TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT BÌNH
DƯƠNG
ĐỀ TÀI: TÍNH ĐỘC LẬP CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
GIẢNG VIÊN:
THÀNH VIÊN NHÓM: F6
1. Vũ Văn Minh C08K09A4728
2. Vũ Viết Chỉnh C08K09A2089
3. Nguyễn An Khánh C08K09A4684
4. Trần Phú Quốc C08K09A4788
5. Nguyễn Thành Luân C089K09A4712
6. Nguyễn Văn Trường C08K09A1069
NỘI DUNG
I. Sự ra đời Ngân hàng Trung ương và chức năng Ngân hàng Trung ương
1. Tìm hiểu về ngân hàng Trung ương
2. Sự ra đời NHTW, Bản chất và chức năng Ngân hàng Trung ương
II.Vài nét về tính độc lập của NHTW
1.Tính độc lập của NHTW
2. Ổn định giá cả của nền kinh tế
3. Kinh nghiệm của Ngân Hàng dự trữ Newzealand
III.Tính độc lập của NHNN Việt Nam hiện nay và một số đề xuất
1. Tính độc lập của NHNN Việt Nam hiện nay
2. Một số đề xuất
I. SỰ RA ĐỜI NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHỨC NĂNG NHTW
1.Tìm hiểu về Ngân hàng Trung ương
“Có 3 phát minh vĩ đại từ khi bắt đầu sự sống của lồi người: lửa, bánh xe và Ngân
hàng Trung ương" - Will Rogers, một nhà văn hài hước người Mỹ đã vui tính tổng
kết như thế. Từ một góc nhìn cụ thể của nền kinh tế hàng hố về Ngân hàng Trung
ương (NHTW), đa số chúng ta nhất định phải thốt lên: Đúng vậy!
NHTW như chúng ta biết ngày nay thực sự là một trong những phát minh lớn nhất
trong thế kỷ 20 - Lần đề cập đầu tiên được ghi nhận bằng tiếng Anh với khái niệm là
"NHTW - Centrol Bank" vào năm 1873 do Walter Bagehot, sau này là Tổng biên tập
cùng đã bị phá vỡ và hệ thống về chế độ tỷ giá hối đoái cố định bị sụp đổ hoàn toàn
vào năm 1971. Khi các quốc gia dựa vào chế bộ bản vị vàng hay các tỷ giá bị cố
định thì chính sách tiền tệ bị thúc ép bởi nhu cầu duy trì các cân đối hàng – tiền. Chỉ
từ khi các tỷ giá hối đoái đã được phép thả nổi thì mỗi quốc gia đã có thể bắt đầu
thực hiện chính sách tiền tệ của riêng mình dựa chủ yếu trên quan hệ cung – cầu của
bản thân tiền tệ.
Đầu tiên, các chính phủ của các quốc gia nắm giữ quyền kiểm soát chặt chẽ các
phương tiện kiểm soát tiền tệ, Chính phủ luôn “ra lệnh” cho các NHTW phải thay
đổi lãi suất cho phù hợp với tình hình. Nhưng khi lạm phát liên tục bùng nổ, Chính
phủ mới nhận thấy được tầm quan trọng của việc duy trì tính độc lập của NHTW
trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Các nhà chính trị dường như cố tạo ra một sự
bùng nổ (đột biến) trước khi có cuộc bầu cử, hy vọng rằng lạm phát sẽ không gia
tăng cho đến sau khi cuộc kiểm phiếu đã hoàn tất, nhưng một NHTW độc lập cách
biệt với những sức ép chính trị sẽ phải ưu tiên thường xuyên, thậm chí duy nhất về
mục tiêu hoạt động trong việc bình ổn giá cả. Do vậy, nếu có được một sự độc lập
với Chính phủ, thì các chính sách sẽ trở nên linh hoạt hơn, người lao động và các
Doanh nghiệp sẽ điều chỉnh mức lương và giá cả cho phù hợp với việc thắt chặt về
chính sách. Những cuộc tranh luận diễn ra, sức ép của thị trường thông qua các quan
hệ lợi ích của người sử dụng tiền sẽ buộc NHTW phải cắt giảm lạm phát tới mức
tổng thiệt hại phải là nhỏ nhất về sản lượng, thu nhập và công ăn việc làm. Do vậy,
nhiều công trình nghiên cứu trong những năm đầu thập niên 1990 đã thừa nhận rằng
những quốc gia có NHTW độc lập thực sự thì tại quốc gia đó có xu hướng là mức
lạm phát sẽ ở mức đủ thấp một cách hợp lý nhất.
Tuy nhiên cho đến nay hầu như chưa có một NHTW nào là độc lập hoàn toàn. Trước
khi NHTW châu Âu ECB được thành lập, Ngân hàng Trung ương Đức là Ngân hàng
có tính độc lập cao nhất trên thế giới, nhưng Chính phủ Đức vẫn đã bỏ qua lời
khuyên của Ngân hàng này trong việc thiết lập một cơ chế tỷ giá thích hợp cho việc
thống nhất tiền tệ, và sau đó nước Đức đã phải gánh chịu những sức ép về lạm phát.
