Luận văn
Người phụ nữ trong Truyền kỳ
mạn lục nhìn từ quan điểm giới
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Người phụ nữ chiếm một nửa nhân loại, hiển nhiên họ có vai trò, vị trí to
lớn trong đời sống gia đình và xã hội. Nghiên cứu người phụ nữ trong văn học vì
thế đã trở thành một hướng nghiên cứu rất phổ biến và phát triển trên thế giới.
Mặc dù nam giới và nữ giới có vai trò tương đương và quan trọng như nhau
trong cuộc sống nhưng có một thực tế là tương quan giữa người phụ nữ với người đàn
ông trong lịch sử văn hóa và văn học lại không phải khi nào cũng bình đẳng. Trong lịch
sử, có một thời kỳ lâu dài, xã hội phương Đông nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng
vận hành theo kiểu xã hội nam quyền, người đàn ông đã thống ngự nữ giới và áp đặt các
chuẩn mực của họ về cái đẹp, về hành vi, về đức hạnh cho người phụ nữ, bất công bất lợi
cho người phụ nữ và có lợi cho nam giới. Trong văn học, ở những thế kỷ đầu tiên của
nền văn học viết Việt Nam, kiểu nhân vật độc chiếm là những người đàn ông, họ có thể
là các thiền sư, các nho gia hay có thể là đạo sĩ. Thảng hoặc nếu ở đôi ba trường hợp có
sự hiện diện của nhân vật người phụ nữ thì họ thường bị nhìn qua lăng kính của tư tưởng
nam quyền, coi người phụ nữ như là nguồn gốc của sự cám dỗ, có thể đe dọa công phu
tu trì đạo đức của nhà tu hành, đe dọa lý tưởng “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của thánh
nhân quân tử. Một số công trình nghiên cứu gần đây đã nêu nhận xét về ảnh hưởng của
tư tưởng nam quyền đến vấn đề người phụ nữ trong văn học trung đại. Nhưng hiện hãy
còn rất ít nghiên cứu phân tích cụ thể những ảnh hưởng của tư tưởng này đến việc xây
dựng hình tượng người phụ nữ như một hiện tượng nghệ thuật trong thời kỳ văn học này.
Luận văn của chúng tôi với đề tài về Người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục nhìn từ
quan điểm giới cố gắng góp phần nhỏ bé để làm đầy khoảng trống đó.
Nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam có thể thấy một sự thật không thể
phủ nhận là dù nhìn nhận theo quan điểm nào đi nữa, nhân vật văn học giai đoạn từ
thế kỷ X đến thế kỷ XV chủ yếu là nam giới. Thánh tông di thảo tuy viết khá nhiều
về người phụ nữ nhưng vấn đề tác giả của tập tác phẩm này hiện chưa được giải
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài Người phụ nữ trong
Truyền kỳ mạn lục nhìn từ quan điểm giới.
3
2. Lịch sử vấn đề
Nắm được lịch sử vấn đề nghiên cứu để tìm ra lối đi riêng là một việc làm
quan trọng không thể thiếu khi thực hiện đề tài Người phụ nữ trong Truyền kỳ
mạn lục nhìn từ quan điểm giới - đặc biệt, trong tình hình nghiên cứu Truyền kỳ
mạn lục qua các giai đoạn ngày càng có bước phát triển cả về lượng và chất, càng
ngày càng trở nên bề bộn theo thời gian. Qua tìm hiểu chúng tôi thấy, nghiên cứu về
người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục cũng là một đề tài có bề dày lịch sử. Ở đây,
chúng tôi chỉ đề cập những công trình tiêu biểu.
Bùi Kỷ có thể được coi là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên bàn luận về
vấn đề người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục với Lời giới thiệu Truyền kỳ mạn lục (bản
dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện xuất bản năm 1940). Trong lời giới thiệu này, khi nêu chủ
đề từng truyện, Bùi Kỷ đã có một vài đánh giá sơ lược về người phụ nữ. Tuy nhiên, quan
điểm đạo đức thẩm mỹ của Bùi Kỷ trong bài viết này khá phức tạp, khi thì ông phê phán
thuyết “Tòng phu” của Nho gia, khi lại đứng trên lập trường nhà Nho để nhìn nhận nhân vật.
