Luận Văn: Chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng tại Hoài An - Bình Định - Pdf 11

1
PHẦN DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam liên tục phải đối mặt
với chiến tranh. Mỗi cuộc chiến qua đi để lại những hậu quả nặng nề mà nhân dân ta
phải gánh chịu và khắc phục. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ ở thế kỉ
XX, những tổn thất của nhân dân ta về người và của, về cơ hội để phát triển đất nước
là vô cùng to lớn. Nó không chỉ ảnh hưởng đến những con người của thời chiến,
những người đã trực tiếp tham gia và cả những người đã đóng góp công sức vào cuộc
kháng chiến “thần thánh” đó, mà những di chứng của nó vẫn gieo rắc lên các thế hệ
tương lai. Khó khăn lại càng chồng chất khó khăn. Điều đó đã tạo ra không ít thách
thức cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cho việc nâng cao chất lượng cuộc
sống của người dân.
Những người đang sống trong thời bình như chúng ta hiện nay, không thể không
thể hiện lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh, nhất là những người lính đã trực tiếp ra
chiến trường và những người giúp đỡ cách mạng mà hiện tại đang phải gánh chịu
những nỗi đau cả về thể xác lẫn tâm hồn do chiến tranh để lại. “Ăn quả nhớ kẻ trồng
cây” là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và để phát huy truyền thống ấy, mỗi
người trong chúng ta có một lúc nào đó trong cuộc sống đã tự hỏi: Chúng ta phải làm
gì để bù đắp và thể hiện lòng biết ơn đối với những người có công cách mạng – những
người mà sức khỏe và điều kiện sống của họ chắc chắn còn gặp nhiều khó khăn?
Chăm sóc sức khỏe và nâng cao đời sống cho người có công là một trong những
chính sách được Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng. Những chính sách cho người có
công cách mạng như: chính sách bảo hiểm y tế, chính sách chăm sóc sức khỏe, chính
sách ưu đãi về kinh tế, chính sách trợ cấp đã được ban hành và thực hiện. Hơn nữa,
được sự chung tay góp sức của toàn cộng đồng, những chính sách này trong nhiều năm
qua đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên, công tác “Đền ơn đáp
nghĩa”, chăm sóc sức khỏe và nâng cao đời sống cho người có công cách mạng vẫn
còn gặp rất nhiều khó khăn. Chúng ta vẫn thiếu các nguồn lực để có thể thực hiện một
cách tốt nhất công việc này. Việt Nam là một nước nghèo. Thêm vào đó, những năm
qua do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, của thiên tai hạn hán, lũ lụt

khỏe nếu không được giải quyết tốt, trước hết sẽ trực tiếp tác động xấu đến sức khỏe
và cuộc sống của những người có công cách mạng, sau đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến
3
chất lượng cuộc sống của gia đình họ cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế –
xã hội của Huyện và của đất nước nói chung.
Xuất phát từ mong muốn làm được một việc có ích và từ thực tế bất cập giữa nhu
cầu cần chăm sóc sức khỏe của người có công cách mạng và những khó khăn, tồn tại
trong quá trình thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng, nhất
là tại một huyện miền núi còn vô vàn khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội và
chăm lo đời sống của người dân như Hoài Ân, tác giả đã lựa chọn đề tài “Chăm sóc
sức khỏe người có công cách mạng: Thực trạng và giải pháp (điển cứu tại huyện
Hoài Ân, tỉnh Bình Định)” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Trong cuộc sống, mỗi người chúng ta luôn phải đối mặt với những rủi ro, một
trong những rủi ro thường gặp là ốm đau, bệnh tật vì vậy mà vấn đề chăm sóc sức
khỏe gần như là mối quan tâm rất lớn của tất cả mọi người.
Trong những năm qua nước ta cũng nhận thức một cách đúng đắn đầy đủ về tầm
quan trọng của sức khỏe đối với mỗi cá nhân. Đảng và nhà nước đã rất chú ý quan tâm
đến vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người dân, gần đây Đảng, Nhà nước đã ban hành
nhiều chính sách chăm sóc sức khỏe cho toàn dân. Chẳng hạn, văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc có nêu rõ “thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe, đổi
mới cơ chế và chính sách viện phí, trong đó có chính sách trợ cấp và bảo hiểm cho
NCCCM tiến tới bảo hiểm y tế cho người dân”. Hay một loạt các văn kiện khác về vấn
đề này cũng được ban hành như chỉ thị số 16 của Ban bí thư trung ương về củng cố và
hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở.
Cho đến nay có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho
người dân, trong đó có thể kể đến một số đề tài : “Khảo sát về hệ thống chăm sóc sức
khỏe và kế hoạch hóa gia đình ở nông thôn miền núi, miền Trung” (năm 1992); “Thực
trạng hút thuốc lá tại Việt Nam” (Đại học Califonia tài trợ (năm 1999)), “Đánh giá 10
năm thi hành Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam” (Uỷ ban bảo vệ,

