải cách TTHC, cần có giải pháp đề xuất loại bỏ những điều kiện kinh
doanh và GPKD không còn phù hợp đó, tạo sự thông thoáng cho MTKD.
- Cần đánh giá lại đối tượng doanh nghiệp được áp dụng thủ tục tổ chức lại doanh
nghiệp trong quy định PLDN hiện hành nhằm tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp
có cơ hội bình đẳng với nhau trong quá trình tổ chức lại doanh nghiệp.
- Việc áp dụng quy định mới về ĐKDN tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP đã có tác động
tích cực nhất định đến cải cách TTHC. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần thiết phải luật hóa quy
định thủ tục ĐKDN áp dụng cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong thời gian
tới ở Việt Nam.

13

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu thủ tục hành chính đối với thành lập, tổ chúc
lại và giải thể doanh nghiệp.
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
Trước và sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, đã có nhiều
công trình nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng MTKD, thực trạng PLDN và QLNN

Báo cáo đánh giá “Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam
(PAPI) 2012 : Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân” do Trung tâm Nghiên cứu
phát triển và hỗ trợ cộng đồng (CECODES), Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu
khoa học Mặt trận tổ quốc Việt Nam (VFF-CRT) và Chương trình Phát triển của Liên hiệp
quốc (UNDP) phối hợp tiến hành. Báo cáo tiến hành khảo sát trên 13.747 người dân ở 63
tỉnh, thành của Việt Nam và công bố kết quả vào tháng 05 năm 2013. Chỉ số PAPI của Việt
Nam là công cụ mang tính tiên phong trong việc tiếp thu ý kiến phản hồi của người dân về
hiệu quả công tác điều hành, quản lý và cung cấp dịch vụ công của khu vực nhà nước ở 6
trục nội dung : tham gia của người dân ở cấp cơ sở; công khai, minh bạch; kiểm soát tham
nhũng trong lĩnh vực công; TTHC công; trách nhiệm giải trình với người dân và cung ứng
dịch vụ công. Theo kết quả đánh giá của PAPI 2012, có 4 trục nội dung có mức tăng nhẹ là :
kiểm soát tham nhũng, công khai minh bạch, cung ứng dịch vụ công và trách nhiệm giải
trình với người dân. Đánh giá của chỉ số PAPI 2012 cho thấy tham nhũng vặt và hối lộ ở
nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế và có chiều hướng gia tăng gây lo ngại cho doanh nghiệp và
người dân. Ở thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tăng lên 32% so với 21% của
năm 2011, 17% người dân được hỏi trả lời có chung chi để được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, chi phí phi chính thức cho một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 123.000
đồng và ở một trường hợp điển hình có thể lên đến 104 triệu đồng. Năm 2012, có 8 địa
phương đạt từ 40 điểm trở lên so với 3 của năm 2011 (Đà Nẳng, Quảng Bình, Quảng Trị,
Bình Định, Bà Rịa – Vũng Tàu, Nam Định, Long An, Thái Bình). Ba tỉnh đứng đầu của chỉ
số PAPI 2012 là Quảng Bình, Thái Bình và Bình Định và ba tỉnh đứng cuối là Khánh Hòa,
Kiên Giang, Bạc Liêu, Thành phố Hồ Chí Minh đứng giữa bảng xếp hạng. Trong 4 loại
TTHC công được đo lường (thủ tục công chứng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
cấp phép xây dựng và TTHC ở cấp xã, phường) thủ tục cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng
đất được người dân đánh giá còn nhiều phức tạp và có điểm số thấp nhất. Báo cáo đánh giá
PAPI 2012 dựa trên khuôn khổ pháp luật Việt Nam và phù hợp với bối cảnh kinh tế của Việt
Nam có ý nghĩa lớn giúp cho nhà nước Việt Nam tham khảo để có những giải pháp hoàn
thiện hoạt động QLNN, nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công, phòng chống tham
nhũng và đẩy mạnh các chương trình cải cách TTHC hiệu quả hơn ở Việt Nam.