Nhận xét về chủ đề các truyện có người phụ nữ tiết liệt, Bùi Kỷ thể hiện khá rõ thái
độ phê phán thuyết “Tòng phu”. Ông nhận xét: “Truyện 2 (Chuyện người nghĩa phụ ở
Khoái Châu) và truyện 16 (Chuyện người con gái Nam Xương): Tả rõ phụ nữ ở xã hội cũ,
dù ăn ở thủy chung với chồng thế nào, cũng chịu một thân phận hèn kém: Một đằng vì thua
bạc mà gán vợ, một đằng vì ngờ vực hão huyền để vợ phải quyên sinh. Đáng giận thay cái
thuyết “Tòng phu” đã làm hại bao nhiêu bạn quần thoa trong bao nhiêu thế kỷ!” [60.234].
Đối với nhân vật nữ vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến, Bùi Kỷ tuy không
phân tích rõ nhưng lại tỏ thái độ không đồng tình với những hành vi của họ. Ông
cho rằng: “Truyện 3 (Chuyện cây gạo), cũng như truyện 5 (Chuyện kỳ ngộ ở Trại
Tây), truyện 11 (Chuyện yêu quái ở Xương Giang): có ý bài xích những thói đắm
đuối trong vòng tình dục của bọn thiếu niên” [60.234]. Đương nhiên, “bọn thiếu
niên” mà nhà nghiên cứu nói đến ở đây gồm cả nhân vật nam và nữ.
Ngoài ra, ở các truyện còn lại có nhân vật nữ, Bùi Kỷ chủ yếu nghiêng về vấn đề xã
lành mạnh về cuộc sống, về tình yêu nam nữ trong truyện Nôm bình dân, trong văn
nghệ dân gian” [21.519].
5
Nhận xét về chủ đề của các truyện có người phụ nữ, Bùi Duy Tân chú ý đến vấn
đề hiện thực xã hội và luân lý Nho gia. Ông nhận xét: “Truyện người nghĩa phụ ở Khoái
Châu, Truyện người con gái Nam Xương phản ánh tình cảnh đáng thương của người phụ
nữ trong xã hội cũ: đảm đang, tình nghĩa mà vẫn phải chịu số phận oan nghiệt. Truyện
Từ Thức lấy vợ tiên miêu tả một mối tình thơ mộng giữa một nàng tiên mang nặng tình
người với một kẻ đã treo ấn từ quan, ở nơi bồng lai tiên cảnh. Truyện Lệ Nương là bi
kịch về một mối tình chung thủy trong bối cảnh đất nước ngoại xâm. Các truyện Nghiệp
oan của Đào Thị, Nàng Túy Tiêu, Cây gạo, Truyện kỳ ngộ ở trại tây… thì lại miêu tả
những mối tình trái với đạo lý Nho gia” [21.518].
Lý giải nguyên nhân gây ra bi kịch của người phụ nữ, Bùi Duy Tân nhấn
mạnh sự suy đồi của xã hội, đặc biệt là sự hoành hành của thế lực đồng tiền: “Trong
Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Nhị Khanh là nạn nhân của một người
người chồng, vì chơi bời và ham tiền mà để vợ rơi vào tay Đỗ Tam, một tên lái
buôn giàu có, quỷ quyệt. Trong Truyện cây gạo, Trình Trung Ngộ là một gã phú
thương ở đất bắc, si mê tình ái đến nỗi bỏ mạng. Truyện yêu quái ở Xương Giang
thì kể về gã phú thương họ Phạm, bỏ tiền ra mua một cô gái nhỏ có nhan sắc để làm
việc dâm ô. Những tên lái buôn ấy dựa vào thế lực đồng tiền để tác phúc, tác họa,
vung vãi bạc vàng để thỏa mãn khoái lạc vật chất. Lối sống của chúng tiêu biểu cho
chất trụy lạc của tầng lớp thị dân hư hỏng và của cả giai cấp phong kiến lúc đương
thời. Nguyễn Dữ đã làm đúng khi thẳng tay đả kích lối sống ấy” [21.514].
Có thể thấy, khi nghiên cứu hệ thống nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục, nhà
nghiên cứu Bùi Duy Tân cơ bản vẫn đứng từ góc nhìn xã hội học. Ở bài viết của mình, nhà
nghiên cứu nghiêng về khảo sát hoàn cảnh xã hội để lý giải các hiện tượng văn học và hầu như
chưa đặt ra vấn đề nghiên cứu hệ thống nhân vật nữ trong tập tác phẩm này từ góc nhìn giới.
