TÍNH ĐỘC LẬP CỦA NGÂN HÀNG TRUNG
ƯƠNG - CHÌA KHÓA ĐỂ ỔN ĐỊNH GIÁ,
KINH NGHIỆM
CỦA NEW ZEALAND VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
CENTRAL BANK INDEPENDENCE – A KEY
TO PRICE STABILITY- THE EXPERIENCE OF
NEW ZEALAND AND SOME SUGGESTED
SOLUTIONS FOR VIET NAM ĐẶNG HỮU MẪN
Trường Đại học Kinh tế, Đại
học Đà Nẵng TÓM TẮT
Ổn định giá cả, ổn định sức mua của đồng tiền là
nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của một ngân
hàng trung ương (NHTW). Duy trì mức lạm phát
thấp và hợp lý trong một khoảng thời gian dài là
dấu hiệu cho sự hoạt động hiệu quả một NHTW.
Nhiều học giả đã cho rằng một phần lớn trong kết
quả của sự giảm lạm phát từ nửa đầu thập kỷ 80 của
thế kỷ XX trên toàn thế giới có sự đóng góp quan
trọng của những mô hình NHTW độc lập. Bài viết
không xem xét toàn bộ những nội dung trong tính
độc lập của NHTW, thay vào đó, tác giả chỉ nghiên
cứu để tiếp cận vấn đề này ở mức độ sơ lược và cơ
bản nhất với mục đích phát hiện ra những vấn đề
chính trong tính độc lập của NHTW, từ đó chứng
vững. Không một nền kinh tế nào có thể tăng trưởng
bền vững nếu phải đối mặt với mức lạm phát quá cao.
- Thứ hai, sự đánh đổi giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ
thất nghiệp diễn ra không lâu dài. Đường cong Phillips
mô tả mối quan hệ thực nghiệm về tỷ lệ thất nghiệp thấp
hay tỷ lệ tăng trưởng cao có thể đạt được trong ngắn hạn
thông qua chính sách mở rộng và tỷ lệ lạm phát cao.
Tuy nhiên, trong dài hạn, sự tăng trưởng kinh tế và giảm
thất nghiệp không được duy trì, bởi vì năng lực của nền
kinh tế có giới hạn, trong khi đó, tỷ lệ lạm phát có thể
tiếp tục tăng.
- Thứ ba, ổn định giá cả sẽ thúc đẩy hệ thống kinh
tế hoạt động hiệu quả hơn và do đó làm tăng được mức
sống của xã hội. Nếu giá cả không ổn định sẽ khiến cho
xã hội phải gánh chịu một số phí tổn kinh tế mà chi phí
cơ hội là một ví dụ rõ ràng nhất.
Ngoài ra, tình trạng giá cả bất ổn còn có thể khiến
các quyết định đầu tư sản xuất trở nên khó khăn hơn,
lòng tin của công chúng đối với hệ thống tài chính tiền
tệ sụt giảm, các áp lực về tiền lương, thuế khóa tăng lên
nhanh chóng,
1.2. Tính độc lập của NHTW (Central Bank
Independence)
Trong suốt những năm 90 của thế kỷ XX, tính độc
lập của NHTW được xem như là nền tảng của những cải
cách về mặt thể chế để giảm sự can thiệp bất hợp lý của
chính trị đến quá trình xây dựng và điều hành chính
sách tiền tệ (CSTT) nhằm đạt được mục tiêu ổn định giá
cả. Lý do dẫn đến cuộc cải tổ này đó là việc xây dựng
và điều hành CSTT mà có sự can thiệp chính trị thường
- Hoạt động nghiên cứu khảo sát ở 2 giai đoạn, giai
đoạn thứ nhất 1955-1988 và giai đoạn thứ hai 1988-
2000.
- Đối tượng nghiên cứu là hầu hết các quốc gia
thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD. Sự
phát triển kinh tế đã tăng số lượng các quốc gia Công
nghiệp, vì vậy độ rộng của mẫu nghiên cứu ở giai đoạn
sau là lớn hơn nhiều.
- Công trình nghiên cứu lấy New Zealand (cụ thể là
Ngân hàng Dự trữ New Zealand) làm trung tâm để xem
xét, so sánh và đánh giá. Không phải ngẫu nhiên mà
người ta lấy New Zealand làm trung tâm nghiên cứu.
Lịch sử cho thấy New Zealand là một trong số các quốc
gia đầu tiên và thành công nhất của OECD trong việc
bình ổn giá cả, thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu
và là quốc gia có những bước cải cách căn bản đầu tiên
trong hoạt động của NHTW. Vấn đề này sẽ được tác giả
trình bày rõ hơn ở phần sau.
