GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
N5
1 Tiểu luận
Sự độc lập của ngân hàng trung
ương tác động đến việc thực hiện
cơ chế lạm phát mục tiêu*
GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
N5
2
Mục Lục
Tóm tắt 4
1. Giới thiệu: 6
2. Ảnh hưởng của lạm phát mục tiêu và vai trò của CBI: 6
2.1 Dữ liệu 11
2.2 Tóm tắt thống kê: 11
3. Kết quả: 13
Sự độc lập của ngân hàng trung
ương tác động đến việc thực hiện
cơ chế lạm phát mục tiêu*
Sami Alpanda
a
, Adam Honig
a
**
a
Amherst College, Amherst, MA 01002
Tháng 5 năm 2011
GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
N5
4
Tóm tắt
Bài viết này xem xét lợi ích của lạm phát mục tiêu trong nền kinh tế phát triển và mới
nổi. Chúng tôi không tìm ra các ảnh hưởng đáng kể trong nền kinh tế phát triển và mới
nổi, đồng nhất với nghiên cứu trước đây. Tuy nhiên, khi chúng tôi phân biệt tác động
của lạm phát mục tiêu dựa trên mức độ độc lập của ngân hàng trung ương, chúng tôi
GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
N5
6
1. Giới thiệu:
Ngày càng nhiều quốc gia quyết định chọn lạm phát mục tiêu (IT) như là chiến lược
chính sách tiền tệ. Xu hướng này bắt đầu vào đầu những năm 90 với một số ít các nền
kinh tế phát triển. Khoảng đầu những năm 1990, một số quốc gia công nghiệp nữa cũng
theo, cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, ngân hàng trung ương trong
những nền kinh tế mới nổi bắt đầu áp dụng lạm phát mục tiêu (IT). Hiện tại có 8 nước
thuộc nền kinh tế phát triển và 13 nước thuộc nền kinh tế mới nổi đang áp dụng chính
sách tiền tệ này. Ngân hàng trung ương - ngân hàng thực hiện khuôn khổ chính sách
tiền tệ mới này - đã làm vì nhận thức được lợi ích. Lợi ích đó bao gồm việc đạt được
lạm phát thấp hơn và sự biến đổi lạm phát, trong khi vẫn giữ đủ tính linh hoạt để phản
ứng với những cú sốc kinh tế vĩ mô và khả năng ổn định sản lượng đầu ra. Những quốc
gia có thị trường mới nổi đang tìm kiếm cái neo danh nghĩa mà không có sự bất ổn liên
quan với chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
Vì số lượng các nước đã áp dụng lạm phát mục tiêu đang có xu hướng tăng lên, có tài
liệu để xác định thực nghiệm ảnh hưởng lạm phát mục tiêu đến lạm phát trung bình (
INFL), biến động lạm phát (sdINFL), tăng trưởng trung bình (GROWTH), và biến động
tăng trưởng (sd GROWTH) . Nghiên cứu ban đầu tập trung vào các nước công nghiệp
(c.f. Ball and Sheridan, 2005) và nhìn chung, chỉ tìm thấy bằng chứng yếu ớt mà lạm
phát mục tiêu cải thiện hiệu suất kinh tế vĩ mô. Nhiều nghiên cứu gần đây bao gồm các
nền kinh tế mới nổi và xu hướng tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ hơn về tác động tác
phát mục tiêu có thể không hiệu quả để làm cho lạm phát thấp nếu ngân hàng trung
ương có thể bị áp lực về mặt chính trị để hạ tỉ lệ thất nghiệp hay tạo thêm tiền để giảm
thâm hụt tài chính. Tương tự như vậy, độc lập của ngân hàng trung ương thấp có thể
hàm ý rằng những điều kiện đầu mất đi là tốt. Điều này bao gồm ưu tiên về mục tiêu
lạm phát như mục tiêu của chính sách tiền tệ, hạn chế sự thống trị về tài khóa, hạn chế
đô la hoá, và thông tin ngân hàng trung ương hiệu quả, minh bạch và có trách nhiệm
(Batini and Laxton, 2007; Friedman and Ötker-Robe, 2010)[1]. Trong trường hợp này,
lạm phát mục tiêu (IT) sẽ có hiệu quả thấp trong môi trường ngân hàng trung ương độc
lập thấp (CBI). Chúng tôi gọi đây là “Hiệu ứng điều kiện tiên quyết”. Tuy nhiên, một số
quan điểm cho rằng trong thực tế đó có phải là điều kiện tiên quyết cho thành công của
IT hay không? Chắc chắn hầu hết sẽ đồng ý rằng những yếu tố này làm cho bất kỳ chế
độ tiền tệ nào thành công hơn.
GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
N5
8
[1] Chúng tôi thảo luận các điều kiện tiên quyết khác sau đó – mà Sự độc lập của ngân
hàng trung ương (CBI) có thể được tương quan, nhưng ít có khả năng để có một ảnh
hưởng trên quan hệ nhân quả.
Hơn nữa, còn có 1 số tranh luận cho rằng lạm phát mục tiêu có thể thúc đẩy sự phát
triển của một số tính năng này. (Batini and Laxton, 2007; Friedman and Ötker-Robe,
2009; Mishkin, 1999). Do đó, lạm phát mục tiêu (IT) có thể thành công hơn so với các
chinh sách tiền tệ khác khi những yếu tố này đang thiếu và có nhiều cách để cải thiện.
Trong phạm vi những yếu tố này đang thiếu ở nước có CBI thấp, chúng ta có thể mong
đợi hiệu ứng lớn hơn của lạm phát mục tiêu tại nước có CBI thấp. Chúng tôi gọi đây là
ý của chính sách là các nền kinh tế mới nổi không nên chờ đợi cho CBI lớn
hơn trước khi áp dụng lạm phát mục tiêu như là một chiến lược chính sách tiền tệ.
Sau đó, chúng tôi điều tra các kênh có CBI thấp tại các nền kinh tế mới nổi và qua đó
hiệu quả của lạm phát mục tiêu tăng trong việc giảm lạm phát. Đặc biệt, chúng ta xem
xét một vài khía cạnh cùng các nước có CBI thấp có nhiều cải tiến so với các nước có
CBI cao sau khi áp dụng lạm phát mục tiêu. Ví dụ, thông qua lạm phát mục tiêu
có thể mang lại một hiệu quả lớn hơn trên thực tế hoặc tăng CBI cho các quốc
gia CBI thấp như các chính trị gia được giao trong cam kết của họ để làm cho lạm phát
thấp (Mishkin, 1999; Batini vàLaxton, 2007). Liên quan đến điều này, và có lẽ quan
trọng hơn, lạm phát mục tiêu có thể mang về kỷ luật tài chính lớn hơn và giảm thâm
hụt ngân sách quốc gia có CBI thấp, kể từ khi tiếp tục tài trợ thâm hụt ngân sách thông
qua việc tài trợ tiền sẽ gây nguy hiểm cho việc đạt được các lạm phát mục tiêu
(IMF, 2006). Lạm phát mục tiêu cũng có thể dẫn đến giảm đô la hóa, tăng cường hiệu
lực của chính sách tiền tệ và khả năng làm cho lạm phát thấp hơn (Mishkin, 2003).
Lạm phát mục tiêu cũng được kết hợp với những cải tiến nhanh chóng trong cơ
cấu thông qua các ngân hàng trung ương (Batini và Laxton, 2007) và thông tin liên
lạc tăng lên, minh bạch và trách nhiệm giải trình (Mishkin và Schmidt -Hebbel, 2001).
