TÍNH độc lập của NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TRONG mối QUAN hệ với lạm PHÁT NGHIÊN cứu THỰC tế tại VIỆT NAM - Pdf 18

1
C LP C
TRONG MI QUAN H VI LM PHÁT
- NGHIÊN CU THC T TI VIT NAM
Mã s
i

TÓM TT  TÀI
Lạm phát luôn được xem là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia bởi những ảnh
hưởng sâu rộng của nó đến sự tăng trưởng của nền kinh tế, gia tăng khoảng cách giàu
nghèo trong xã hội và làm tiềm ẩn các nguy cơ bất ổn xã hội. Cùng với xu hướng hội
nhập toàn cầu là việc nền kinh tế Việt Nam phải chịu tác động nhiều hơn từ diễn biến
nền kinh tế thế giới, nguy cơ bất ổn gia tăng, từ đó dẫn đến diễn biến lạm phát phức
tạp hơn. Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam lúc này dần bộc lộ một số hạn chế
mà xuất phát điểm là do những mâu thuẫn mục tiêu, độ trễ, cũng như sự không nhất
quán trong thực hiện chính sách. Từ đó hiệu quả thực thi chính sách sụt giảm, trong đó
có bình ổn mức giá (lạm phát). Bởi vậy, sự độc lập của NHNN Việt Nam trong việc
thực thi chính sách tiền tệ là một vấn đề cần được quan tâm.
Bài nghiên cứu trình bày tổng quan về tính độc lập của NHTW trong mối quan hệ với
lạm phát, nêu lên thực trạng cũng như chỉ số độc lập của NHNN Việt Nam. Kết quả từ
phương pháp định lượng sử dụng chỉ số độc lập NHTW pháp định (tính dựa trên luật
định), động (theo thời gian), trong mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là tỷ lệ lạm
phát động hàng quý của Việt Nam, đã xác nhận rằng tồn tại mối quan hệ ngược chiều
giữa tính độc lập của NHNN VN với tỷ lệ lạm phát. Bên cạnh đó, xuất phát từ thực
trạng về tính độc lập của NHNN VN cùng với việc tham khảo mô hình tổ chức các

1.3.1. Khái niệm về lạm phát 15
1.3.2. Phân loại lạm phát 15
1.3.3. Nguyên nhân của lạm phát 16
1.3.4. Đo lường lạm phát 16
1.4. Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tính độc lập của
NHTW và lạm phát 17
1.4.1. Các nghiên cứu trong nước 17
1.4.2. Các nghiên cứu ngoài nước 18
KẾT LUẬN PHẦN 1 20
iii

2. THỰC TRẠNG VỀ TÍNH ĐỘC LẬP CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT
NAM VÀ LẠM PHÁT QUA CÁC GIAI ĐOẠN 21
2.1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 21
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 21
2.1.2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam 23
2.2. Tính độc lập của NHNN Việt Nam 26
2.3. Thực trạng lạm phát của Việt Nam 28
2.3.1. Giai đoạn 1986-1999 28
2.3.2. Giai đoạn 2000-2007 31
2.3.3. Giai đoạn 2008-2013 34
2.3.4. Hiện nay 42
KẾT LUẬN PHẦN 2 43
3. PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH ĐỘC LẬP CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỚI LẠM PHÁT 45
3.1. Phương pháp nghiên cứu 45
3.2. Dữ liệu nghiên cứu 45
3.2.1. Chỉ số độc lập của NHTW 45
3.2.2. Dữ liệu khác 50
3.3. Mô hình nghiên cứu 51

CSTT Chính sách tiền tệ
CSTK Chính sách tài khóa
ECB European Central Bank, Ngân hàng Trung ương Châu Âu
FED Federal Reserve System, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ
FOMC Ủy ban thị trường mở liên bang
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GMT Chỉ số độc lập của NHTW tính theo phương pháp của Grilli,
Masciandaro, and Tabellini (1991)
HĐQT Hội đồng quản trị
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
NĐ Nghị định
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
OMO Nghiệp vụ thị trường mở
PCB Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc
PTA Policy Targets Agreenebt, Cam kết mục tiêu chính sách
PPI Chỉ số giá hàng sản xuất
USD Đô la Mỹ
UNDP United Nations Development Programme, Chương trình Phát triển Liên
Hợp Quốc
TK Thế kỷ
TCTD Tổ chức tín dụng
TNCN Thu nhập cá nhân
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
vi

