MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát thanh là loại hình báo chí sử dụng ngôn ngữ âm thanh tổng hợp, bao
gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc, tác động trực tiếp vào thính giác của đối
tượng tiếp nhận. Trong ba thành tố của ngôn ngữ phát thanh, lời nói đóng
vai trò then chốt. Cũng như lời nói tự nhiên của con người, lời nói báo phát
thanh được tạo thành từ ba yếu tố: từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp (mà đứng ở
bình diện báo phát thanh, có thể gọi đại ý là ngôn từ và cách đọc, nói trên
sóng). Ba yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, bình đẳng trong việc giúp lời
nói thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền.
Để lời nói đạt chất lượng, hiệu quả cao, mỗi nhà báo phát thanh cần nắm
vững cách thức sáng tạo, sử dụng từ vựng, ngữ pháp, cách thức đọc, nói trên
sóng. Trên thực tế, không phải nhà báo nào cũng biết cách sử dụng lời nói
phù hợp. Nhiều nhà báo còn chủ yếu viết, đọc, nói theo kinh nghiệm cá nhân.
Có những cách viết, cách đọc, nói đúng, hấp dẫn. Nhưng cũng không ít trường
hợp viết sai, đọc, nói vô cảm, ảnh hưởng đến hiệu quả thông tin.
Do vậy, cần có những khảo sát, đánh giá thực tiễn một cách cụ thể, chính xác,
toàn diện thực trạng sử dụng lời nói tiếng Việt trên Đài phát thanh Việt Nam
hiện nay - mà đại diện tiêu biểu nhất là Đài TNVN, từ đó, nêu ra những vấn đề
còn tồn tại, đề xuất hướng giải quyết nhằm góp phần nâng cao chất lượng,
hiệu quả lời nói phát thanh là một việc làm cần thiết. Đó là lý do chúng tôi
lựa chọn đề tài: “Lời nói trong báo phát thanh Việt Nam hiện nay” (Khảo sát
các chương trình trên hệ VOV1, VOV2, VOVGT - Đài TNVN từ tháng 6/2008-
6/2010) làm đề tài cho luận án Tiến sĩ chuyên ngành báo chí học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là đánh giá một cách toàn diện về cách thức sử dụng
ngôn từ và cách đọc, nói của nhà báo phát thanh Việt Nam hiện nay, từ đó,
nêu lên được những vấn đề đang đặt ra đối với việc sử dụng, sáng tạo lời nói
trong báo phát thanh hiện nay và hướng giải quyết những vấn đề đó nhằm
giúp lời nói phát thanh đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất.
độ, cường độ, trường độ, nhịp độ, âm sắc như thế nào để có thể đọc, nói
truyền cảm? Nên khai thác các phương tiện ngữ âm khác như: chất giọng,
cách kết hợp giọng, cách ngừng lời, cách phát âm… trong các chương trình
ra sao để đảm bảo lời nói đạt được hiệu quả cao nhất?
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài này là Chủ nghĩa Mác-Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vai
trò, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động của báo chí cách mạng; của
mối quan hệ giữa báo chí với các hình thái ý thức xã hội khác
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài này là lý luận báo chí và báo chí phát
thanh; Luật báo chí và những quy định về đạo đức nhà báo Việt Nam. Trong
quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng kế thừa một số quan điểm lý thuyết về
ngôn ngữ học nói chung, ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ báo phát thanh nói
riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu tư liệu: nghiên cứu một số sách, báo, tài liệu về
ngôn ngữ học, ngôn ngữ báo chí, báo phát thanh, ngôn ngữ báo phát thanh
để tìm kiếm những kiến thức lý thuyết phục vụ cho mục đích nghiên cứu của
đề tài.
-Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tổng số chương trình được chúng tôi
chọn khảo sát, phân tích, nêu đánh giá, nhận xét là 60 chương trình, trong đó,
mỗi chương trình có thể được khảo sát ở nhiều số phát sóng khác nhau, từ
tháng 6/2008 đến 6/2010. Trong số các chương trình phát sóng được chọn
khảo sát, chúng tôi lựa chọn 100.000 từ ở 12 thể loại và phi thể loại khác
nhau để khảo sát về tỉ lệ sử dụng các lớp từ; lựa chọn 10.000 câu ở 39
chương trình khác nhau để khảo sát tỉ lệ sử dụng các yếu tố thuộc về câu;
chọn 480 tin, bài ở 48 chương trình để nhận xét cách vận dụng ngữ điệu đọc,
nói trên sóng; chọn 165.138 âm tiết để khảo sát tốc độ đọc, nói v.v.