Mặc dù, chúng ta có thể không xác định riêng tất cả các kênh do hạn chế dữ liệu, chúng
tôi tìm thấy bằng chứng cho thấy sự suy giảm trong thâm hụt ngân sách như là một
kênh quan trọng. Đặc biệt, có một sự giảm đáng kể thâm hụt ngân sách ở các nước CIB
thấp sau khi áp dụng lạm phát mục tiêu, nhiều hơn so với các nước có CBI cao
và khi chúng tôi kiểm soát thâm hụt ngân sách trong hồi quy chuẩn, chúng
tôi không còn thấy rằng lạm phát mục tiêu có hiệu quả ở nước có CBI thấp.
GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
N5
10
11
Để tạo điều kiện so sánh với kết quả trước đây và để tách được các thông tin được cung
cấp bằng thước đo CBI, chúng tôi sử dụng cùng phương trình hồi quy (ngoại trừ CBI và
phần tương tác) và thủ tục ước tính tương tự như Brito anh Bystedt (2010). Vì vậy
chúng tôi dự định sử dụng mô hình ước tính hệ thống được phát triển bởi Arellano and
Bover (1995) và Blundell và Bond(1998).
2.1 Dữ liệu:
Dữ liệu từ năm 1980 đến 2006. Theo Brito và Bystedt (2010), chúng tôi tính trung bình
ba năm làm dữ liệu và kết quả trong mẫu với 9 kỳ. Điều này làm giảm đi số lượng sử
dụng, mà là bậc 2 trong T và cũng cung cấp “sự thỏa hiệp hợp lý giữa thời gian đủ cho
sự phản hồi chậm chạp của các biến vĩ mô và phân chia các kết quả xử lý IT từ kết quả
của các sự kiện xảy ra trong trạng thái gần nhất”. Mẫu bao gồm tất cả các nước rằng đã
đáp ứng IT trong suốt các kỳ mẫu tốt như là các nhóm không có mục tiêu. Thời kỳ
không mục tiêu và thời kỳ trước khi có mục tiêu được xem như là điều kiện. Chúng tôi
sử dụng tập hợp các nền kinh tế mới nổi bao gồm cả có mục tiêu và không có mục tiêu,
nhưng Brito và Bustedt (2010), họ đã sử dụng sự kết hợp mẫu của Batini và Laxton
(2007) và Goncalves và Salles (2008). Sự khác nhau duy nhất là 2 quốc gia không có
dữ liệu trên CBI và chúng tôi chỉ có 44 nền kinh té mới nổi đã đối lập với 46. Trong hồi
quy riêng, chúng tôi mở rộng mẫu và bao gồm các nền kinh tế phát triển. Nhóm 22 nền
kinh tế đã phát triển là từ Ball (2010). Các mẫu kết hợp trước đó nữa là gồm 66 nước.
Như các tiêu chuẩn nghiên cứu, chúng tôi xác định ảnh hưởng của IT lên 4 nhân tố của
kinh tế vĩ mô mục tiêu là lạm phát, sản lượng tăng trưởng, độ lệch chuẩn của lạm phát
và độ lệch chuẩn của sản lương tăng trưởng, Thước đo lạm phát và tăng trưởng sản
lượng được đo trong mối tương quan kết hợp CPI và GDP thực (nhân với 100). Với
phương pháp và độ lệch chuẩn sau đó được tính với mỗi thời kỳ 3 năm. Việc kết hợp
trên một phần làm giảm ảnh hưởng của giá trị biến ngoại lai.
Thứ nhất, như đã đề cập ở trên, không phải các quốc gia theo đuổi IT đều có một CBI
cao và có sự thay đổi đáng kể trong các biến của CBI, chúng có thể được khai thác để
xác định được vai trò của CBI.
Thứ hai, phương pháp này cung cấp thông tin bổ sung về CBI ngoài công cụ độc lập.