TOR Chỉ số doanh thu của Thống đốc NHTW
VAT Thuế giá trị gia tăng

Lạm phát luôn được xem là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia bởi lẽ nó có
những tác động rất lớn không chỉ đến đời sống của người dân mà còn có ảnh hưởng
sâu rộng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế. Bên cạnh đó lạm phát cao còn làm gia
tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội và làm tiềm ẩn các nguy cơ bất ổn xã hội.
Trải qua quá trình phát triển, vai trò quan trọng của NHNN Việt Nam trong việc điều
hành CSTT kiểm soát lạm phát ngày càng thể hiện rõ nét hơn, đưa Việt Nam vượt qua
được những giai đoạn vô cùng khó khăn, thử thách trong quá trình phát triển. Tuy
nhiên, đi cùng với sự hội nhập, mở cửa, đồng nghĩa với việc nền kinh tế Việt Nam
phải chịu tác động nhiều hơn từ diễn biến nền kinh tế thế giới, cũng như gia tăng nguy
cơ bất ổn, từ đó mà diễn biến lạm phát ngày càng phức tạp. Chính sách tiền tệ của
NHNN Việt Nam lúc này dần bộc lộ một số hạn chế mà xuất phát điểm là do những
mâu thuẫn mục tiêu, độ trễ, cũng như sự không nhất quán trong thực hiện chính sách.
Từ đó hiệu quả thực thi chính sách sụt giảm, trong đó có bình ổn mức giá (lạm phát).
Bởi vậy, sự độc lập của NHNN Việt Nam trong việc thực thi chính sách tiền tệ là một
vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh đã có nhiều công trình nghiên cứu
cho thấy rằng những quốc gia có NHTW độc lập cao thì sẽ duy trì được mức lạm phát
ở mức hợp lý nhất thông qua việc điều hành các chính sách trở nên linh hoạt hơn, kịp
thời hơn, bám sát những diễn biến phức tạp của thị trường. Hơn thế nữa, theo tìm hiểu
của nhóm nghiên cứu, hiện nay chưa có nghiên cứu định lượng nào xác nhận sự tồn
tại mối quan hệ giữa mức độc lập của NHNN Việt Nam với lạm phát.
Chính bởi những lý do trên, nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài: “c
lp ca NHTW trong mi quan h vi lm phát  Nghiên cu thc t ti Vit
Nam”. Từ đó, nhóm nghiên cứu đưa ra những nhận định về mức độc lập của NHNN
Việt Nam với lạm phát trong hiện tại và gợi ý những đề xuất trong thời gian sắp tới.
Mc tiêu nghiên cu
Nhóm nghiên cứu có ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
(1) Tìm hiểu về tính độc lập của NHTW và mối quan hệ của tính độc lập của
NHTW với lạm phát.
2


Phần 4. Bài học kinh nghiệm và ý kiến đề xuất
 tài
Cả về ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn ứng dụng
Ý nghĩa khoa học: Đề tài thực hiện nghiên cứu bằng phương pháp định lượng đầu tiên
trong kiểm tra mối quan hệ giữa tính độc lập của NHNN với lạm phát. Bên cạnh đó, 1
Chuỗi tỷ lệ lạm phát động từ năm 1996 – 2013.
2
Do hạn chế số liệu, các biến trong mô hình hồi quy được lấy từ năm 2000 – 2013.
3
Tỷ lệ lạm phát động là chuỗi tỷ lệ lạm phát theo thời gian.
3

bài nghiên cứu cũng sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị với phá vỡ cấu trúc để xác định
mối quan hệ này (từ đề tài của Arnone and Romelli, 2013 chỉ áp dụng trên các nước
OECD), áp dụng tại một quốc gia đang phát triển là Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn: Bài nghiên cứu khẳng định mối quan hệ giữa lạm phát với sự độc
lập của NHNN Việt Nam, từ đó đưa ra những ý kiến đề xuất nhằm cải thiện mức độ
độc lập của NHNN hiện tại, hướng tới bình ổn giá cả, phát triển kinh tế.
ng phát trin c tài
Do hạn chế của việc thu thập số liệu, chỉ số độc lập mà nhóm sử dụng để đánh giá
mức độ độc lập của NHNN Việt Nam là chỉ số độc lập pháp định. Tuy nhiên, như lập
luận trong một số các nghiên cứu trước đây ủng hộ chỉ số độc lập thực tế, hạn chế
trong luật pháp cũng như thể chế ở các nước đang phát triển chính là nguyên nhân làm
chỉ số độc lập pháp định không diễn tả chính xác mức độ độc lập của NHTW. Bởi
vậy, khi giải quyết được vấn đề số liệu để đo lường chỉ số độc lập thực tế thì các
nghiên cứu tiếp theo nên sử dụng chỉ số độc lập thực tế để xác nhận lại xem liệu kết
quả về việc tồn tại mối quan hệ này là có còn đúng hay không.