số giải pháp nhằm thực hiện công tác này tốt hơn, tuy nhiên gặp phải một số hạn chế
về thời gian nên đề tài mới phản ánh được một mặt của vấn đề chăm sóc sức khỏe và
chưa phản ánh được đầy đủ thực trạng chăm sóc sức khỏe cho NCCCM. Cho nên
những giải pháp đưa ra chưa mang tính tổng thể, toàn diện để giải quyết triệt và bền
vững vấn đề sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCCCM.
5
Trên cơ sở kế thừa thành quả của các nghiên cứu có trước, tác giả thực hiện đề
tài “Chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng: thực trạng và giải pháp (điển
cứu tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định)” với mong muốn làm rõ thực trạng về chăm
sóc sức khỏe cho NCCCM, cũng như góp phần đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng, hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe NCCCM.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm mục tiêu tìm hiểu cơ sở lý luận về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho
NCCCM, thực trạng vấn đề chăm sóc sức khỏe NCCCM ở huyện Hoài Ân đang diễn
ra như thế nào, đã đạt được những kết quả nào, còn những mặt tồn tại, yếu kém nào?
Những thuận lợi và những khó khăn mà công tác này gặp phải là gì? Trên cơ sở đó, đề
tài sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe
của người có công cách mạng đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung giải quyết
những nghiệm vụ sau:
Nghiên cứu lý luận về người có công cách mạng (chủ yếu tập trung vào đối
tượng thương binh và bệnh binh); sức khỏe và chăm sóc sức khỏe; chăm sóc sức khỏe
người có công cách mạng.
Tìm hiểu thực trạng chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng ở huyện Hoài
Ân, tỉnh Bình Định. Chủ yếu là những người đã tham gia cách mạng từ năm 1945 –
1975 họ thuộc nhóm người cao tuổi, độ tuổi đang gặp nhiều vấn đề về sức: Đây là lứa
tuổi có sự lão hóa và xuất hiện nhiều bệnh tật nhất trong các gia đoạn phát triển của
cuộc đời con người cộng thêm những vết thương, bệnh tật do chiến tranh gây ra, cho
nên họ rất cần đến sự can thiệp của hệ thống chăm sóc sức khỏe.