Nguyễn Phạm Hùng cũng là một trong những nhà nghiên cứu quan tâm đến đề
tài người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục. Trong bài viết Tìm hiểu khuynh hướng sáng
tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, ông đã đưa ra một số nhận định về vấn đề
như vậy. Nó ca ngợi vẻ đẹp của con người, cả về vật chất và tinh thần. Những hình
ảnh da thịt hồng hào, tươi tốt, hở hang rất dễ gặp trong tác phẩm này. Những dục
7
vọng, ước muốn thoát ra ngoài sự tỏa chiết của tư tưởng Nho gia về “tu, tề, trị,
bình” với người quân tử, “công, dung, ngôn, hạnh” đối với người phụ nữ phong
kiến cũng rất dễ gặp ở đây. Con người, đó không phải là những tấm gương chói lòa
về các anh hùng, liệt nữ lưu danh sử sách mà là những con người của đời sống thực
tế sôi động, cay nghiệt” [14.501]. Nhận định này có phần cực đoan, bởi lẽ, tuy
Nguyễn Dữ đã có nhiều điểm nhân văn tiến bộ hơn so với nhà Nho đương thời
nhưng những nhân vật của ông ở một chừng mực nhất định vẫn được khen, chê theo
tiêu chí Nho gia, những khát vọng mang hơi hướng vật chất trong truyện không
được Nguyễn Dữ công khai ca ngợi, thậm chí ít nhiều còn bị ông phê phán.
Nguyễn Đăng Na cũng là một người dành nhiều tâm huyết với vấn đề người
phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục. Ở bài viết Truyện ngắn trong sự phát triển của
văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, nhà nghiên cứu chia nhân vật nữ trong
Truyền kỳ mạn lục thành ba kiểu là nhân vật nữ “có thể gọi là hạnh phúc” (Tuý Tiêu
trong Chuyện nàng Tuý Tiêu, Dương Thị trong Chuyện đối tụng ở Long cung), nhân
vật nữ “sống hiếu hạnh nết na, chuẩn mực mọi điều” (Lệ Nương trong Chuyện Lệ
Nương, Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Vũ Nương trong
Chuyện người con gái Nam Xương…) và nhân vật nữ “sống tự do phá phách” (Nhị
Khanh trong Chuyện cây gạo, Đào Hàn Than trong Chuyện nghiệp oan của Đào
Thị, Đào Hồng Nương, Liễu Nhu Nương trong Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây…). Để
đưa ra những phân tích và nhận định về người phụ nữ, nhà nghiên cứu đã tiếp cận
nhân vật từ hai góc độ chính là thi pháp học và xã hội học. Ngoài ra, ông đã ít nhiều
đứng từ góc độ nữ giới để nhìn nhận số phận người phụ nữ, phê phán Trương Sinh
là “chồng ngu”, “chồng ghen tuông”, “chồng phũ phàng”, phê phán Trọng Quỳ là
“chồng chó lợn” Tuy nhiên, ở công trình này, nhà nghiên cứu cũng chưa đặt ra
vấn đề nghiên cứu hệ thống nhân vật nữ từ góc độ giới một cách có chủ định.
Tác giả Toàn Huệ Khanh trong công trình Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết
truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam cũng đề cập đến một số nhân vật nữ
9
Luận văn cũng quan tâm chỉ ra một số biểu hiện có thể có của tư tưởng nữ quyền,
biểu hiện rõ rệt của tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa của nhà Nho Nguyễn Dữ khi viết về phụ
nữ, tất nhiên là tư tưởng nữ quyền ở mức độ ban đầu mà thế kỷ XVI cho phép, gợi ý.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài như: khái
niệm giới; quan điểm văn hóa về nữ giới ở Việt Nam thời trung đại; nữ giới trong
văn học viết Việt Nam trước thế kỷ XVI; thân thế và thời đại Nguyễn Dữ.
- Phân loại, phân tích, cắt nghĩa hai kiểu phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục từ
góc nhìn giới: Người phụ nữ chính diện lý tưởng và người phụ nữ phản diện. Tìm
hiểu sự chi phối của quan điểm giới thời trung đại đến nghệ thuật xây dựng hai kiểu
phụ nữ này qua ngoại hình, ngôn ngữ, tâm lý, cách ứng xử hành động, số phận của
họ và cách bình giá của người trần thuật, của tác giả lời bình về họ.