Như đã thảo luận trong Batini and Laxton (2007), hầu hết ngân hàng trung ương đã có
GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
N5
13
ít nhất công cụ độc lập ngay thời điểm thông qua (IT) lạm phát mục tiêu.[7]. Tuy nhiên,
nhiều thứ bị thiếu trong những khía cạnh khác của (CBI) mà được phản ánh qua các
biện pháp pháp lý, bao gồm sự tự do về nghĩa vụ mua nợ chính phủ, tầm quan trọng của
lạm phát trong những mục tiêu khác, và mức độ cao về an ninh việc làm với thống đốc
ngân hàng trung ương (Batini and Laxton, 2007). Thêm vào đó, thước do “turnover”
cung cấp thông tin an ninh việc làm cho thống đốc. Thứ ba, vấn đề tiềm ẩn với biện
pháp luật pháp là những gì được viết ra trong luật có thể rất khác nhau với thực tế. Điều
này đúng với nền kinh tế mới nổi. Tương tự như thế, công cụ độc lập không bao hàm sự
độc lập trên thực tế. Tóm lại, Cukierman, et al. (1992) lập luận thước đo “turnover”
thích hợp cho nền kinh tế mới nổi hơn biện pháp pháp lý, trong khi đối với các nước
phát triển, biện pháp pháp lý biểu thị rõ về (CBI) sự độc lập của ngân hàng trung ương.
Những vấn đề này được thảo luận thêm trong phần 3 và 4.
Cuối cùng, theo lý thuyết chúng tôi bao gồm một biến giả HIGHINFL đã chỉ ra lạm
phát trung bình cao (>40%) trong thời gian kiểm soát biến động kinh tế vĩ mô mà có thể
khác nhau trong những nước có lạm phát cao (Brito and Bystedt, 2010; Batini and
Laxton, 2007; IMF, 2006). Chúng tôi cũng thử nghiệm với việc loại bỏ lạm phát cao
Bảng 2 trình bày tóm tắt thông tin thống kê được phân theo loại hình quốc gia (phát
triển và mới nổi), chế độ tiền tệ (có mục tiêu và không có mục tiêu, được xác định bằng
biến lạm phát mục tiêu), và sau đó là bằng thời gian (trước và trong lạm phát mục tiêu).
Đối với các quốc gia đã phát triển (mới nổi) không có mục tiêu, lạm phát mục tiêu trung
bình thông qua các nước đã phát triển (mới nổi), 1995 (1999), được sử dụng để chia
mẫu. Theo các nước phát triển, thời kỳ lạm phát mục tiêu được kết hợp với lạm phát
thấp, phát triển cao và lạm phát thấp, đầu ra không ổn định. Tuy nhiên, điều này cũng
thấy ở các nước không theo đuổi lạm phát mục tiêu mặc dù vậy sự chênh lệch là không
nhiều.
Mô hình tương tự cho nền kinh tế mới nổi, mặc dù thời gian được cải tiến cho mục tiêu
là đáng kể hơn so với không có mục tiêu. Theo ví dụ, kinh nghiệm của nền kinh tế mới
nổi có mục tiêu giảm so với lạm phát trung bình của 10%, trong khi không có mục tiêu
là ở điểm 4%. Điều này được gợi lại cho kết quả trước đây trong các tài liệu thu thập
được từ các tài liệu bằng cách ước tính khác nhau trong sự khác biệt. Tuy nhiên, theo
lạm phát trung bình trước và sau lạm phát mục tiêu có thể gây hiểu lầm và có thể phóng
đại các lợi ích của lạm phát mục tiêu. Như đã chỉ ra bởi Brito và Bystedt (2010), kinh
nghiệm mục tiêu có lạm phát trung bình cao hơn không có mục tiêu từ sau năm 1980
và đạt được giữa 1990. Trước lạm phát mục tiêu với lạm phát thấp hơn không có mục
tiêu. Mô hình lạm phát này có thể gây ra vấn đề ước tính khác nhau trong sự khác biệt
là được đặt trên sự khác nhau của lạm phát trước và sau lạm phát mục tiêu. Cuối cùng,
GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
N5
15
bảng 2 chỉ ra rằng các nền kinh tế mới nổi bắt đầu bằng lạm phát trung bình cao và lạm
N5
16
bình như trong kết luận. Ngoài ra, TURNOVER giảm trong các quốc gia CBI thấp theo
lạm phát mục tiêu nhưng gia tăng nhẹ trong các quốc gia CBI cao. Ở phần 4, chúng tôi
dự định làm giảm thâm hụt ngân sách và cải thiện mức đô của CBI như là kênh quan
trọng thông qua lạm phát mục tiêu là thành công trong việc giảm lạm phát của quốc gia
CBI thấp.