họ sẽ góp phần không nhỏ vào việc cải thiện tình trạng sức khỏe cho người có công
cách mạng.
7. Phương pháp nghiên cứu và xử lý thông tin
7.1. Phương pháp nghiên cứu
7.1.1. Phương pháp chọn mẫu
Phương pháp này được tác giả lựa chọn sử dụng trong đề tài bởi người có công
cách mạng bao gồm nhiều đối tượng khác nhau và họ sống rải rác trên địa bàn huyện
7
nên rất khó khăn để điều tra tổng thể. Cụ thể của phương pháp này tác giả sử dụng
phương pháp chọn mẫu tỷ lệ, mẫu điều tra được tiến hành trên hai nhóm đối tượng là
thương binh, bệnh binh và được điều tra điển hình tại 3 xã nhiều thương, bệnh binh:
Ân Tường Tây, Ân Tường Đông Ân Nghĩa.
Số lượng mẫu nghiên cứu là 130 đối tượng, đủ đại diện cho thương, bệnh binh
cũng như người có công cách mạng của cả huyện Hoài Ân -tỉnh Bình Định.
Tác giả đã sử dụng phương pháp chọn mẫu tỉ lệ nhưng vẫn đảm bảo tính khoa
học, đảm bảo phản ánh đúng thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe cho người có
công cách mạng trên địa bàn Huyện.
7.1.2. Phương pháp thu thập thông tin tư liệu
Thu thập các thông tin từ các nguồn như sách, báo, khóa luận, trên mạng internet,
tạp chí, các báo cáo liên quan đến vấn đề chăm sóc sức khỏe người có công cách
mạng.
Những thông tin thu thập được xử lí theo yêu cầu của khóa luận nhưng vẫn đảm
bảo tính khách quan.
7.1.3. Phương pháp trưng cầu ý kiến
Bảng trưng cầu ý kiến gồm tất cả 28 câu, trong đó có 14 câu hỏi đóng, 13 câu hỏi
vừa đóng vừa mở, 1 câu hỏi mở.
Tổng cộng có 130 phiếu được phát tại 3 xã: Ân Tường Tây, Ân Tường Đông và
xã Ân Nghĩa.
Mục đích của phương pháp này nhằm thăm dò ý kiến của người có công cách
mạng, cụ thể là thương binh và bệnh binh về vấn đề chăm sóc sức khỏe của họ.

tin cho bảng hỏi cũng như phỏng vấn sâu.
8. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
8.1. Ý nghĩa lý luận
Những thông tin thu thập được từ nghiên cứu sẽ góp phần làm phong phú thêm
hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về người có công cách mạng, người
cao tuổi nói riêng và lý luận về chính sách xã hội nói chung.
9
Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực người có
công cách mạng, chính sách xã hội và chính sách chăm sóc sức khỏe cho người có
công cách mạng.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn
Như chúng ta đã biết, chăm sóc sức khỏe cho người có công cách mạng là một
việc làm vô cùng cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng thể hiện tinh thần nhân
văn sâu sắc. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi, công tác này gặp rất nhiều khó khăn,
bất cập ở nhiều địa phương. Với kết quả nghiên cứu của đề tài, người thực hiện đề tài
mong muốn sẽ cung cấp những thông tin cụ thể về thực trạng công tác chăm sóc sức
khỏe người có công tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định; gợi mở một số giải pháp để
các cấp, chính quyền địa phương, gia đình, các bên liên quan và cả cộng đồng sẽ nhận
thức rõ và đầy đủ vai trò và trách nhiệm trong quá trình thực hiện công tác chăm sóc
sức khỏe cho người có công cách mạng. Đồng thời, cũng như là một thông điệp hướng
sự quan tâm và chung tay góp sức của cộng đồng, nhất là những người trẻ tuổi ở địa
phương để cùng thực hiện có hiệu quả hơn công tác chăm sóc sức khỏe cho người có
công cách mạng đặc biệt với đối tượng là thương, bệnh binh.
9. Cấu trúc khóa luận
Khóa luận được cấu trúc làm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết
luận khuyến nghị. Trong đó phần nội dung được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng chăm sóc sức khỏe cho NCCCM huyện Hoài Ân, tỉnh
Bình Định
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho

đánh giá chính sách).
Với đối tượng nghiên cứu như trên, chính sách xã hội có những chức năng cơ bản:

11
Chức năng nhận thức: Chính sách xã hội phát hiện ra tính quy luật của xã hội
(phản ánh đời sống văn hóa và các quan hệ văn hóa xã hội), tính quy luật của chính trị
và sự vận động của hệ thống chính trị trong xã hội. Tất cả các quy luật này đều phản
ánh nội dung của chính sách và đóng vai trò quy định nội dung, phương hướng của
chính sách xã hội, nên việc nhận thức nó là hết sức quan trọng của chính sách xã hội.
Chức năng phân tích, dự báo, đề xuất biện pháp cho công tác quản lý xã hội:
một chính sách xã hội khoa học gắn liền với thực tiễn xã hội sẽ giúp cho các nhà quản
lý, lãnh đạo phân tích, dự báo những vấn đề xã hội trong tương lai gần hoặc xa, làm cơ
sở để lượng giá và đề xuất chính sách xã hội.
Chức năng thực tiễn: chính sách xã hội phản ánh đúng thực tiễn, đi vào thực tiễn
một cách thích hợp, nó sẽ làm cho xã hội luôn ở trạng thái ổn định, góp phần hoàn
chỉnh cơ cấu xã hội, đẩy mạnh tính tích cực của các thành viên trong xã hội, sử dụng
tốt tiềm năng lao động của đất nước. Sự hoàn thiện chính sách xã hội phụ thuộc vào sự
tăng trưởng và phát triển xã hội, nhưng chính sách xã hội không hoàn toàn phụ thuộc
một cách máy móc mà có tính độc lập tương đối.
Mục tiêu của khoa học chính sách xã hội là thông qua việc nghiên cứu thực tiễn
các chính sách để tìm ra những giải pháp để cải tiến hệ thống chính sách, nâng cao
chất lượng hoạch định và thực thi chính sách của nhà nước hướng đến mục tiêu cuối
cùng là công bằng, an sinh và tiến bộ xã hội.
Do mục tiêu và chức năng của mình, chính sách xã hội đã trở thành một lĩnh vực
rất rộng lớn, hoặc có thể xem là nó thẩm thấu vào mọi khía cạnh của đời sống xã hội.
Có thể phân chia chính sách xã hội theo nhiều khía cạnh để tìm hiểu hoặc quản lý. Có
thể nói chính sách xã hội ở cấp độ nhà nước, khu vực, nơi làm việc, cộng đồng. Chính
sách xã hội có thể phân chia theo các nhóm xã hội được tác động: nhóm nghề nghiệp,
giới, tuổi, tộc người. Thông thường, người ta nói đến những lĩnh vực chủ chốt sau đây:
chính sách bảo đảm thu nhập trong trường hợp bình thường hoặc gặp rủi ro, chính sách

1.2. Chính sách xã hội cho người có công CM
Chính sách xã hội cho người có công cách mạng thể hiện truyền thống tốt
đẹp của chúng ta “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, nó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng
và nhà nước ta với thế hệ đã “sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của tổ
quốc”. Trong đó có rất nhiều chính sách cụ thể: chính sách trợ cấp, chính sách bảo
hiểm, chính sách điều dưỡng, chính sách chăm sóc sức khỏe, chính sách ưu đãi trong
kinh tế… cho người có công. Trong đề này tác giả thực hiện nghiên cứu về chính sách
chăm sóc sức khỏe cho người có công.

13
Chính sách chăm sóc sức khỏe cho người có công, người có công CM đặc
biệt là nhóm đối tượng thương binh, bệnh binh là những người rất cần đến chế độ
chăm sóc nhất là vấn đề chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống, cụ thể
người có công cách mạng được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe được quy định trong
Thông tư liên tịch số 17/2006/TTLT-BLĐTBXH-BTC-BYT ngày 21 tháng 11 năm
2006 của liên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Bộ Tài chính – Bộ Y tế, theo
thông tư chế độ chăm sóc sức khỏe đối với NCCCM cụ thể như sau:
Chế độ bảo hiểm và quyền lợi về bảo hiểm y tế của người có công CM
Những đối tượng có công cách mạng được hưởng bảo hiểm y tế bao gồm: người
có công với cách mạng và thân nhân của họ được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định
của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng và pháp luật về bảo hiểm y tế.
Người có công với cách mạng và thân nhân của họ được hưởng quyền lợi về
chăm sóc sức khỏe theo quy định của Luật bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14
tháng 11 năm 2008 của Quốc hội khóa XII và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Chế độ điều dưỡng
Là một trong những chế độ rất tốt và đạt hiệu quả cao, có tầm quan trọng góp
phần nâng cao sức khỏe người có công cách mạng và nó nhiệt liệt được hưởng ứng.
Nó được chia ra làm hai phương thức điều dưỡng đó là:
Điều dưỡng mỗi năm một lần, bao gồm những đối tượng như sau: người hoạt
động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; người hoạt động cách mạng từ

Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng
lao động và loại thương binh.
Bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe, phục hồi chức năng lao động; cấp
phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào thương tật của từng người và khả
năng của Nhà nước; thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được Nhà
nước mua bảo hiểm y tế cho con từ mười tám tuổi trở xuống hoặc trên mười tám tuổi
nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị bệnh, tật nặng từ nhỏ khi hết thời hạn hưởng bảo hiểm
y tế vẫn bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
Thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên an dưỡng ở gia đình thì
người phục vụ được Nhà nước mua bảo hiểm y tế và trợ cấp hàng tháng.
Cơ sở sản xuất, kinh doanh dành cho thương binh, bệnh binh được Nhà nước hỗ
trợ cơ sở vật chất ban đầu, bao gồm nhà xưởng, trường, lớp, trang bị, thiết bị, được
miễn hoặc giảm thuế, vay vốn ưu đãi theo quy định của pháp luật. 15
Chế độ chăm sóc sức khỏe đối với bệnh binh
Theo điều 23, 24, 25 của Pháp lệnh ưu đãi người có công cách mạng thì bệnh
binh được hưởng các chế độ chăm sóc như sau:
Trợ cấp hàng tháng theo tỷ lệ mất sức lao động.
Bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khoẻ, phục hồi chức năng lao động; cấp
phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào tình trạng bệnh tật của từng người
và khả năng của Nhà nước.
Bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được Nhà nước mua bảo
hiểm y tế cho con từ mười tám tuổi trở xuống hoặc trên mười tám tuổi nếu còn tiếp tục
đi học hoặc bị bệnh, tật nặng từ nhỏ khi hết thời hạn hưởng bảo hiểm y tế vẫn bị suy
giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
Bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên an dưỡng ở gia đình thì
người phục vụ được Nhà nước mua bảo hiểm y tế và trợ cấp hàng tháng.
Tổ chức thực hiện và những yêu cầu thực hiện chế độ chăm sóc sức

Trường hợp đối tượng đi điều dưỡng tập trung, nếu không ở hết thời gian của đợt
điều dưỡng thì không được thanh toán lại tiền. Số kinh phí còn lại do Sở lao động –
thương binh và xã hội quản lý để tăng số đối tượng hưởng chế độ điều dưỡng hàng
năm [5].
1.3. Các khái niệm liên quan
1.3.1. Chính sách xã hội
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách xã hội trong đó định nghĩa của
PGS.TS. Lê Trung Nguyệt được xem là đầy đủ chính xác, nó chỉ rõ chủ thể xây dựng
chính sách và đề ra nhiệm vụ cụ thể của chính sách xã hội.
“Chính sách xã hội là loại chính sách được thể hiện bằng pháp luật của nhà
nước thành một hệ thống quan điểm, chủ trương phương hướng và biện pháp để giải
quyết những vấn đề xã hội nhất định, trước hết là những vấn đề liên quan đến công
bằng xã hội, và phát triển an sinh xã hội, nhằm góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ
xã hội” [8; 7].
1.3.2. Quan niệm về người có công cách mạng
Cho đến nay, hầu như chưa có một định nghĩa cụ thể về người có công cách
mạng. Theo Pháp lệnh ưu đãi dành cho người có công cách mạng, ban hành theo quyết
định năm 2005 “Người có công cách mạng" là những người:

17
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.
Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi
nghĩa 19 tháng Tám năm 1945.
Liệt sĩ.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động.
Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh.
Bệnh binh.
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học.
Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày.

Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh
Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng
lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận
thương binh" và "Huy hiệu thương binh" thuộc một trong các trường hợp sau đây:
chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất
phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể; làm nghĩa vụ quốc tế; đấu tranh
chống tội phạm; dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc
phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; làm
nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn. Trong đó được chia ra làm 4 loại: thương binh loại 1 (trên 81% ), thương binh
loại 2 (từ 61% - 80% ), thương binh hạng 3 (từ 41% - 60% ), thương binh loại 4 (từ
21% - 40% ).
Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân nhân,
công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thuộc
một trong các trường hợp tại Điều 19 (quy định về thương binh) được cơ quan có thẩm
quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh".
Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh được gọi chung là
thương binh.
Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao
động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp
"Giấy chứng nhận bệnh binh" thuộc một trong các trường hợp sau đây: chiến đấu hoặc
trực tiếp phục vụ chiến đấu; hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn từ 3 năm trở lên; hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn chưa đủ 3 năm nhưng đã có đủ 10 năm trở lên công tác trong Quân đội nhân