Thời kỳ thứ hai: Những nghiệp vụ ngân hàng cơ bản xuất hiện.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các nghiệp vụ ngân hàng cũng dần phát triển.
Các chủ ngân hàng đã bắt đầu biết sử dụng sử dụng số hiệu tài khoản để ghi chép. Từ
đó, nghiệp vụ bù trừ và chuyển ngân phục vụ cho thanh toán các giao dịch được diễn
ra một cách tiện lợi và nhanh chóng hơn. Các chứng thư do ngân hàng phát hành giúp
các thương nhân có thể dễ dàng nhận tiền ở một ngân hàng khác liên quan. Các hoạt
động trả tiền trước cho thương phiếu chưa đáo hạn theo cách chiết khấu tiền lãi (ngày
nay còn gọi là nghiệp vụ chiết khấu, nghiệp vụ bảo lãnh) bắt đầu xuất hiện.
Thời kỳ thứ ba: Định hình và phát triển hệ thống ngân hàng, hình thành
NHTW.
Từ thế kỷ XVI đến nay, cũng với những bước tiến vượt bậc trong nền văn minh nhân
loại, ngành ngân hàng cũng phát triển và đã, đang là một bộ phận có vai trò vô cùng
5

quan trọng trong nền kinh tế. Bắt đầu từ đây, hệ thống ngân hàng đã được định hình
qua 3 giai đoạn:
Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, các ngân hàng thương mại đã bắt đầu sử dụng kỳ
phiếu và mỗi ngân hàng thương mại sẽ phát hành một loại kỳ phiếu riêng, gây ra tình
trạng khó khăn và cản trở lưu thông hàng hóa do một nước lại có quá nhiều kỳ phiếu
ngân hàng cùng được sử dụng. Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng xảy ra, các kỳ phiếu
của những ngân hàng có quy mô lớn, uy tín ngày càng chiếm ưu thế và lưu thông rộng
rãi. Những ngân hàng vừa và nhỏ lúc này phải sử dụng các kỳ phiếu của các ngân
hàng lớn phát hành, dần dần xuất hiện sự phân hóa giữa các ngân hàng thương mại
phát hành kỳ phiếu (ngân hàng phát hành) và các ngân hàng thương mại không phát
hành kỳ phiếu.
Giai đoạn II (khoảng từ đầu TK XVIII đến đầu TK XX): lúc này quá trình cạnh tranh
giữa các ngân hàng ngày càng mạnh mẽ và gay gắt. Bên cạnh quy luật kẻ mạnh thắng
người yếu thì sự tác động, trợ giúp của chính quyền nhà nước cũng giữ vai trò rất quan
trọng. Thậm chí nhà nước còn can thiệp trực tiếp bằng các ra những sắc luật cho phép
ngân hàng nào được quyền phát hành, tạo nên ngân hàng phát hành độc quyền. Lúc

Là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ, NHTW cũng có 5 mục tiêu chính như các mục
tiêu chính của CSTT bao gồm:
(1) Ổn định giá cả.
(2) Ổn định tỷ giá.
(3) Ổn định hệ thống tài chính.
(4) Tăng trưởng kinh tế.
(5) Tỷ lệ việc làm cao.
Tuy nhiên, có nhiều lý do khiến một NHTW không thể cùng lúc theo đuổi tất cả các
mục tiêu trên, như vì:
- Một số mục tiêu là không tương thích với nhau.
Ví dụ như trong trường hợp “bộ ba bất khả thi”, cụ thể một quốc gia không thể cùng
lúc đạt được cả ba mục tiêu tự do hóa tài chính – Chính sách tiền tệ độc lập – Tỷ giá ổn
định.
- Việc theo đuổi nhiều mục tiêu cùng lúc trong một số trường hợp còn có thể là
không cần thiết.
Theo lý thuyết tăng trưởng kinh tế và việc làm có tương quan chặt chẽ với nhau, nghĩa
là một nền kinh tế tăng trưởng nhanh sẽ tạo ra được nhiều việc làm mới, nên NHTW
không cần phải theo đuổi cả hai mục tiêu trên.
7

- Đồng thời theo đuổi nhiều mục tiêu còn có thể làm hạn chế hiệu quả của chính
sách.
Hiện nay, trước tình hình kinh tế trong và ngoài nước, các biến vĩ mô ngày càng biến
động linh hoạt hơn. Do đó việc theo đuổi nhiều mục tiêu có thể khiến cho hiệu quả về
mặt chính sách bị sụt giảm.
Do những lý do này, các NHTW phải rất thận trọng trong việc lựa chọn mục tiêu cũng
như thứ tự ưu tiên của chúng.
Cha NHTW
- Quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng
- Phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ.