Như một số nghiên cứu đã chỉ rõ, Truyền kỳ mạn lục chịu ảnh hưởng khá
sâu sắc của Tiễn đăng tân thoại. Tuy nhiên trong khuôn khổ một luận văn Thạc sĩ,
chúng tôi chưa có điều kiện so sánh hình tượng người phụ nữ trong hai tác phẩm
này. Hy vọng đây sẽ là đề tài của một công trình nghiên cứu khác.
6. Nội dung nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục qua ngoại
hình, ngôn ngữ, tâm lý, cách ứng xử hành động và số phận của họ; đồng thời tìm
hiểu và lý giải cách miêu tả, cách nhìn nhận, bình giá của tác giả về những yếu tố đó
ở hai kiểu người phụ nữ: người phụ nữ chính diện lý tưởng và người phụ nữ phản
diện.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
chính là: Phương pháp tiếp cận văn hóa học, Phương pháp thống kê, Phương pháp
hệ thống và Phương pháp so sánh.
7.1 Phương pháp tiếp cận văn hóa học
Chúng tôi vận dụng phương pháp tiếp cận văn hoá học để giải mã hình tượng
người phụ nữ, tìm ra nền tảng văn hóa lịch sử của chúng. Bởi lẽ, xã hội Việt Nam truyền
11
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tìm hiểu người phụ nữ trong
Truyền kỳ mạn lục từ quan điểm giới
Chương 2: Người phụ nữ chính diện lý tưởng trong Truyền kỳ mạn lục
Chương 3: Người phụ nữ phản diện trong Truyền kỳ mạn lục
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÌM HIỂU NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC TỪ QUAN ĐIỂM GIỚI
Để nghiên cứu nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục với tư cách là “người
nữ” trong bối cảnh văn hoá giới thời trung đại, luận văn triển khai một số vấn đề lý
luận về giới, phần nào tái hiện những quan điểm văn hóa về nữ giới trong xã hội
nam quyền ở Việt Nam, đồng thời phác thảo diện mạo văn học Việt Nam trước thế
kỷ XVI xét về phương diện giới. Đây chính là cơ sở lý luận và thực tiễn giúp chúng
tôi có nền tảng cơ bản để nghiên cứu đề tài.
1.1 Khái niệm giới (gender)
Giới là một thuật ngữ khoa học được sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Những
hướng tiếp cận không giống nhau với vấn đề giới đã cho ra đời số lượng định nghĩa
khá phong phú về thuật ngữ này. Tuy nhiên, chúng tôi không đi sâu phân tích từng
định nghĩa mà chỉ hướng tới đưa ra một quan niệm đáng tin cậy nhằm làm chỗ dựa
trong tiến trình nghiên cứu.
M.L. Andersen - một giáo sư xã hội học định nghĩa giới như sau: “Giới liên
quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi được tạo nên với hai giới
tính. Trong khi con trai và con gái là những yếu tố sinh học thì việc trở thành một
phụ nữ hay một nam giới là một quá trình văn hóa” [54.40].
Nếu như định nghĩa của M.L. Andersen nhấn mạnh giới như một cấu trúc văn
hóa - xã hội thì định nghĩa sau đây lại chú ý đến mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới:
“Giới là những khác biệt giữa nữ giới và nam giới trong cùng hộ gia đình, trong và giữa
các nền văn hóa, là cấu trúc xã hội - văn hóa có thể biến đổi theo thời gian. Những khác
12
Nghiên cứu về giới không phải xu hướng mới trong lịch sử nhân loại học.