Đối với mục tiêu TURNOVER thấp/CBI cao, biến động lạm phát trung bình rớt xuống
3 (1%) sau lạm phát mục tiêu. Trong khi không có mục tiêu rớt xuống điểm 4 (2%).
Với mục tiêu TURNOVER >=0,26, biến động lạm phát trung bình rớt xuống điểm 19
(3%), trong khi không có mục tiêu rớt xuống điểm 7 (2%). Như với lạm phát trung
bình, kinh nghiệm của các quốc gia có TURNOVER cao/CBI thấp, giảm lớn hơn trong
biến động lạm phát bất kể chế độ tiền tệ hơn là có mục tiêu, trong khi các quốc gia có
TURNOVER cao, ngược lại là đúng. Vì vậy mục tiêu lạm phát tốt hơn, liên quan đến
chế độ tiền tệ khác trong các quốc gia CBI thấp.
Đối với mục tiêu TURNOVER thấp/CBI cao, sự tăng trưởng trung bình tăng ở điểm 1
(1,2%) sau lạm phát mục tiêu trong khi không có mục tiêu tăng 1,2 (1%). Với mục tiêu
TURNOVER >=0,26, tăng trưởng trung bình tăng ở điểm 0,6 (1,4%), trong khi không
có mục tiêu tăng ở điểm 0,4 (1,4%). Vì vậy kết quả chỉ ra rằng kinh nghiệm có mục tiêu
hay không có mục tiêu tăng tương tự trong tăng trưởng và cải thiện không đang kể với
mức CBI. Cuối cùng, mục tiêu TURNOVER thấp, CBI cao, biến động tăng trưởng
trung bình rớt xuống diểm 1,3 (8%), trong khi không có mục tiêu rớt xuống điểm 1,8
(1,1%).
3. Kết quả:
Bảng 5 trình bày kết quả từ ước lượng của phương trình (1) mà không có chỉ số CBI
như là một so sánh với những phát hiện trước đó. Tuy nhiên,chúng tôi hạn chế các mẫu
cho các quốc gia có dữ liệu trên CBI.
8
Trong ước lượng điểm chuẩn GMM của chúng
tôi, chúng tôi xem cả biến IT và biến CBI cùng với các biến phụ thuộc trễ như là các
biến hồi quy được xác định trước (mặc dù không hoàn toàn ngoại sinh). Vì vậy, chúng
tôi giả định rằng lạm phát hiện nay không ảnh hưởng đến việc thực hiện IT mặc dù lạm
phát quá khứ có thể. Trong phần 3.2, chúng tôi thử nghiệm với việc xem các biến IT và
CBI là nội sinh.
9
Biến giả HIGHINF được xem như là một biến nội sinh trong tất cả các
phép hồi quy.
GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
N5
18
Kết quả chỉ ra rằng IT liên quan đến chế độ tiền tệ khác,kéo lạm phát trung bình trong
mẫu tổng thể xuống 1.7%, 0.34% ở các nước tiên tiến (nhưng không đáng kể), và 2%
trong nền kinh tế đang nổi lên (p-value = 0.11 ). Kết quả cho cả nền kinh tế phát triển
và nền kinh tế đang nổi lên đều phù hợp với phần lớn các nghiên cứu trước đây. Trong
khi IT được mong đợi làm giảm biến động lạm phát (Cecchetti và Ehrmann, năm 2002),
cột 4 - 6 trong bảng phía trên cho thấy IT không có một tác động đáng kể. Kết quả này
Cuối cùng, HIGHINFL kết hợp cùng chiều với lạm phát trung bình, biến động lạm
phát, và sự biến động tăng trưởng cao hơn, nhưng tăng trưởng bình quân thấp hơn. Đối
với nền kinh tế phát triển, biến được bỏ qua do cộng tuyến vì chỉ có một quốc gia trải
qua một thời kỳ lạm phát cao.
Bảng 6 thể hiện kết quả ước tính từ phương trình (1) với lạm phát trung bình là biến
phụ thuộc mà chúng tôi bao gồm CBI và tương tác của nó với IT. Chúng tôi cung cấp
kết quả cho mẫu đầy đủ, các quốc gia phát triển và các nền kinh tế mới nổi sử dụng
hoặc LEGAL hoặc TURNOVER làm thước đo CBI. Để kiểm tra hiệu quả của IT,
chúng tôi sử dụng hệ số của IT và hệ số IT*CBI. Trong mẫu đầy đủ có định rõ (1) kết
quả đưa đến là IT không ảnh hưởng gì đến lạm phát, bất chấp sự độc lập luật pháp. Tuy
nhiên mẫu đầy đủ chỉ rõ (2), hệ số IT*TURNOVER lại phủ nhận và quan trọng, đưa
đến là IT hiệu quả hơn trong việc giảm lạm phát ở những quốc gia có mức
TURNOVER cao hơn. Cụ thể là, tác động của IT lên lạm phát là 36.3% điểm khác với
các quốc gia có mức TURNOVER cao nhất so với các quốc gia có mức thấp nhất, các
quốc gia khác bằng nhau.Tính toán xa hơn tiết lộ là tác động của IT là phủ định quan
trọng nhưng chỉ đối với các quốc gia TURNOVER lớn hơn hoặc bằng 0.26, cao hơn
chút ít so với mức trung bình của mẫu đầy đủ. Kích thước của ảnh hưởng dự đoán lên
lạm phát trung bình khi TURNOVER bằng 0.26 xấp xỉ -3% điểm. Ảnh hưởng này gia
tăng khi TURNOVER gia tăng đến tối đa là -29.9% điểm đối với quốc gia với
TURNOVER bằng với 1. Vì vậy tác động của IT lên lạm phát trung bình trong mẫu thử
đầy đủ phụ thuộc vào mức độ CBI. Tác động này là bằng chứng, tuy nhiên, chỉ khi
chúng tôi sử dụng TURNOVER làm thước đo CBI. Chúng tôi sẽ giải thích ngắn tại sao
tình hướng như vậy.
9
Các số liệu thống kê tóm tắt trong bảng 2 cho thấy rằng các nước đang lạm phát cao hơn có nhiều khả năng áp
dụng IT, cho thấy khả năng phản hồi, có lẽ với một độ trễ. Do đó, chúng tôi xem IT như là một biến được xác định
0,26. Kích thước của các tác động dự đoán về lạm phát khi TURNOVER bằng 0,26 là -
4,6%. Hiệu ứng này phát triển như TURNOVER tăng đến tối đa là 46,6% khi Turnover
tương đương với 1.
Cuối cùng, các hệ số của quy phạm pháp luật, chính nó là không đáng kể trong cả ba
mẫu. Các hệ số Turnover, chính nó có dấu hiệu dự đoán tích cực và có ý nghĩa quan
trọng trong toàn mẫu và đối với các nền kinh tế đang nổi lên, ngụ ý rằng CBI thấp có
liên quan với lạm phát cao hơn. Chú ý, tuy nhiên, đối với mẫu đầy đủ và nền kinh tế
mới nổi, các hệ số của TURNOVER và IT*TURNOVER tương đương về độ lớn nhưng
GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
N5
21
có dấu hiệu ngược lại. Điều này chỉ ra rằng IT là có thể trung hòa tác động của CBI
thấp lên lạm phát.