-Phương pháp thống kê: Thống kê các lớp từ, thống kê số lượng câu, số lượng
thanh? Từ thực tế khảo sát, luận án đề xuất cách thức sử dụng từ vựng phù
hợp.
Thứ ba, luận án trả lời các câu hỏi về cách sử dụng câu của nhà báo như: Có
những kiểu dạng câu nào được sử dụng trong lời nói phát thanh? Kiểu dạng
câu nào phổ biến, kiểu dạng câu nào không phổ biến? Kiểu dạng câu nào phát
huy được hiệu quả thông tin và kiểu dạng câu nào còn hạn chế, bất cập? Từ
thực tế đó, luận án đề xuất cách thức khắc phục hạn chế.
Thứ tư, về phương diện đọc, nói trên sóng, luận án làm sáng tỏ những khía
cạnh như: Có bao nhiêu phương thức thể hiện lời nói trên sóng? Đặc điểm của
mỗi phương thức thể hiện này là gì? Nhà báo phát thanh đang vận dụng các
yếu tố ngữ điệu và các phương tiện ngữ âm khác như thế nào? Cũng trên cơ
sở khảo sát, chúng tôi nêu những vấn đề đặt ra trong việc đọc, nói và thảo
luận về hướng giải quyết chúng.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
7.1. Ý nghĩa lý luận: Nếu được thực hiện thành công, luận án sẽ góp phần làm
phong phú thêm kiến thức lý thuyết về phương thức sáng tạo ngôn từ và
phương thức đọc, nói trên sóng phát thanh. Những kết quả của luận án còn
là cơ sở cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo về ngôn ngữ phát thanh.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận án hy vọng sẽ là tài liệu tham khảo cho đội ngũ
PV, BTV, PTV, người dẫn chương trình, các nhà quản lý ở các Đài phát thanh,
giúp họ sáng tạo lời nói đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn.
Luận án còn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy, học tập báo
phát thanh ở bậc Đại học và sau Đại học.
8. Kết cấu Luận án
Ngoài Mở đầu, Tổng quan nghiên cứu của đề tài, Kết luận, Danh mục tài liệu
tham khảo, Danh mục các công trình của tác giả có liên quan đến đề tài và
Phụ lục, các nội dung chủ yếu của luận án được thể hiện trong 4 chương, 11
tiết, 200 trang.
dụng lời nói của nhà báo phát thanh Đài TNVN. Lý luận và thực tiễn về lời nói
báo phát thanh vẫn còn một khoảng trống lớn cần được nghiên cứu, bổ sung.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LỜI NÓI TRONG BÁO PHÁT THANH VIỆT
NAM HIỆN NAY
1.1. MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ, LỜI NÓI VÀ CÁC THÀNH TỐ CỦA LỜI
NÓI
1.1.1. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói
Lời nói chính là ngôn ngữ đang hành chức, ngôn ngữ ở dạng hoạt động. Lời
nói lấy ngôn ngữ làm chất liệu. Không có ngôn ngữ thì không có lời nói,
nhưng ngược lại, lời nói lại cần thiết cho ngôn ngữ được xác lập và phát
triển. Không có lời nói, ngôn ngữ sẽ bị diệt vong.
1.1.2. Các thành tố của lời nói
Lời nói gồm 3 thành tố là ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.
Ngữ âm là hệ thống các tín hiệu âm thanh được phát ra khi con người thực
hiện quá trình giao tiếp, vừa nhằm biểu đạt nội dung thông tin, vừa nhằm tạo
sự biểu cảm của lời nói. Từ vựng là toàn bộ các từ, cụm từ cố định của một
ngôn ngữ, là vật liệu xây dựng nên ngôn ngữ và lời nói. Thành phần của từ
vựng là các lớp từ, bao gồm: lớp từ khẩu ngữ, lớp từ trung hòa về phong
cách, lớp từ thuộc phong cách viết. Ngữ pháp là toàn bộ các quy tắc biến đổi
và kết hợp từ thành cụm từ, câu.