Nó có thể đã được nói đến từ thời cổ đại cả ở phương Đông lẫn phương Tây. Paul
Rakita Goldin, tác giả cuốn Văn hóa giới ở Trung Hoa thời cổ đại khẳng định “Các
học giả Trung Hoa cổ đại đã bàn luận tới giới tính công khai và nghiêm túc như một
trong những đề tài quan trọng nhất của sự nghiên cứu con người” [81.1]. Quả thực,
cho đến nay, khoa học về giới đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực:
Người ta nghiên cứu giới theo quan điểm sinh lý, chỉ ra sự khác biệt về cấu tạo cơ
thể, về sức khoẻ, về tính dục giữa nam và nữ để ứng dụng vào y học, sinh học…
Người ta cũng có thể nghiên cứu giới theo quan điểm xã hội để ứng dụng trong
phân công lao động xã hội giữa nam và nữ, giải quyết vấn đề ngành nghề cho nam
và nữ, so sánh và cân đối thu nhập giữa nam và nữ, đo lường độ tuổi nghỉ hưu phù
hợp cho nam và nữ… Giới cũng có thể được nghiên cứu trong tâm lý học để chỉ ra
được đặc trưng dị biệt trong tâm lý giữa phái nam và phái nữ…. Giới cũng có thể
được nghiên cứu theo quan điểm văn hoá để chỉ ra cái nhìn về giới của nam và nữ
đối với nhau, chỉ ra địa vị gia đình và xã hội của nam giới và nữ giới v.v
Trong nghiên cứu văn học, người ta có thể vận dụng phương pháp nghiên
cứu giới của nhân vật văn học để tìm hiểu các kiểu hình tượng nam/nữ. Chẳng hạn,
nhân vật người anh hùng Võ Tòng trong bộ tiểu thuyết chương hồi Thủy hử nổi
tiếng khi được quan sát từ góc nhìn giới sẽ bộc lộ đặc điểm và cũng là hạn chế của
quan niệm anh hùng cổ trung đại: người anh hùng nghĩa hiệp, tài năng nhưng lại
thiếu tình yêu người đẹp, thậm chí lạnh lùng đến tàn bạo đối với người phụ nữ có
tình yêu phóng túng. Hay nghiên cứu nhân vật phụ nữ như nàng Kiều trong Truyện
Kiều từ quan điểm giới, người ta có thể thấy quan niệm trinh tiết nghiệt ngã của
Nho giáo đã trói buộc nàng Kiều, khiến nàng mang mặc cảm tội lỗi vì mình không
còn trong trắng, và từ chối sống tình vợ chồng với Kim Trọng sau mười lăm năm ly
biệt, chờ đợi. Qua đó, hiểu được một cách toàn diện những nguyên nhân dẫn đến
bất hạnh của Kiều, từ nguyên nhân xã hội đến nguyên nhân thuộc về quan niệm
giới. Nói khác đi, vấn đề giới giúp cho việc nhận thức nhân vật toàn diện hơn.
Trước đây, nhân vật nam/nữ thường chỉ được nhìn theo quan điểm giai cấp, áp bức
14
Khi về nhà chồng, người phụ nữ bị bó buộc bởi quan niệm “xuất giá tòng phu”.
Quan niệm này buộc người phụ nữ khi lấy chồng phải hoàn toàn phục tùng chồng, tuân
theo mệnh lệnh của chồng mà không có yêu cầu ngược lại. Luật pháp phong kiến chỉ cho
phép người vợ được bỏ chồng trong ba trường hợp hãn hữu quy định trong Lê triều hình
luật - Bộ luật tiến bộ nhất thời phong kiến và “ít nhiều đề cập đến một số quyền lợi của
người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình” [5]. Ba trường hợp đó là: “Phàm chồng đã
bỏ lửng vợ năm tháng không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và quan xã làm chứng)
thì mất vợ. Nếu vợ đã có con thì hạn một năm. Vì việc quan đi xa thì không theo luật
này. Nếu đã bỏ vợ mà lại ngăn cản người khác lấy vợ của mình thì phải tội biếm (Điều
308)”; “Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ” và
“con rể lăng mạ cha mẹ vợ, đem thưa quan, cho ly dị (Điều 322)” [5]. Tuy nhiên, ngay
trong bộ luật được coi là có nhiều biểu hiện nhân đạo và bênh vực cho quyền lợi phụ nữ
này, những quy định mang tính nam quyền, bất lợi cho người phụ nữ vẫn thể hiện rõ nét.