Các NHTW khác, như Ngân hàng Anh quốc, được trao sự độc lập hoàn toàn trong
việc thiết lập chính sách tiền tệ, nhưng mục tiêu lạm phát lại do Chính phủ đề ra.
Anh: khi tỷ lệ thất nghiệp cao, lạm phát thấp. Điều đó dường như đã làm chúng ta
ngộ nhận để suy đoán rằng các NHTW có thể thường xuyên cắt giảm được tỷ lệ thất
nghiệp thông qua việc nới lỏng tỷ lệ lạm phát?
Một thập niên sau đó, Milton Friedman và Edmun Phels, đã thách thức với lý thuyết
này. Về sự thoả hiệp giữa lạm phát và thất nghiệp, hai nhà khoa học này cho rằng,
chỉ có tính xu hướng đúng trong ngắn hạn, và rằng đó không phải là một qui luật.
Các nhà kinh tế này đã chứng minh: Một khi mọi người đều thấm đẫm mồ hôi bởi tỷ
lệ lạm phát cao hơn, họ sẽ đòi hỏi tiền lương cao hơn. Đến lượt nó, sức mua của một
đơn vị tiền tệ nhỏ đối với mệnh giá cũ cũng sẽ là quá trình xoá dần những “ân huệ”
tăng lương trước đó và thất nghiệp vì vậy sẽ tăng trở lại lên tới tỷ lệ "thất nghiệp tự
nhiên". Sức mua của một đơn vị tiền tệ do đó có khả năng đo lường hiệu quả của thị
trường lao động. Nghĩa là sẽ không có và không thể ảo tưởng về sự thoả hiệp mang
tính lâu dài giữa lạm phát và thất nghiệp: Trong dài hạn, chính sách tiền tệ sẽ quyết
định trạng thái của lạm phát. Nếu các nhà hoạch định chính sách ra sức cố gắng duy
trì thất nghiệp dưới mức thất nghiệp tự nhiên, thì lạm phát sẽ bị đẩy lên cao hơn
ngoài ý chí chủ quan mong muốn.
Đúng như hai ông Friedman và Phelps đã dự đoán, mức lạm phát có liên quan tới tỷ
lệ thất nghiệp đã tăng trong suốt giai đoạn những năm 1970, và các nhà hoạch định
chính sách đã phải từ bỏ mô hình đường cong Phillips. Ngày nay, mọi người đều
nhất trí rộng rãi rằng chính sách tiền tệ nên tập Trung vào việc duy trì mức lạm phát
thấp. Nhưng điều này không có nghĩa là, như thường được hiểu, rằng các NHTW là
"những người thu nhặt lạm phát", ...mà phải hiểu rằng NHTW là người chịu thiệt
thòi vì buộc phải chịu trách nhiệm trước người lao động về tình trạng lạm phát vượt
quá những ngưỡng cho phép.
Nếu không có sự thoả hiệp có tính dài hạn, lạm phát thấp thường không làm cản trở
thường xuyên sự tăng trưởng. Hơn thế nữa, qua việc duy trì lạm phát thấp và ổn
định, một NHTW, về thực tế, đã duy trì ổn định sản lượng và việc làm. Ngài Don
Brash, Thống đốc Ngân hàng Dự trữ New Zealand, đã diễn giải cơ chế hoạt động
của điều đó thông qua sử dụng biểu đồ NAIRU: Đường thẳng thể hiện mức tăng
trưởng của sản lượng khi nền kinh tế duy trì sự ổn định trong dài hạn; đường cong
Ngày nay, sứ mệnh của hầu hết các Ngân hàng Trung ương trên thế giới là chịu trách
nhiệm xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia thông qua các công cụ
và giải pháp nhằm đạt tới các mục tiêu chính sách đã đề ra; chịu trách nhiệm về
sự vận hành trôi chảy của hệ thống thanh toán và sự bình ổn của hệ thống tài
chính và Ngân hàng Trung ương là người cho vay cứu cánh cuối cùng. Vì vậy,
mục tiêu hoạt động đầu tiên và cũng là quan trọng nhất của Ngân hàng Trung
ương là mục tiêu của chính sách tiền tệ. Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền
tệ hầu như thống nhất ở các nước đó là ổn định giá trị đồng bản tệ, tạo tiền đề
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Ngoài các mục tiêu vĩ mô
này, tuỳ thuộc vào trạng thái của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, các Ngân hàng
Trung ương còn có thể lựa chọn cho mình thêm một số mục tiêu cụ thể khác.