Như đã đề cập ở trên, chúng tôi tìm thấy bằng chứng cho thấy IT làm giảm lạm phát
tương đối so với các chế độ khác trong mẫu đầy đủ khi chúng ta sử dụng Turnover như
là một biến CBI, nhưng không đúng khi chúng ta sử dụng quy phạm pháp luật. Quy
phạm pháp luật không có tác dụng đối với các nước tiên tiến, mà dường như không
được hưởng lợi từ IT. Nó cũng không hiệu quả cho các nền kinh tế mới nổi, mặc dù có
nhiều lợi ích từ IT, có lẽ vì các biện pháp pháp lý độc lập không chính xác ở các nước
mới nổi (Cukierman, et al.1992). Trong khi đó, Turnover có tác dụng mạnh mẽ trong
nền kinh tế mới nổi, nhưng nhỏ hơn và có ý nghĩa thống kê yếu hơn (mặc dù vẫn còn
đáng kể) có hiệu lực trong mẫu đầy đủ. Sự sụt giảm trong độ lớn và ý nghĩa với đầy đủ
các mẫu có thể được giải thích bởi thực tế rằng một số các nước tiên tiến có tỷ lệ
nền kinh tế tiên tiến cho tất cả các giá trị của Turnover.
Bảng 8 trình bày các kết quả từ dự toán của phương trình (1) với tốc độ tăng trưởng
trung bình là biến phụ thuộc. Trong các mẫu đầy đủ, IT có liên quan với mức tăng
trưởng thấp hơn trong nước CBI thấp khi chúng tôi sử dụng Turnover là biện pháp của
CBI. Cụ thể, IT đã không có hiệu lực cho tất cả các giá trị của Quy phạm pháp luật
nhưng có một ảnh hưởng tiêu cực đáng kể cho Turnover lớn hơn 0,21. Ở các nền kinh
tế tiên tiến, hiệu quả của IT là tích cực và quan trọng đối với quy phạm pháp luật giữa
0,22 và 0,46, với sự gia tăng tăng trưởng từ 1,5 đến 1,0 %. Hiệu ứng này là không đáng
kể với tất cả các giá trị của Turnover. Đối với nền kinh tế đang nổi lên, ảnh hưởng của
IT là không đáng kể cho tất cả giá trị của quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, hiệu quả là
tiêu cực đáng kể đối với Turnover lớn hơn hoặc tương đương với 0,13. Hiệu ứng này
dao động từ -0,9% khi Turnover bằng 0,13 - 4.3 % khi Turnover tương đương với 1. Vì
vậy một số lượng lớn nền kinh tế tiên tiến với CBI thấp được hưởng tăng trưởng cao
hơn với các chế độ khác như là kết quả của IT, trong khi một số lượng lớn của các nền
kinh tế mới nổi với CBI thấp tăng trưởng thấp hơn. Lưu ý rằng lạm phát danh nghĩa cao
vẫn được tính đến trong dự toán để so sánh dễ dàng hơn với các nghiên cứu trước đã
bao gồm biến này và bởi vì lạm phát cao có thể tác động đến tăng trưởng trong thực tế.
Bảng 9 trình bày các kết quả từ dự toán của phương trình (1) với sự biến động tăng
trưởng là biến phụ thuộc. Đối với mẫu đầy đủ, IT có một tác động nhỏ nhưng với ý
nghĩa tiêu cực cho giá trị rất thấp của Turnover. Đối với nền kinh tế phát triển, IT có
một tác động nhỏ với ý nghĩa tích cực đối với giá trị trung gian của quy phạm pháp luật.
Đối với các nền kinh tế mới nổi, không có tác dụng của luật pháp hay Turnover.