1.2. MỐI QUAN HỆ GIỮA LỜI NÓI BÁO PHÁT THANH VÀ NGÔN NGỮ BÁO
PHÁT THANH
1.2.1. Báo phát thanh và đặc trưng loại hình
Báo phát thanh có những đặc thù ảnh hưởng trực tiếp tới yêu cầu sử dụng
lời nói của nhà báo như: phương tiện chuyển tải thông tin duy nhất là âm
thanh tổng hợp gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc; tác động trực tiếp qua tai
đối tượng tiếp nhận; cung cấp thông tin cùng lúc tới hàng triệu thính giả
nhưng thực ra lại là nói với từng cá nhân riêng biệt; thông tin phụ thuộc vào
1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ LỜI NÓI TRONG BÁO PHÁT THANH VIỆT
NAM HIỆN NAY
1.3.1. Sơ lược về diện mạo báo phát thanh Việt Nam hiện nay
Việt Nam hiện nay có 1 đài phát thanh Quốc gia (Đài TNVN), 63 đài phát
thanh địa phương cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hơn 800 đài
phát thanh, truyền thanh cấp huyện và gần 8000 đài truyền thanh cấp xã.
Hiện nay, có nhiều dạng thức tồn tại của phát thanh: phát thanh phát trên
mạng internet (radio on internet), phát thanh internet (radio online), phát
thanh trên điện thoại (radio mobile), Podcasting, phát thanh có hình
Đài TNVN cơ bản đã đáp ứng những tiêu chí của một đài phát thanh hiện đại.
Nhiều vấn đề đặt ra về cách sử dụng ngôn từ, cách đọc, nói trên sóng ở Đài
TNVN cũng chính là những vấn đề đang đặt ra đối với nhiều đài phát thanh
địa phương ở Việt Nam hiện nay.
1.3.2. Chủ thế của lời nói trong báo phát thanh hiện nay
1.3.2.1. Về các dạng chủ thể lời nói
Trong báo phát thanh hiện đại, chủ thể lời nói đa dạng hơn trong phát thanh
truyền thống, bao gồm lời nói của PV, BTV, PTV, lời nói của người dẫn chương
trình, lời nói của cộng tác viên, khách mời và các nhân chứng.
1.3.2.2. Tần suất xuất hiện các dạng lời nói nhà báo trong phát thanh hiện
nay
Hiện nay, dạng lời nói xuất hiện nhiều nhất là của PV, BTV (gồm cả người dẫn
chương trình). Khảo sát ở 37 chương trình, giọng PTV chiếm 9,1%, giọng PV,
BTV chiếm 90,9%.
1.3.3. Yêu cầu đối với lời nói trong báo phát thanh hiện nay
1.3.3.1. Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến phương thức sáng tạo lời nói
của nhà báo phát thanh hiện nay
Có 3 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến phương thức sáng tạo lời nói của nhà
báo phát thanh hiện nay: Sự ra đời của các chương trình phát thanh hiện đại;
Sự thay đổi về đặc điểm và nhu cầu tiếp nhận thông tin của thính giả hiện
nay; Sự vận động không ngừng của đời sống ngôn ngữ hiện đại trong xu thế
dạng văn bản trước khi được đọc, hoặc đọc kết hợp với nói chiếm tỉ lệ lớn
nhất. Nhưng cho dù được tạo lập bằng cơ chế gì, do ai tạo lập, lời nói phát
thanh luôn bị chế định chặt chẽ bởi nguyên tắc viết để nói.
2.2. CÁCH THỨC SỬ DỤNG TỪ VỰNG CỦA NHÀ BÁO Ở ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT
NAM
2.2.1. Cách thức sử dụng lớp từ khẩu ngữ
2.2.1.1. Biểu hiện của lớp từ khẩu ngữ trong lời nói phát thanh
Lớp từ khẩu ngữ được nhận diện ở những từ ngữ sau: Lời chào, mời, thưa
gửi, lời chúc tụng, cảm ơn; Các phụ từ, trợ từ, quan hệ từ, thán từ; Ca dao,
thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ; Các từ ngữ với sắc thái nghĩa mới, nghĩa ngữ
cảnh; Những từ, tổ hợp từ ngữ mang tính dân dã. Lớp từ KN chiếm tỉ lệ
5.7% . Nó đắc dụng nhất trong hai trường hợp: trong những tác phẩm cần
phong cách ngôn từ sinh động, giàu chất văn học và trong những tác phẩm
thiên về phản ánh thực tế với phong cách nói ứng khẩu.
2.2.1.2. Giá trị của lớp từ khẩu ngữ trong lời nói phát thanh
Nếu được sử dụng hợp lý, từ khẩu ngữ có những tác dụng như: Giúp lời nói
gần gũi, thân mật hơn; Góp phần tăng cường giá trị biểu cảm cho tác phẩm;
Giúp lời nói ngắn gọn, súc tích; Giúp thể hiện rõ ràng thái độ, quan điểm của
nhà báo; Tạo nên giọng điệu riêng cho tác phẩm, giúp lời nói phát thanh tiến
gần tới phong cách nói.