Ngân hàng Trung ương (có khi gọi là Ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về
tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc
gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ. Mục đích hoạt
động của Ngân hàng Trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền,
kiểm soát lãi suất, cứu các Ngân hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ. Hầu hết các
Ngân hàng Trung ương thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có một mức độ độc
lập nhất định đối với Chính phủ.
a) Sự ra đời của Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng Trung ương ra đời chính thức đầu tiên ở Châu Âu, vào thế kỷ 17. Khi
ấy, tiền mặt lưu hành vẫn chủ yếu dưới dạng vàng và bạc, tuy rằng, các tờ cam kết
thanh toán đã được sử dụng rộng rãi như là những biểu hiện của giá trị ở cả Châu Âu
và Châu Á. Ngược lại 500 năm trước đấy, Tổ chức Hiệp sĩ dòng Đền thời Trung Cổ
sử dụng một cơ chế có thể nói là hình mẫu đầu tiên của Ngân hàng Trung ương.
Các giấy tờ cam kết thanh toán của họ được chấp nhận rộng rãi, và nhiều người cho
rằng các hoạt động này đặt nền tảng cơ bản cho hệ thống Ngân hàng hiện đại. Cùng
thời gian đó, Thành Cát Tư Hãn phát hành tiền giấy ở Trung Hoa, và áp đặt sử dụng
loại tiền này bằng bạo lực nhằm thu giữ vàng bạc.
Ngân hàng Trung ương đầu tiên là Ngân hàng Thụy Điển năm 1668 với sự giúp đỡ
của các doanh nhân Hà Lan. Ngân hàng Anh ra đời tiếp sau đó năm 1694 bởi doanh
Ngân hàng của các tổ chức tín dụng
Ngân hàng Trung ương thực hiện công việc tái chiết khấu các hối phiếu đối với các
tổ chức tín dụng, cấp vốn thông qua cho vay đối với các tổ chức này (đồng thời qua
đây kiểm soát lãi suất).
Ngân hàng Trung ương còn mua và bán các giấy tờ có giá, qua đó điều tiết lượng
vốn trên thị trường.
Ngân hàng Trung ương có quyền yêu cầu các Ngân hàng thương mại mở tài khoản
tại chỗ mình và các Ngân hàng phải gửi vào tài khoản của họ một lượng tiền nhất
định. Thông thường lượng tiền này được quy định tương đương với một tỷ lệ nào đó
tiền gửi vào Ngân hàng thương mại, gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Trong trường hợp có tổ chức tín dụng gặp nguy cơ đổ vỡ làm ảnh hưởng đến cả hệ
thống tài chính của quốc gia, Ngân hàng Trung ương sẽ tái cấp vốn cho tổ chức tín
dụng đó để cứu nó. Vì thế, Ngân hàng Trung ương được gọi là người cho vay cuối
cùng (hay người cho vay cứu cánh).
Ngân hàng của Chính phủ
Ở nhiều nước, Ngân hàng Trung ương là người quản lý tiền cho chính phủ. Chính
phủ sẽ mở tài khoản giao dịch không lãi suất tại Ngân hàng Trung ương. Tuy nhiên,
ở một số nước, chẳng hạn như ở Việt Nam, chức năng này do kho bạc đảm nhiệm.
Ngân hàng Trung ương còn làm đại diện cho chinh phủ khi can thiệp vào thị trường
ngoại hối.
II. Vài nét về tính độc lập của NHTW
1. Tính độc lập của NHTW
Xem xét tính độc lập của NHTW là một vấn đề lớn, đòi hỏi phải nghiên cứu thật
chuyên sâu, rạch ròi. Tuy nhiên, trong phạm vi báo cáo này, chúng ta chỉ nghiên
cứu để tiếp cận vấn đề này ở mức độ sơ lược và cơ bản nhất với mục đích là phát
hiện ra những vấn đề chính trong tính độc lâp của NHTW để từ đó chứng minh được
vai trò của nó đối với sự ổn định của một quốc gia.
Trong suốt những năm 90 của thế kỷ XX, tính độc lập của NHTW được xem như
nền tảng của những cải cách về mặt thể chế để giảm sự can thiệp bất hợp
lí của chính trị đến quá trình xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ nhằm
hay tỷ lệ tăng trưởng cao có thể đạt được trong ngắn hạn thông qua chính sách mở
rộng và tỷ lệ lạm phát cao. Tuy nhiên, trong dài hạn, sự tăng trưởng kinh tế và giảm
thất nghiệp không được duy trì, bởi vì năng lực của nền kinh tế có giới hạn, trong
khi đó, tỷ lệ lạm phát có thể tiếp tục tăng.
Thứ ba, ổn định giá cả sẽ thúc đẩy hệ thống kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn và
do đó làm tăng được mức sống xã hội. Nếu giá cả không ổn định sẽ khiến cho xã hội
phải gánh chịu một số phí tổn kinh tế mà chi phí cơ hội là một ví dụ rõ ràng nhất.
Ngoài ra, tình trạng giá cả bất ổn còn có thể khiến các quyết định đầu tư sản xuất trở
nên khó khăn hơn, lòng tin của công chúng đối với hệ thống tài chính tiền tệ sụt
giảm, các áp lực về tiền lương, thuế khoa tăng lên rất nhanh,…