Bộ luật qui định về “thất xuất” (bảy trường hợp người chồng được phép bỏ vợ), nhưng
đây lại là những điều mà người vợ dễ mắc phải. Khắt khe hơn Lê triều hình luật là Luật
Gia Long. Bộ luật này cho phép người chồng và gia đình nhà chồng tự tiện bỏ người vợ,
không cần ra trước công môn, chỉ cần giấy bỏ vợ, nếu người vợ có tội “thất xuất”: vô tự
(không có con trai), dâm dật (lẳng lơ), bất sự công cô (không thờ phụng cha mẹ chồng),
khẩu thiệt (lắm điều), đạo thiết (ăn trộm), đố kỵ (ghen tuông), ác tật (có bệnh đặc biệt)
(Điều 108). Nhưng cũng chính trong bộ luật này, không hề có một điều lệ nào cho phép
người vợ được bỏ chồng. Những quy định bất công này khiến cho người phụ nữ trong
xã hội phong kiến nam quyền dẫu lấy phải người chồng không ra gì vẫn phải nhẫn
nhục chịu đựng, phải “cắn răng chịu khổ” mà không được lên tiếng kêu than, không
được ly hôn. Gia huấn ca có những câu thể hiện rõ quan niệm một chiều này:
Chữ "tùy" là phận đàn bà,
Nhu mì để dạ, chua ngoa gác ngoài.
Dù lỗi phận gặp người tửu sắc,
Hay gặp người cờ bạc lưu niên,
Nhỏ to tiếng dịu lời êm,
16
Thái là Thành Vương như cũ, cho về ở Tây cung. Tháng ấy, ngày 19, Thành Vương
mất. Ban lụa hồng cho các phi tần, bắt phải tự tử để chôn theo Thành Vương”
[19.1425]… Một số sự việc trên đây chính là minh chứng tiêu biểu cho sự bất công,
vô nhân đạo của luật “Tòng phu” nếu nó bị lợi dụng đến mức cực đoan.
Tư tưởng “Tam tòng” không chỉ yêu cầu người phụ nữ “tòng phụ”, “tòng phu”
mà còn đòi hỏi họ phải “tòng tử” khi người chồng qua đời. Đây là luật lệ thể hiện thái độ
không tán đồng việc người phụ nữ tái giá. Vì vậy, khi tái giá, người phụ nữ không chỉ bị
phê phán về phẩm hạnh mà còn bị tước đi những quyền lợi chính đáng: “Một người đàn
bà chết chồng thì luật bắt phải ra tay không, giao gia tài cho bên chồng, dầu của ấy là của
vợ chồng đồng công mà tạo lập ra cũng mặc. Chồng chết, có con trai mà đi lấy chồng để
kiếm phương kế nuôi con, sau lại về ở với con trong nhà chồng trước, luật cũng không
nhìn người đàn bà ấy là vợ người chồng trước nữa, chết đi, không được thờ chung với
chồng vào từ đường” [24] . Quan niệm yêu cầu người phụ nữ “tòng tử” chính là nguyên
nhân dẫn đến hiện tượng sùng bái người đàn bà thủ tiết mà chúng tôi sẽ nói rõ hơn khi
phân tích quan niệm của xã hội nam quyền về trinh tiết người phụ nữ.
Bên cạnh quan niệm về “Tam tòng”, xã hội nam quyền còn áp đặt cho
người phụ nữ chuẩn mực về “Tứ đức”: công, dung, ngôn, hạnh. Công được hiểu là sự
khéo léo của người phụ nữ trong những công việc gia đình như thêu thùa, khâu vá, nội trợ,
nuôi dạy và chăm sóc con cái; dung là vẻ đẹp hình thức đoan trang; ngôn tức là lời nói dịu
dàng, khiêm nhường còn hạnh tức là những phẩm chất như yêu thương chồng con, giàu
lòng nhân ái, đức hy sinh, son sắt thuỷ chung… Trong xã hội nam quyền “Tứ đức” đã trở
thành tiêu chí quan trọng không thể thiếu ở người phụ nữ đức hạnh:
Phận làm gái này lời giáo huấn,
Lắng tai nghe cổ truyện mới nên,
Hãy xem xưa những bậc dâu hiền,
Kiêm tứ đức: dung, công, ngôn, hạnh.
Công là đủ mùi xôi, thức bánh,
Nhiệm nhặt thay đường chỉ mũi kim.
18
Dung là mặt ngọc trang nghiêm,
(Gia huấn ca)
Và cách ứng xử sao cho cung phụng, nhu thuận người chồng:
Phận con gái ở nhà thi lễ,
Lắng mà nghe kể chuyện tam cương:
Dẫu ái ân cùng chiếu cùng giường,
Đạo chồng sánh quân thân chi đạo.