19
dân, Công an nhân dân; đã công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đủ 10
năm nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí; làm nghĩa vụ quốc tế; dũng cảm
thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh.
Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao

thương tích thực thể hoặc bệnh tật trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)
và cuộc chiến chống Mỹ (1954 - 1975).
1.3.3. Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe
Sức khỏe
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về sức khỏe, theo Tổ chức Y tế thế giới WHO
đã đưa ra định nghĩa “Sức khỏe là một trạng thái sản khoái đầy đủ về thể chất, tinh
thần và các quan hệ xã hội, nó không chỉ bó hẹp vào nghĩa là không có thương tật hay
bệnh tật xã hội” [18; 55].
Như vậy có thể hiểu một người hoàn toàn khỏe mạnh phải là một người có đầy
đủ sức khỏe về thể chất, tinh thần và có các mối quan hệ xã hội tốt đẹp. Cụ thể: Một
người được xem là có sức khỏe thể chất không những không có thương tật, bệnh tật
mà các hoạt động về thể lực cũng như tất cả các hoạt động sống đều ở trạng thái tốt
nhất và phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh, lứa tuổi . . .; sức khỏe tâm thần là một
trạng thái không chỉ không có rối loạn hay dị tật tâm thần mà còn là một trạng thái tâm
thần hoàn toàn thoải mái, bình an trong tâm hồn và biết chấp nhận những căng thẳng
trong cuộc sống cũng như cần phải có chất lượng nuôi sống tốt, có được sự cân bằng
và hòa hợp giữa cá nhân, những người xung quanh và môi trường; để đạt được trạng
thái hoàn toàn thoải mái về mặt xã hội tức là phải có thu nhập đủ sống, an sinh xã hội
được đảm bảo, thiết lập và duy trì các mối quan hệ tốt đẹp, thuận lợi với người thân
trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm, rộng hơn là cộng đồng và xã hội . . .
kết hợp hài hòa giữa lợi ích các nhân với lợi ích của người khác đồng thời được cống
hiến cho cộng đồng, xã hội và được mọi người thừa nhận.
Có được một cơ thể khỏe mạnh là mơ ước - mục tiêu - mục đích mà mọi người
hướng đến và cố gắng thực hiện mọi biện pháp để đạt đến cái ngưỡng đó. Tất cả
những yếu tố về sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần, quan hệ xã hội được kết hợp
một cách hài hòa và đảm bảo sẽ làm nên vẻ đẹp sáng ngời của một con người, như cha
ông ta đã từng khẳng định “Bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành
cơm”. Các yếu tố này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại, ảnh hưởng
mạnh mẽ đến nhau, nếu thiếu một trong các thành tố trên sẽ không làm nên sức khỏe
con người. Vì vậy, mỗi chúng ta cần có sự chăm lo phát triển một cách hợp lý, hài hòa

Có rất nhiều ý kiến, cách thức và những yêu cầu đặt ra cho mỗi cá nhân cũng như
cộng đồng trong việc chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Tuy nhiên có thể thấy
chăm sóc sức khỏe thường tập trung vào 3 lĩnh vực như sau:

22
Chăm sóc sức khỏe thể chất
Trước tiên một yêu cầu chung và vô cùng quan trọng đặt ra cho mỗi cá nhân là
cần phải chăm sóc sức khỏe của mình một cách tích cực chủ động, thay vì đợi bị
bệnh và đi chữa bệnh. Để có sức khỏe thể chất tốt cần phải khám sức khỏe tổng quát;
không nên hút thuốc lá; uống rượu bia có chừng mực; cần phải chú ý đến cân nặng của
cơ thể; cần chú ý đến lượng cholesteron trong máu; chú ý đến việc cung cấp dinh
dưỡng cho cơ thể; cần sắp xếp một chương trình vận động cho cơ thể (thời khóa biểu);
phải luôn lượng khả năng và giới hạn sức khỏe của bản thân.
Chăm sóc sức khỏe tinh thần
Để có được sức khỏe tinh thần tốt nhất có các yêu cầu đặt ra đối với mỗi cá thể
đó là học cách tự đánh giá bản thân một cách lành mạnh; biết cho và nhận; tạo dựng
mối quan hệ gia đình tích cực; biết đề ra những ưu tiên cho bản thân mình phù hợp với
điều kiện hoàn cảnh; cần dành thời gian để nghỉ ngơi và đi du lịch tham quan; cần phải
trang bị cho bản thân những cách quản lý và đối phó với stress hiệu quả nhất; phải
luôn luôn sống lạc quan, yêu đời; hãy học cách ứng phó với những thay đổi có thể ảnh
hưởng đến bản thân (tăng cường khả năng thích ứng) biết cách điều chỉnh và ứng phó
cảm xúc của bản thân, đặc biệt là những xúc cảm tiêu cực, hướng vào bản thân.
Quan hệ xã hội
Đây cũng là một lĩnh vực ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của mỗi cá thể, mỗi
người cần tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội thể dục thể thao, văn hóa, tham
gia các tổ chức, đoàn thể xã hội, tạo lập và duy trì các mối quan hệ với bạn bè, đồng
nghiệp.
Như chúng ta đã biết sức khỏe con người là tổng hòa các yếu tố về sức khỏe thể
chất, sức khỏe tinh thần và các quan hệ xã hội và để có được sức khỏe tốt ta cần giải
quyết hài hòa các yếu tố trên một cách tối ưu. Đồng thời sức khỏe của mỗi người

đình

Môi trường xã
h
ội v
à

cộng đồng

Yếu tố nguy
cơ/ tình trạng
dễ bị tổn
thương
Giáo dục
Thu nhập
Bệnh tật và chấn
thương

Hệ thống chăm
sóc sức khỏe
Tử vong Tàn phế Hồi phục
Yếu tố tổng
quát

Dự phòng
c
ấp I

Dự phòng
c

công cách mạng là một trong những vấn đề cần quan tâm. Chăm lo phúc lợi người có
công cách mạng giúp họ đảm nhận những vai trò xã hội mới là công việc có ý nghĩa to
lớn đối với phát triển xã hội.Hiện nay, người có công cách mạng có vai trò và ý nghĩa
to lớn đối với gia đình và xã hội: trong truyền đạt kho tri thức, kinh nghiệm sản xuất,
lịch sử, các di sản văn hóa (chủ trì những lễ nghi) tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi
theo, là người hòa giải những bất hòa trong gia đình, tranh chấp ngoài cộng đồng xã
hội … chứ không phải là gánh nặng như trong suy nghĩ của chúng ta.
Hoạt động trợ giúp trong mạng lưới xã hội cũng được xem là một dạng của phúc
lợi xã hội. Giữa phúc lợi xã hội và mạng lưới xã hội có quan hệ qua lại với nhau.

25
Trong khóa luận, khảo sát hoạt động trợ giúp từ mạng lưới xã hội người có công cách
mạng về vấn đề chăm sóc sức khỏe [dẫn nhập 7; 28].
1.2.5. Bảo hiểm và bảo hiểm y tế
Bảo hiểm
Có thể hiểu “Bảo hiểm là một hoạt động mà qua đó một cá nhân có quyền được
hưởng trợ cấp nhờ vào khoảng đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong
trường hợp xãy ra rủi ro và toàn bộ trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có
trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo phương pháp thống kê”
[1]
Bảo hiểm y tế
“Là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không
vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và đối tượng có trách nhiệm
theo quy định của luật bảo hiểm y tế” [1].
Trong quá trình đăng ký khám, chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế, có quy định cơ sở
khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tức là cơ sở khám, chữa bệnh đầu tiên theo
đăng ký của người tham gia bảo hiểm y tế và được ghi trong thẻ bảo hiểm y tế.
1.2.6. Người cao tuổi
Người cao tuổi hay người già là một thuật ngữ dùng để chỉ những người nhìn
chung đã có nhiều tuổi . Lâu nay ta vẫn quen dung khái niệm “người già”.Theo từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status