- Biểu đồ 1: mô tả sự biến động mức lạm phát qua
các giai đoạn.
- Biểu đồ 2: thể hiện sự thay đổi tính độc lập của
NHTW mỗi quốc gia trong 2 giai đoạn khác nhau. Để
đo lường tính độc lập, ở 2 khoảng thời gian này các nhà
nghiên cứu đã lựa chọn một vài nhân tố chung bao gồm:
độc lập về mặt nhân sự (Personnel independence), độc
lập về mặt tài chính (Financial independence) và độc lập
về mặt chính sách (Policy independence), riêng độc lập
về mặt chính sách bao gồm độc lập về mục tiêu (Goal
independence) và độc lập trong sử dụng các công cụ
(Instrument independence). Từ đó, họ lượng hóa tính
bình từ 5,6% trong giai
đoạn 1955-1988 xuống
còn 2,7% trong giai
đoạn 1988-2000 (xem
biểu đồ 1). Một trong
những câu chuyện thành
công khác thường nhất
là New Zealand, với
7,6% trong khoảng thời
gian đầu xuống còn
2,7% trong giai đoạn
sau. Nhiều học giả đã
quy sự cải tiến này cho
chính sách lạm phát mục
tiêu mà New Zealand đã
thực hiện vào năm 1989,
nhưng điều này sẽ là
phiến diện nếu chỉ tin
vào một mình sự ảnh
hưởng của chính sách
lạm phát mục tiêu.
Quay trở lại thời điểm năm 1989, hoạt động của
Ngân hàng Dự trữ New Zealand đã có bước đột phá với
2 cải cách lớn: thứ nhất, Ngân hàng Dự trữ được độc lập
nhiều hơn với Chính phủ. Thứ hai, đã thiết lập được một
chính sách lạm phát mục tiêu rõ ràng mà sau này nhiều
quốc gia đã lần lượt áp dụng. Xét về sự độc lập tối thiểu
của một NHTW, Ngân hàng Dự trữ New Zealand lúc
bấy giờ đứng vào tốp đầu tiên.
hàng Dự trữ New Zealand:
- Để ổn định giá cả, Quốc hội New Zealand đã đưa
Chính sách lạm phát mục tiêu vào trong hiến pháp. Việc
lượng hóa mục tiêu lạm phát là kết quả của sự trao đổi
“công bằng, nghiêm túc” giữa Chính phủ và NHTW.
- NHTW New Zealand được phép xem xét tác động
và đề xuất những kiến nghị để giải quyết những tình
huống có thể ảnh hưởng đến sự ổn định giá, như sự biến
động của kim ngạch xuất nhập khẩu, các loại thuế,
- NHTW New Zealand được thực sự độc lập trong
việc theo đuổi mục tiêu CSTT mà không bị hạn chế về
mặt kỹ thuật, ngoại trừ trường hợp là việc thực hiện
CSTT phải cân nhắc đến tính hiệu quả và sự ổn định của
hệ thống tài chính. Đặc biệt, ngân hàng này được toàn
quyền quyết định các điều kiện tiền tệ (như các khối tiền
M1, M2, M3, lãi suất, tỷ giá, ) trên cơ sở một thỏa ước
với Bộ Tài chính và sự cân nhắc các ý kiến đóng góp
của các cơ quan chức năng khác.
- Trong quá trình quản lý ổn định giá, Ngân hàng
Dự trữ đã rút ra một số kết luận sau đây:
+ “Việc làm giảm lạm phát và duy trì mức lạm phát
mong muốn thấp là tương đối dễ dàng so với việc kiểm
soát chặt chẽ mức lạm phát trong phạm vi khung lạm
phát” [A, 2, p102].
+ Việc theo đuổi quá nhiều mục tiêu sẽ hạn chế
năng lực và tính chủ động của một NHTW, hay nói cách
khác, “việc NHTW tập trung giải quyết quá nhiều trách
nhiệm đối với Chính phủ sẽ làm giảm sút tính linh hoạt
của nó” [1, 1].
Những chủ trương mới này đã cho phép NHTW đề
mối quan hệ khắng khít giữa tính độc lập của NHTW và
mức lạm phát (trong nhóm các quốc gia nghiên cứu),
hay nói cách khác, khi NHTW của những nước này có
quá ít tính độc lập thì mức lạm phát chung thường rất
cao và ngược lại. Giai đoạn thứ hai cho thấy mối quan
hệ này đã trở nên kém rõ ràng hơn, tuy nhiên biểu đồ 3
vẫn cho thấy có một mối quan hệ rất mật thiết giữa tính
độc lập và tỷ lệ lạm phát bình quân. Hơn nữa, sự tác
động của tính độc lập của NHTW vào mức lạm phát là
xuyên suốt mọi thời gian, và kết quả này không chỉ
đúng với New Zealand mà còn phù hợp với các quốc gia
còn lại.