3.1 Chi tiết về lạm phát trong nền kinh tế đang nổi lên:
GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
N5
23
N5
24
ra khả năng xuất hiện nguyên nhân trái chiều từ hiệu suất yếu kém của kinh tế vĩ mô
như lạm phát cao đối với IT điều chỉnh. Ngoài ra, một biến số bị bỏ sót có thể ảnh
hưởng đến cả hiệu suất kinh tế vĩ mô và IT điều chỉnh. Tương tự như vậy, hiệu suất
kinh tế vĩ mô có thể thay thế cho CBI, hoặc trường hợp thứ ba là biến bị bỏ sót có thể
ảnh hưởng đến cả hiệu suất kinh tế vĩ mô và CBI. Trong kiểm nghiệm đầu tiên để xác
định tính chắc chắn, chúng tôi ước tính lại mô hình trong đó xem IT và cả CBI và IT
như là biến nội sinh. Những bảng tính đã sẵn sàng theo như yêu cầu. Đối với lạm phát ở
mức độ trung bình, những kết quả đạt được gần như là đồng nhất được thể hiện ở bảng
số 6. Đối với biến động lạm phát, có một điểm khác biệt duy nhất đó là đối với những
quốc gia tiên tiến, IT không có tác động gì bất chấp giá trị của LEGAL. Đối với sự tăng
trưởng trung bình, những kết quả khác nhau ở chỗ IT có tác động tiêu cực cực kỳ lớn
đối với những giá trị thấp của LEGAL. Đối với sự tăng trưởng không ổn định, kết quả
gần như xác định được. Vì thế, hầu hết kết quả là tương tự nhau khi tính đến nội sinh có
thể của IT và cả IT và CBI.
Thứ hai, lạm phát chậm và TURNOVER là có tương quan dương với nhau. Mặc dù
chúng tôi kết luận rằng lạm phát chậm như là một biến hồi quy độc lập, chúng tôi bỏ
qua điều khoản tương tác IT*INFLt-1 trong hồi quy chuẩn. Điều này có thể dẫn đến
một sự chệch thấp đi đối với hệ số ước tính của IT*TURNOVER, bởi vì sự điều chỉnh
của IT có thể hiệu quả hơn trong trường hợp lạm phát hạ thấp dần khi mà tỷ lệ lạm phát
chậm cao (tức là hệ số của IT*INFLt-1 là âm). Vì thế chúng tôi tính đến IT*INFLt-1
như là một biến hồi quy độc lập thêm vào. Kết quả về biến hồi quy độc lập lạm phát là
không đổi.
trung ương. Cụ thể, bằng việc nhấn mạnh vào khả năng mà ngân hàng trung ương kiểm
soát lạm phát trong một thời gian dài và khả năng mà ngân hàng trung ương không thể
tác động đến sự phát triển lâu dài trong tương lai, lạm phát mục tiêu có thể làm giảm đi
các áp lực chính trị lên ngân hàng trung ương để theo đuổi các chính sách mở rộng
(Mishkin, 1999). Tương tự như vậy, quyền tự trị hợp pháp được chấp thuận đồng thời
với sự thích nghi của lạm phát mục tiêu (Batini and Laxton, 2007). Ví dụ, một vài nước
theo đuổi lạm phát mục tiêu có thể thông qua các luật lệ nhằm cho phép ngân hàng
trung ương có quyền được điều chỉnh lãi suất (Freedman, and Ötker-Robe, 2010). Từ
đó, cho thấy rằng phạm vi điều chỉnh nhằm tăng sự độc lập của ngân hàng trung ương
sẽ lớn hơn khi mà lúc đầu sự độc lập này thấp. Sự độc lập của ngân hàng trung ương
thấp cho phép lạm phát mục tiêu có tác động lớn hơn lên hiệu quả của chính sách tiền
tệ. Thật vậy, theo bài báo cáo trong bảng 3, ở những nước có sự độc lập của ngân hàng