(Gia huấn ca)
Bên cạnh mặt tích cực không thể phủ nhận, “Tứ đức” xét cho cùng vẫn
mang tính chất “thiên vị” nam giới. Nó không mang lại cho người phụ nữ quyền lợi
mà chỉ buộc thêm vào họ những nghĩa vụ nặng nề. Tuân theo “Tứ đức”, người phụ
nữ bị kìm hãm trong không gian gia đình, không có điều kiện hoạt động trong
không gian xã hội. Họ chỉ được khen ngợi khi là người nội trợ khéo, là dâu thảo, vợ
hiền nhưng không được khuyến khích phát triển tài năng. Li-Hsiang trong công
trình nghiên cứu Khổng giáo và người phụ nữ - một cách giải thích triết học đã
khẳng định: “Không giống như nam giới, người phụ nữ tài năng và có học thức
không được chính thức ra ngoài xã hội để triều đình có thể sử dụng, để tài năng, và
học vấn của họ có thể được khẳng định. Do không có cơ hội được chứng minh,
trình độ học thức cao của người phụ nữ thường bị coi là một sự dư thừa và vô dụng
không mang tính xã hội, không phù hợp với tính chất giới hoặc những điều tốt đẹp
được mọi người chấp nhận” [79.113]. Rõ ràng không phải người phụ nữ không có
đủ tài năng để hoạt động trên lĩnh vực giáo dục và chính trị mà chính thành kiến
phái tính đã tạo một rào cản vững chắc để kìm toả họ. Những sử liệu thời phong
kiến để lại cho đến nay về giáo dục ở Việt Nam hầu như không để lại tên tuổi người
phụ nữ nào. Trong lĩnh vực chính trị, người phụ nữ duy nhất trong lịch sử Việt Nam
tham gia vào công việc nhiếp chính là Chiêu Thánh công chúa - Lý Chiêu Hoàng.
Song ngay trong cuộc đời của người phụ nữ này cũng chứa đựng những chi tiết thể
hiện quan niệm coi thường nữ giới của người xưa. Chiêu Hoàng được kế vị ngôi
cha thực ra chỉ là trường hợp bất đắc dĩ. Sử gia Ngô Sĩ Liên đã nhấn mạnh chi tiết
20
“Bệnh của vua ngày càng tăng mà không có con trai để giữ nghiệp lớn” [19.598]
khách quan, mà là cái nết thuộc về chủ quan. Mình vì cái ý chí, cái phẩm giá của
mình mà giữ trinh… Như vậy, trinh là một cái nết” [24], còn “Tiết khác với nết.
Tiết là một cái dấu tỏ ra mình đã làm hết bổn phận của mình đối với người mà mình
thuộc về. Một người đàn bà chết chồng, không lấy chồng khác, mà gọi là tiết phụ,
cũng chẳng khác nào một bề tôi chết vì vua mà gọi là tử tiết hay là tận thần tiết” [24].
Theo cách hiểu này, nếu “trinh” được đánh giá là cái nết thì việc một người phụ nữ có
quyền đi lấy chồng khác vẫn không bị gọi là “thất trinh”, miễn là chị ta vẫn giữ được
đoan chính còn nếu “trinh” được hiểu là “cái tiết” thì người phụ nữ lấy chồng khác bị
coi là “thất tiết”, là xấu xa. Trong xã hội nam quyền, “trinh” không được đánh giá như
“cái nết” mà lại bị xem xét nghiêm ngặt như “cái tiết” nên đã gây ra nhiều sức ép cho
người phụ nữ, tước đi của họ những quyền lợi chân chính.
Trình Di - một học giả Tống Nho đã tuyên bố quan điểm ấy trong câu chuyện
sau:
“Có kẻ hỏi: Theo lẽ, hình như không nên lấy đàn bà góa, thế nào?
Y Xuyên tiên sinh (tức Trình Di) đáp rằng: Phải! Phàm lấy vợ,
để sánh với mình; nếu lấy người đàn bà thất tiết để sánh với mình, thì mình
cũng là thất tiết.
Lại hỏi: Người đàn bà ở góa mà bần cùng không cậy nhờ ai
được thì có nên tái giá không?
Đáp rằng: Chỉ có người đời sau sợ chết đói mới có cái thuyết ấy.