NHTW là một bộ máy của Chính phủ, là cơ quan ngang bộ, chịu sự chỉ đạo trực tiếp
của Chính phủ trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia
Ưu điểm: hoạt động của NHTW nằm trong sự kiểm tra và giám sát trực tiếp của Chính
phủ, vì vậy nó sẽ góp phần thực hiện các nhiệm vụ về kinh tế - xã hội mà Quốc hội đã
giao cho Chính phủ trong từng thời kỳ.
Nhược điểm: làm mất tính độc lập của NHTW trong việc thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ. NHTW có thể thành nơi phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt trong ngân sách
nhà nước, khiến cho hoạt động phát hành tiền không tuân thủ nguyên tắc và có thể dẫn
tới lạm phát.
Phần lớn các quốc gia trên thế giới đang áp dụng mô hình này, trong có đó Việt Nam.
Mô hình NHTW trc thuc quc hi

NHTW có vị trí độc lập so với Chính phủ, được tổ chức và chỉ đạo trực tiếp từ Quốc
hội. Đây là mô hình tiên tiến, phù hợp với xu thế của thời đại, từng bước nâng cao vị
trí NHTW trong nền kinh tế thị trường.
QUC HI
CHÍNH PH 
B 
(Tài chính, K hou 
mi, Công nghip, Nông nghi


tả bởi những điều khoản không cụ thể (ví dụ như tỷ lệ việc làm tối đa), từ đó FED có
thể đề ra các mục tiêu hoạt động. Bởi vậy FED có một mức độ độc lập mục tiêu cao.
Cũng như đối với Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), ổn định giá cả là một mục
10

tiêu bắt buộc, nhưng ECB có thể lựa chọn cách giải thích mục tiêu này với việc tự
định nghĩa về ổn định giá cả và chỉ số giá cụ thể.
Sự độc lập trong công cụ chỉ đề cập đến khả năng của NHTW trong tự do thay đổi các
công cụ chính sách của mình để theo đuổi các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Ngân hàng Anh mặc dù thiếu sự độc lập trong mục tiêu nhưng lại có sự độc lập trong
công cụ. Cụ thể, việc thiết lập nhiệm vụ lạm phát là của Chính phủ, nhưng nó có thể
tự do quyết định công cụ sử dụng. Tương tự như vậy, phạm vi mục tiêu lạm phát của
Ngân hàng Dự trữ New Zealand được thiết lập trong Cam kết mục tiêu chính sách
(Policy Targets Agreement – PTA) với Chính phủ, nhưng theo PTA, nó có quyền sử
dụng công cụ mà không có sự can thiệp.
Theo cánh phân định các khía cạnh độc lập khác được trình bày trong những công
trình nghiên cứu của những tác giả Đặng Hữu Mẫn (2007), Vũ Thành Tự Anh
(2013)…, thì sự độc lập của NHTW được thể hiện trên những khía cạnh chính sau: (i)
độc lập về nhân sự, cơ cấu tổ chức và quản lý; (ii) độc lập về chính sách, và (iii) độc
lập về tài chính.
Độc lập về nhân sự, cơ cấu tổ chức, quản lý:
Khía cạnh đầu tiên của sự độc lập được thể hiện thông qua quyền hạn của Thống đốc
NHTW trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến nhân sự bên trong tổ chức của
mình như bổ nhiệm và miễn nhiệm nhân sự, phân công nhiệm vụ và quyền hạn, chế
độ lương bổng và trợ cấp
Bên cạnh đó, nhiệm kỳ của thống đốc và các nhân sự chủ chốt của NHTW nếu lệch so
với nhiệm kỳ của Quốc hội và Chính phủ, thì mức độ lộc lập của NHTW cũng sẽ được
tăng cường. Đối với một số quốc gia, các vị trí chủ chốt khác của NHTW có chu kỳ
bầu/bổ nhiệm khác nhau, điều này vừa giúp cho công việc của NHTW được trôi chảy
và có tính kế thừa, vừa đảm bảo cho các thành viên được chỉ định bởi các nhiệm kỳ