doanh nghiệp và hiệu lực QLNN. Tuy nhiên, Luật DN 2005 cũng còn những hạn chế nhất
định như quy định về thủ tục buộc doanh nghiệp phải thông báo thời gian mở cửa tại trụ sở
chính với cơ quan ĐKKD trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận

16

ĐKDN; thủ tục thông báo cho cơ quan ĐKKD việc thành viên thay đổi, loại tài sản góp vốn
đã cam kết, thủ tục thông báo cho cơ quan ĐKKD về việc hình thành cổ đông lớn tại công ty
cổ phần…Theo Báo cáo, những thủ tục trên là hoạt động quản lý nội bộ của doanh nghiệp,
thể hiện sự can thiệp quá mức cần thiết của cơ quan nhà nước vào hoạt động của doanh
nghiệp, làm tăng gánh nặng chi phí TTHC cho doanh nghiệp. Ngoài ra, sự thiếu thống nhất,
bất hợp lý giữa các quy định tại Luật DN 2005 và Luật Đầu tư, Luật chuyên ngành về thủ
tục thành lập, cấp phép đầu tư cũng được Báo cáo chỉ ra để giúp độc giả có cái nhìn toàn
diện hơn về mức độ hiệu quả của Luật DN 2005 qua hơn 5 năm thi hành ở Việt Nam.
Cuốn sách “Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam” do
GS.TS Mai Hồng Quỳ chủ biên, được Nhà xuất bản Lao động phát hành năm 2012. Bên
cạnh khái quát lại quá trình phát triển của PLDN Việt Nam trong việc thừa nhận và đảm bảo
quyền tự do kinh doanh cho công dân, nội dung cuốn sách còn phân tích thực trạng PLDN
ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của công dân. Những mặt tích cực của quy định
PLDN về thủ tục ĐKDN, chủ thể tham gia doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh, cũng
như những hạn chế của quy định PLDN về thành lập doanh nghiệp và hậu kiểm doanh
nghiệp được phân tích, đánh giá sinh động trong công trình nghiên cứu. Để củng cố và mở
rộng quyền tự do kinh doanh, tác giả cho rằng nhà nước có nghĩa vụ phải tạo môi trường
pháp lý thuận lợi cho cá nhân thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình. Những văn bản
pháp luật trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, cản trở quyền tự do kinh doanh của công dân
đều phải được xem xét sửa đổi hay bãi bỏ. Ngoài ra, cần tiếp tục cải cách TTHC để cải thiện
môi trường đầu tư, kinh doanh, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia để phát triển nền kinh tế nhanh và bền vững là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của Chính phủ.
Cuốn sách “Hoàn thiện thể chế về môi trường kinh doanh của Việt Nam” do PGS.TS

doanh nghiệp như thủ tục hoàn thuế, hải quan, đất đai, xây dựng, công chứng,…ngày càng
được hoàn thiện theo hướng tập trung, đơn giản hóa, công khai, minh bạch. Tuy nhiên, vẫn
còn những quy định phân biệt đối xử chưa bình đẳng giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh
nghiệp nhà nước; TTHC còn rườm rà, phức tạp gây phiền hà cho doanh nghiệp; tính minh
bạch, công khai của các quy định pháp luật và các chế độ, chính sách còn thấp càng làm cho
các TTHC trở thành nỗi sợ hãi của người dân và doanh nghiệp. Để khắc phục những hạn chế
đó, cần phải công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý, tiếp tục cải cách việc
soạn thảo và ban hành văn bản pháp luật (cấp phép, đầu tư, thương mại, sở hữu trí tuệ) theo
hướng tinh giản, thực tiễn, đồng bộ, chuẩn mực có sự tham gia ý kiến rộng rãi của doanh
nghiệp, tiếp tục rà soát các GPKD hiện hành và điều kiện kinh doanh đối với những ngành
có điều kiện, tăng cường năng lực cho cơ quan ĐKKD.