Song le, chết đói là sự rất nhỏ, còn thất tiết là sự rất lớn!” [25]
Theo lời Trình Di mà suy thì đàn bà góa dầu đói đến nỗi chết đi nữa cũng ở
vậy mà chịu chết chứ không được lấy chồng khác, nếu lấy chồng khác thì thất tiết,
mà thất tiết là sự “cực đại”, là việc hệ trọng hơn cả sinh mệnh. Câu chuyện này là
minh chứng điển hình cho quan niệm khắt khe của Nho gia về trinh tiết, thể hiện cái
nhìn “điển chế hóa” với người đàn bà quả phụ của các học giả Tống Nho.
Dưới sức ép của quan điểm văn hóa này, người phụ nữ góa bụa đi lấy
chồng khác sẽ bị đánh giá về mặt đạo đức, bị xã hội, đặc biệt là nhà Nho xem
22
thường. Ngược lại, những người phụ nữ cố gắng tuẫn tiết, thủ tiết sẽ được ngợi ca,
mình xuống sông tự tử” tất cả đều nhằm chứng minh cho cái “tiết” mà xã hội nam
quyền yêu cầu. Một vài ví dụ điển hình: “Biểu dương người đàn bà trinh tiết là Phan
Thị… Phan Thị là vợ lẽ tiến sĩ Đinh Nho Hoàn. Đinh Nho Hoàn vâng mệnh đi sứ
Trung Quốc, chết ở dọc đường, khi đem về chôn cất rồi, vợ lẽ của Nho Hoàn là
Phan Thị tự thắt cổ chết. Việc này lên đến triều đình, chúa Trịnh sai quan cấp cho
ruộng thờ, tặng phong Phan Thị là Á Thận nhân, ra lệnh cho đề hai chữ tiết phụ vào
biển vàng, treo ở cửa nhà để biểu dương” [74.T2.268]; “Nêu thưởng cho người tiết
phụ họ Nguyễn ở tỉnh Hải Dương… Hồi 18 tuổi lấy người làng là Mạc Thế Viêm,
được vài tháng thì Viêm ốm rồi chết. Nàng thề chết theo chồng, kêu gào đến thổ ra
huyết; khi đã chôn chồng, về nhà cha, thắt cổ chết. Việc ấy đến tai vua, ban cho
biển ngạch” [68.T24.387]; “Nêu thưởng cho các tiết phụ ở tỉnh Hưng Yên và tỉnh
Vĩnh Long (Người tỉnh Hưng Yên là Đoàn Thị Quang, năm 17 tuổi đi lấy chồng,
được một năm chồng chết không có con. Đoàn Thị Lưu tuổi 18 đi lấy chồng chưa
được một năm, chồng chết sinh được một con gái). Hai người đàn bà này, cha mẹ
thương vì chưa có con, ép buộc đi lấy chồng khác thì một người cởi dây lưng thắt
cổ chết; một người lấy móng tay bấu mặt cho nát ra; đều là những người giữ lòng
trinh bạch thưởng cho mỗi người 20 lạng bạc, sa màu đều hai tấm, biển ngạch đều
một tấm ” [68.T27.104]; “Nêu thưởng tiết phụ các hạt (…). Ở Quảng Yên: Ngô
Thị Cách 19 tuổi, chồng chết, muốn chết theo, nhưng vì con trai còn bé, cố gượng
sống để nuôi con. Đến năm con 12 tuổi, thị ngầm vào trong khe trẫm mình. Ban cho
biển ngạch làm nhà treo biển. Lại theo hạng thứ thưởng thêm 20 lạng bạc)”
[68.T29.178]… Những người phụ nữ trên đây đều là những người rất trẻ tuổi. Họ
có thể đã tự nguyện tuẫn tiết để thể hiện tình yêu của mình với người chồng. Song,
không ít trong số họ đã vì sức ép của thời đại mà hy sinh tuổi thanh xuân một cách
uổng phí, vô nghĩa. Đó chính là sự bất công, thiếu nhân đạo của truyền thống văn
hoá đề cao người đàn bà thủ tiết, tuẫn tiết.
Có thể thấy, việc coi trọng trinh tiết người phụ nữ không chỉ xuất hiện ở
Việt Nam mà thực chất có nguồn gốc từ trung Hoa, mở rộng ra tất cả các quốc gia
24
thuộc vùng văn hóa phương Đông và âm ỉ tồn tại trong trường kỳ lịch sử ở vùng