Thứ ba, Thống đốc có quyền quyết định hầu hết các khoản chi tiêu của NHTW trong
khuôn khổ dự toán ngân sách đã được phê duyệt.
12

1.2.2. c lp ca NHTW
Để đo lường mức độ độc lập của NHTW và tìm kiếm mối liên hệ của nó với các chỉ
số vĩ mô quan trọng như lạm phát, tăng trưởng GDP, đầu tư …các nhà nghiên cứu đã
đo lường mức độc lập của NHTW trên cả ba khía cạnh nhân sự, chính sách, và tài
chính như đã trình bày ở phần 1.2.1. Trên thực tế, vì khái niệm độc lập của NHTW chỉ
có tính tương đối và đa chiều nên nhiều khi không thể đo lường một cách trực tiếp. Do
đó, các khía cạnh độc lập của NHTW sẽ được đánh giá thông qua các chỉ tiêu gián
tiếp.
Có nhiều phương pháp đo lường mức độ độc lập của NHTW được sử dụng phổ biến.
Đầu tiên là thang đo của Bade và Parkin (1982) gồm 4 cấp độ đo lường cho 12 nước
dựa trên sự độc lập về mặt chính trị. Và sau đó vào năm 1988 Alesina đã bổ sung đo
lường thêm 4 nước khác dựa vào thang đo này. Độc lập về chính trị được định nghĩa
theo các tác giả này là liên quan đến mối quan hệ có tính thể chế giữa Chính phủ và
NHTW, về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm của các nhân sự cấp cao của NHTW bởi Thủ
tướng, hay khả năng chi phối về các mục tiêu và công cụ chính sách của các thành
viên Chính phủ trong NHTW.
Hiện nay, hai phương pháp đo lường tính độc lập của NHTW phổ biến nhất là do
Grilli, Masciandaro, and Tabellini (GTM) xây dựng năm 1991và do Cukierman đề
xuất năm 1992. GMT phân biệt khía cạnh độc lập về chính trị (quyền hạn của NHTW
trong việc xây dựng mục tiêu của chính sách tiền tệ) và độc lập về kinh tế (quyền hạn
của NHTW trong việc lựa chọn công cụ để thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ).
Trong khi đó, Cukierman quan tâm về mức độ độc lập về việc bổ nhiệm thống đốc
NHTW, việc hình thành mục tiêu và chính sách của NHTW, và những giới hạn trong
việc NHTW cho chính phủ vay được quy định trong luật.
GMT  Grilli, Masciandaro, and Tabellini (1991) đánh giá mức độ độc lập của
NHTW trên hai phương diện: độc lập về chính trị và độc lập về kinh tế:

thống đốc, (iii) Điều khoản bãi nhiệm thống đốc, và (iv) Khả năng giữ một vị trí khác
trong Chính phủ.
- Hình thành chính sách: (v) NHTW có chịu trách nhiệm xây dựng chính sách tiền tệ
hay không, (vi) Quy tắc liên quan đến việc giải quyết xung đột giữa NHTW và Chính
phủ, và (vii) Mức độ tham gia của NHTW trong việc xây dựng ngân sách của Chính
phủ.
- Mục tiêu của NHTW: (viii) Ổn định tiền tệ là một mục tiêu cơ bản của NHTW.
- Hạn chế đối với việc NHTW cho chính phủ vay: (ix) Tạm ứng trước và (x) Chứng
khoán hóa nợ của chính phủ, (xi) Chính phủ kiểm soát các điều khoản của khoản vay
(thời gian đáo hạn, lãi suất, và quy mô tín dụng), (xii) Độ rộng của những đối tượng
trong diện được phép vay từ NHTW, (xiii) Các loại ràng buộc (nếu có) đối với các
khoản vay từ NHTW, (xiv) Thời hạn của khoản vay từ NHTW, (xv) Những giới hạn
về lãi suất đối với các khoản vay từ NHTW, và (xvi) Việc ngăn cấm NHTW tham gia
thị trường nợ thứ cấp đối với các chứng khoán của Chính phủ.
IMF cũng đưa ra thang đo 4 mức độ về sự độc lập của NHTW ở các nước như sau:
Mức độ độc lập cao nhất là “Độc lập trong việc thiết lập mục tiêu”: ngân hàng trung
ương có quyền quyết định chính sách tiền tệ và chế độ tỷ giá nếu như nó không được
thả nổi (Ví dụ như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ- FED được lựa chọn mục tiêu hoạt động
trong số các mục tiêu có thể xung đột với nhau là tuyển dụng nhân công và ổn định
giá cả).
Mức độ độc lập thứ hai là “Độc lập trong việc xây dựng chỉ tiêu hoạt động”: NHTW
được quyền quyết định chính sách tiền tệ và chế độ tỷ giá. Tuy nhiên không giống với
kiểu độc lập về mục tiêu, độc lập trong việc xây dựng chỉ tiêu hoạt động là việc xây
dựng các chỉ tiêu của một mục tiêu chủ yếu đã được xác định rõ ràng trong Luật. Ví
dụ, Luật quy định mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả thì trong Điều lệ tổ
chức và hoạt động của ECB cũng quy định mục tiêu là ổn định giá cả và ECB được
quyết định chỉ tiêu hoạt động để hoàn thành mục tiêu đó.
15