18

Bài báo khoa học “Tự do kinh doanh : Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS.TS.
Bùi Xuân Hải đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số ra tháng 05 năm 2011. Trong
công trình nghiên cứu này, tác giả đã phân tích, đánh giá về thực trạng một số quy định
PLDN tác động đến việc thành lập, hoạt động của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam.
Những tồn tại, hạn chế của các quy định PLDN như nhiều quy định còn chung chung, các
quy định về điều kiện kinh doanh và GPKD vẫn còn bất hợp lý, gây trở ngại cho việc gia
nhập thị trường của doanh nghiệp. Bằng sự phân tích kết hợp với các dẫn chứng thực tế
mang tính khoa học cao, tác giả đã giúp cho người đọc có một cái nhìn tổng quan về mối
quan hệ giữa quy định PLDN với việc đảm bảo và thực thi quyền tự do kinh doanh cho
doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập ở Việt Nam.
Bài báo khoa học “Một năm thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư : Mặt được,
chưa được và việc cần làm” của Thạc sĩ Nguyễn Đình Cung đăng trên Tạp chí Quản lý kinh
tế số ra tháng 08 năm 2007. Đánh giá sơ lược về tình hình thi hành Luật DN 2005 và Luật
Đầu tư 2005, tác giả nhấn mạnh đến nỗ lực của nhiều địa phương như Hà Nội, Sóc Trăng,
Bắc Ninh, Lâm Đồng, Bình Định, Hải Phòng đã thực hiện cơ chế một cửa liên thông “3
trong 1” trong ĐKKD, tạo thuận lợi và rút ngắn được thời gian và chi phí gia nhập thị trường

nghiệp trong tình hình mới.
- Thứ tư, nhiều đổi mới của PLDN về TTHC đã được ban hành và việc thực thi đạt
nhiều kết quả tích cực, giúp tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và mở rộng quyền tự do
kinh doanh cho doanh nghiệp. Song, nhiều quy định PLDN còn vướng mắc, bật cập ảnh
hưởng bất lợi đến MTKD và quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Biểu hiện rõ nhất là
sự thiếu thống nhất, đồng bộ giữa các văn bản pháp luật và số lượng GPKD vẫn còn nhiều,
phức tạp, cản trở cải cách TTHC và gây khó cho doanh nghiệp thành lập, hoạt động.
- Thứ năm, đã nêu ra nhiều giải pháp về mặt pháp lý, kinh tế, tài chính, nhân lực, cơ
sở vật chất kỹ thuật để cải thiện MTKD, góp phần đảm bảo tốt hơn quyền tự do kinh doanh
của doanh nghiệp. Các giải pháp đưa ra ít nhiều liên quan mật thiết đến việc hoàn thiện
PLDN, pháp luật đầu tư, pháp luật chuyên ngành về TTHC đối với doanh nghiệp. Các tác
giả có sự tán thành chung là phải tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật không phù hợp,
loại bỏ những TTHC đang gây cản trở cho việc thành lập, hoạt động của doanh nghiệp. Nhà
nước phải đẩy mạnh công tác rà soát các quy định về điều kiện kinh doanh, cấp phép kinh
doanh, xem đó là hoạt động quan trọng để cải thiện MTKD cho doanh nghiệp.
Những vấn đề còn bỏ ngỏ của các công trình nghiên cứu khoa học trong nước :
- Thứ nhất, chưa làm rõ nội hàm của quy định PLDN về TTHC và những ảnh hưởng
của PLDN về TTHC đến cải cách TTHC trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam.

20

- Thứ hai, chưa nghiên cứu trực tiếp các quy định PLDN trong mối quan hệ với cải
cách TTHC ở Việt Nam. Cách tiếp cận của các công trình nghiên cứu trong nước sử dụng
một phần quy định PLDN về TTHC để chứng minh cho nội dung nghiên cứu về những
thành công và hạn chế của PLDN trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh
nghiệp hoặc để đánh giá thực trạng MTKD, thực trạng QLNN đối với doanh nghiệp.
- Thứ ba, các giải pháp hoàn thiện PLDN phục vụ cho cải cách TTHC ở Việt Nam chưa
được hệ thống hóa đầy đủ. Các đề xuất cải cách TTHC đối với doanh nghiệp (nếu có)
thường được dàn trải trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế như hải quan, đất đai, lao
động, cấp phép thành lập, cấp phép đầu tư, Việc đi sâu nghiên cứu nêu ra giải pháp toàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status