2.2.1.3. Một số bất cập trong sử dụng lớp từ khẩu ngữ
Trên Đài TNVN, việc sử dụng từ ngữ khẩu ngữ còn có một số bất cập như: Sử
dụng từ khẩu ngữ tùy tiện; Một số từ khẩu ngữ bị dùng sai văn cảnh; Chưa
tận dụng lợi thế của lớp từ khẩu ngữ văn hóa.
2.2.2. Cách thức sử dụng lớp từ thuộc phong cách viết
2.2.2.1. Biểu hiện của lớp từ thuộc phong cách viết
Những từ ngữ thuộc phong cách viết có thể được nhận diện ở: Những thuật
ngữ khoa học; Những từ ngữ chính trị; Những từ ngữ hành chính; Từ Hán
Việt, các từ mang nguồn gốc Ấn- Âu; Những từ ngữ không quen thuộc với
người Việt. Theo khảo sát, lớp từ này chiếm 18,4%. Khảo sát cho thấy: 1)
2.2.3.3. Một số bất cập khi sử dụng lớp từ trung hòa về phong cách ở Đài
Tiếng nói Việt Nam
Thực trạng sử dụng cho thấy, lớp từ này còn một số bất cập, chẳng hạn:
Nhiều từ chưa chọn lọc; Dùng thiếu từ; Dùng thừa từ; Dùng sai cặp quan hệ
từ; Dùng từ sai; Dùng từ tối nghĩa; Không áp dụng những từ đặc thù trong
lời nói báo phát thanh.
2.2.4. Cách thức sử dụng lớp từ được đánh dấu về phong cách
2.2.4.1. Biểu hiện của lớp từ được đánh dấu về phong cách
Lớp từ được đánh dấu về phong cách được nhận diện ở các từ ngữ như:
Những thành ngữ, tục ngữ quán ngữ; những từ tạo ra nét nghĩa mới; Những
từ ghép mới; Các từ, cụm từ giàu chất văn học; Từ tượng thanh, tượng hình;
Các từ vựng tu từ.
Trên Đài TNVN, tỉ lệ sử dụng lớp từ này rất thấp, chỉ chiếm 2,2%, có thể do 2
nguyên nhân: 1) Bởi lớp từ này đòi hỏi sự sáng tạo cá nhân và khả năng sử
dụng ngôn ngữ ở trình độ cao nên không phải tác giả nào cũng đủ năng lực
sáng tạo; 2) Có những từ được ĐDVPC vốn có tính mới, tính lạ, nên không
phải lúc nào cũng phù hợp với đặc thù tính toàn dân của lời nói phát thanh.
2.2.4.3. Giá trị của lớp từ được đánh dấu về phong cách
Lớp từ được đánh dấu về phong cách có những giá trị như: Tăng tính sống
động, biểu cảm cho bài viết; Đem đến những lối dùng từ độc đáo, tạo sự mới
mẻ cho lời nói.
2.3. CÁCH THỨC SỬ DỤNG CÂU Ở ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
2.3.1. Cách thức sử dụng chỉnh thể câu
2.3.1.1. Câu chủ động và câu bị động
Khảo sát 10.000 câu ở các dạng chương trình khác nhau cho thấy, câu chủ
động chiếm 87,6%, câu bị động chiếm 12,4%. Trong số câu bị động được khảo
sát, câu bị động tích cực chiếm 5,2%, câu bị động tiêu cực chiếm 7,2%. Việc sử
dụng câu bị động tiêu cực khiến câu dễ bị trúc trắc, không thuận tai, thậm chí
gây khó hiểu.
2.3.1.2. Câu đơn và câu ghép
2.3.2. Cách thức sử dụng chỉnh thể liên câu
2.3.2.1. Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu
Trong các tác phẩm phát thanh, câu vừa được liên kết với nhau thông qua sự
liên kết về mặt nội dung (chủ đề), vừa được liên kết về hình thức (bằng cách
thay thế từ vựng, lặp từ vựng, phép nối, phép thay thế đại từ ).
Ở các tác phẩm phát trên sóng Đài TNVN, vẫn còn lỗi liên kết câu. Chẳng hạn:
Thông tin giữa các câu liền kề có mâu thuẫn; Các ý giữa các câu liền kề
không rõ ràng, gây hiểu nhầm; Lặp ý, lạc ý, thừa ý.