Từ những kết quả ở biểu đồ 3, chúng ta có thể
khẳng định chắc chắn rằng sự giảm xuống trong tỷ lệ
lạm phát ở New Zealand (trung bình 4,2%) nhờ chủ yếu
vào sự tăng lên mạnh mẽ tính độc lập của Ngân hàng
Dự trữ New Zealand. Và người ta tính toán rằng nếu
như New Zealand trong giai đoạn thứ nhất có Điểm số
độc lập của NHTW cao như ngày nay thì mức lạm phát
sẽ chỉ là 3,4% thay vì 7,6% như đã tồn tại. Biểu đồ 3
cũng khiến các nhà kinh tế đi đến một sự tổng kết rằng
nếu có sự tăng lên trong tính độc lập của NHTW thì
mức lạm phát chung trên toàn thế giới sẽ giảm từ 5,6%
xuống còn 3,8%. Thực tế, tỷ lệ lạm phát bình quân trên
toàn thế giới là 5,6% (giai đoạn 1955-1988) và 2,7%
(giai đoạn 1988-2000).
Như vậy, với những bằng chứng đưa ra cho thấy
rằng đã có một mối quan hệ về mặt nguyên tắc hết sức
rõ ràng giữa tính độc lập của một NHTW và mức độ
lạm phát trong dài hạn. Một NHTW độc lập là cách thức
sung vào lưu thông hằng năm cũng do Chính phủ quyết
định, NHNN có trách nhiệm điều hành trong phạm vị đã
được duyệt,… Trong khi chức năng NHTW chưa được
khẳng định rõ nét, NHNN lại có trách nhiệm thực hiện
nhiều nhiệm vụ thuộc về chức năng quản lý nhà nước.
Ngoài ra, vì là cơ quan của Chính phủ nên có khi
NHNN phải thực hiện những nhiệm vụ không phù hợp
với mục tiêu của CSTT, chẳng hạn như tái cấp vốn để
khoanh, xoá nợ các khoản vay của NHTM Nhà nước
Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế
hiệu quả hoạt động của NHNN, nhất là trong việc thực
hiện mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền.
3.2. Một số đề xuất
- NHNN phải được quyền quyết định các định
hướng, giải pháp trong xây dựng và điều hành CSTT
quốc gia cũng như trong việc thực hiện các chức năng
khác của NHTW. Tất nhiên, song song với các thẩm
quyền được trao, NHNN phải chịu trách nhiệm trước
Quốc hội về kết quả điều hành CSTT và thực hiện các
chức năng của NHTW.
- Cần tránh khuynh hướng cho rằng, nâng cao vai
trò độc lập của NHTW nghĩa là NHTW thoát ly hoàn
toàn khỏi Chính phủ. Mục tiêu cuối cùng của CSTT và
cũng là mục tiêu hoạt động của NHTW là ổn định giá
cả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, cần thiết lập
các quy định pháp lý về mối quan hệ giữa NHTW với
Chính phủ nhằm bảo đảm hoạt động của NHTW hỗ trợ
tốt cho các chương trình kinh tế của Chính phủ:
+ NHTW tham gia vào việc soạn thảo các chương
trình, chính sách kinh tế của Chính phủ và đề đạt ý kiến
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Nguyễn Hoài Bảo (2005), Câu chuyện lạm phát
Việt Nam 2004-2005,
[2]. TS. Nguyễn Duệ (2000), Chính sách mục tiêu lạm
phát, NXB Thống kê, Hà Nội.
[3]. Bùi Duy Hưng (2006), Lạm phát mục tiêu - Kinh
nghiệm một số nước và thực tế Việt Nam, Tạp chí
Ngân hàng số 16.
[4]. Lê Minh Hưng (2006), NHTW hiện đại - Mô hình
kiềng ba chân,
[5]. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2003), NXB
Chính trị Quốc gia.
[6]. ThS. Trương Văn Phước (2006), Các mục tiêu của
NHTW trong nền kinh tế thị trường,
[7]. TS. Vũ Quang Việt (2004), Lạm phát Việt Nam -
Vài lời bình luận, Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 20-
2004.
[8]. Charles Carlstrom and Timothy Fuerst (2006),
Central Bank Independence, Reserve Bank of New
Zealand,
/>f.
[9]. Sandra Dvorsky (2000), Measuring Central Bank
Independence,
Paper 13.pdf.