Mức độ độc lập thứ ba là “Độc lập trong việc lựa chọn công cụ điều hành”: Chính phủ

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nền kinh tế Đức bị tàn phá nặng nề, sản lượng hàng
hóa sản xuất giảm sút nghiêm trọng, nguồn thu ngân sách giảm mạnh, lại phải bồi
thường chiến phí cho các nước đồng minh thắng trận, ngân khố quốc gia cạn kiệt. Để
có tiền chi tiêu duy trì bộ máy, chính phủ Đức đã phát hành một lượng tiền rất lớn, và
kết quả là giá cả hàng hóa tăng một cách chóng mặt. Ví dụ: Giá một tờ nhật báo vào
tháng 1 năm 1921 là 0,3 Mác, đến tháng 11 năm 1923 là 70 triệu Mác! Giá một ly bia
là bốn tỷ Mác, giá một ổ bánh mỳ là 3 tỷ Mác! Chính phủ phải mua thêm nhiều máy
in tiền, nhwng khối lượng tiền tăng lên vẫn chậm hơn tốc độ tăng giá. Đến mức vào
cuối giai đoạn siêu lạm phát, họ phải lấy những đồng tiền trong kho chưa phát hành
đóng thêm vào vài con số zero để phát hành. Tiền không còn thức hiện các chức năng
vốn có của nó. Thị trường tài chính gần như tê liệt. Để đảm bảo mức sống cho cán bộ
công nhân viên chức, chính phủ Đức đã phát lương 2 lần/ngày. Người dân chỉ giữ một
lượng tối thiểu để chi tiêu hằng ngày, mọi khoản tiền chưa tiêu dùng đều gửi hết vào
ngân hàng. Người dân đã mất rất nhiều thời gian để lui tới ngân hàng.
Như vậy, do tài trợ cho chi tiêu ngân sách bằng cách in tiền đã gây ra tình trạng siêu
lạm phát ở Đức giai đoạn 1921 – 1923.
1.3.3. 
Có 3 nguyên nhân chính gây ra lạm phát:
Lạm phát do cầu (còn gọi là lạm phát do cầu kéo): xuất phát từ gia tăng của
tổng cầu, có thể do khu vực tư nhân lạc quan về tình hình kinh tế, nên tiêu dùng và
đầu tư tăng lên, do chính phủ tăng chi tiêu, NHTW tăng cung tiền hay người nước
ngoài mua hàng hóa và dịch vụ trong nước.
Lạm phát do cung (còn gọi lạm phát do chi phí đẩy): xuất phát từ sự sụt giảm
của tổng cung, khi mà chi phí sản xuất của nền kinh tế tăng lên do tiền lương tăng
trong khi năng suất lao động không đổi, thuế tăng lãi suất tăng, thiên tai mất mùa
chiến tranh…, giá các nguyên vật liệu chính tăng cao.
Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ: những nhà kinh tế thuộc trường phái tiền
tệ cho rằng lạm phát là do lượng cung tiền thừa quá nhiều trong lưu thông gây ra.
1.3.4. ng lm phát
17

nói đóng góp thêm vào nhiệm vụ ổn định giá cả ở Việt Nam hiện nay.
Bài nghiên cứu của Vũ Thành Tự Anh (2013) nêu lên mối quan hệ giữa mức độ độc
lập của NHTW và một số chỉ số vĩ mô, đồng thời đưa ra một số mô hình NHTW ở các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status