2.3.2.2. Mối quan hệ giữa câu với phong cách tác phẩm
Xét ở góc độ phong cách thể loại, mỗi thể loại hoặc nhóm thể loại quy định
cách dùng các loại câu khác nhau. Chẳng hạn, với thể loại tin, bài phản ánh,
bài báo về lĩnh vực kinh tế, chính trị, tài chính, khoa học kỹ thuật , nhà báo
thường sử dụng câu trần thuật, câu có thành phần đồng chức.
2.3.2.3. Mối quan hệ giữa câu với đối tượng giao tiếp
Nhìn chung, trên Đài TNVN, sắc thái thông tin và phong cách ngôn ngữ của
lời nói đã đảm bảo phù hợp với từng đối tượng giao tiếp, cả với đối tượng
giao tiếp hẹp và đối tượng giao tiếp rộng.
2.3.3. Về mối liên kết giữa các tác phẩm
2.3.3.1. Liên kết qua chủ đề
Lời nói trên Đài TNVN đã đảm bảo: Hệ thống các câu liên kết với nhau tạo
thành tin, bài với chủ đề cụ thể; Nhiều tin, bài gắn bó chặt chẽ với nhau trong
một chủ đề chung - là chủ đề chương trình. Tất cả các chương trình được
ràng cột bằng hệ thống lời dẫn và tôn chỉ mục đích chung, tạo thành chủ đề
của hệ trong cùng hệ chương trình.
2.3.3.2. Liên kết qua lời dẫn
Trên Đài TNVN có hai dạng lời dẫn: lời dẫn chương trình và lời dẫn hệ
chương trình. Lời dẫn hệ làm Hệ chương trình có tính “mở”, đồng thời, giúp
người nghe chủ động tiếp nhận những nội dung mà họ quan tâm.
Tuy nhiên, cách dẫn dắt trên sóng Đài TNVN thời gian qua cũng còn một vài
bất cập, như: Nhiều lời dẫn chương trình chưa hấp dẫn; Còn hiện tượng vi
thể loại có tính đối thoại hoặc tương tác; Người nói trên sóng bao giờ cũng là
PV hoặc BTV. Ở Đài TNVN, có khoảng 23,8% tác phẩm được thể hiện bằng
phương thức này.
3.1.3. Nói ứng khẩu
Nói ứng khẩu có một số đặc điểm như: Người nói cơ bản thoát ly hoặc thoát
ly hoàn toàn văn bản viết; Năng lực cá nhân của người nói bộc lộ rõ ràng; Sử
dụng lời nói ở dạng nói; Xuất hiện khá thường xuyên trong các chương trình
phát thanh trực tiếp, trong những thể loại có sự tương tác với khách mời, với
công chúng; Người nói là PV, BTV có uy tín, có kinh nghiệm của Đài. Trên Đài
TNVN, nói ứng khẩu chỉ chiếm khoảng 12,5%.
3.2. VỀ CÁCH VẬN DỤNG CÁC YẾU TỐ NGỮ ĐIỆU KHI ĐỌC, NÓI
3.2.1. Về vận dụng yếu tố tốc độ
Tốc độ đọc, nói trung bình trong mỗi thể loại, mỗi chủ đề, mỗi đối tượng giao
tiếp, hoàn cảnh giao tiếp là khác nhau. Tính trung bình, tốc độ thể hiện lời nói
hiện nay 246 âm tiết/ phút, là tốc độ khá nhanh.
Việc vận dụng tốc độ ở Đài TNVN còn một vài hạn chế, chẳng hạn: Còn hiện
tượng lệch tốc độ không hợp lý giữa các tác phẩm; Còn hiện tượng đọc, nói
quá nhanh hoặc quá chậm; Đọc, nói các cụm từ trong câu nhanh, chậm không
hợp lý.
3.2.2. Về vận dụng yếu tố cao độ (âm vực)
Giọng đọc, nói khi nhà báo thông tin trực tiếp tại hiện trường, trong những
chương trình có sắc thái thông tin thiên về vui thường ở âm vực cao hơn
giọng nói của nhà báo tại studio, ở chỗ ít tiếng ồn hay trong những chương
trình có sắc thái thông tin thiên về buồn.
Việc vận dụng cao độ của nhà báo Đài TNVN còn một vài bất cập như: Còn
hiện tượng các giọng cao, thấp không hợp lý trong phạm vi chương trình;
Trong phạm vi câu, còn hiện tượng sử dụng cao độ cao hoặc thấp một cách
bất thường giữa các tiếng hoặc ngữ đoạn.
3.2.3. Về vận dụng yếu tố cường độ (âm lượng)
Thể loại tường thuật trực tiếp, phản ánh trực tiếp từ hiện trường; ở các tin,