1
TRNG I HC Y H NI
NGUYN TH HIN
HIệU QUả MÔ HìNH QUảN Lý, TƯ VấN, CHĂM SóC
SứC KHỏE NGƯờI CAO TUổI DựA VàO CộNG ĐồNG
TạI Xã UY Nỗ, HUYệN ĐÔNG ANH, THàNH PHố Hà NộI
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
KHểA 2007-2013
H NI - 2013
B GIO DC V O TO B Y T
2
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
NGUYN TH HIN
HIệU QUả MÔ HìNH QUảN Lý, TƯ VấN, CHĂM SóC
SứC KHỏE NGƯờI CAO TUổI DựA VàO CộNG ĐồNG
TạI Xã UY Nỗ, HUYệN ĐÔNG ANH, THàNH PHố Hà NộI
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
KHểA 2007 - 2013
Ngi hng dn khoa hc:
1. PGS.TS. NGUYN DUY LUT
2. Ths. HONG TRUNG KIấN
H NI - 2013
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Người cao tuổi ở nước ta là lớp người đã có nhiều đóng góp to lớn
trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Với bề dày
kinh nghiệm, chiều sâu trí tuệ, bản lĩnh cách mạng kiên cường, lớp người này
trở thành chỗ dựa vững chắc, tin cậy cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Vì
vậy, chăm sóc người cao tuổi là nghĩa vụ, trách nhiệm và để tỏ lòng biết ơn
đến các thế hệ đi trước.
có diện tích 18.230 ha, dân số là 276.750 người. Đây là một vùng đất có bề
dày lịch sử với truyền thống yêu nước và nét đẹp văn hóa. Với những điều
kiện có được, huyện Đông Anh đang từng bước đô thị hóa, hiện đại hóa rất
nhanh, kéo theo đó là quá trình già hóa và số lượng người cao tuổi ngày một
tăng. Câu hỏi đặt ra là mô hình chăm sóc sức khỏe nào phù hợp với người cao
tuổi ở đây? Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả mô
hình quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng
tại xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” với mục tiêu:
1. Mô tả đầu ra của mô hình quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi dựa vào cộng đồng tại xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội.
2. Xác định hiệu quả của mô hình quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi dựa vào cộng đồng tại xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm người cao tuổi
Năm1970, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã thống nhất quy định
rằng những người từ 60 tuổi trở lên được gọi là người cao tuổi và phân loại
như sau [16]:
• 60 - 74 tuổi: Người có tuổi
• 75 - 90 tuổi: Người già
• Trên 90 tuổi: Người già sống lâu
Tuy nhiên việc xác định thế nào là một NCT lại phụ thuộc vào từng
nước do sự khác nhau về tuổi thọ trung bình, tuổi lao động hay tuổi nghỉ hưu.
Hiện nay, một số nước coi những người từ 60 tuổi trở lên là NCT, trong khi
đó một số nước khác lại chọn 65 hoặc hơn [40].
Ở Việt Nam, các nhà Dân số học định nghĩa: Người cao tuổi là những
người trên 60 tuổi không phân biệt nam, nữ [14]. Điều 1 của Pháp lệnh người
các nước đang phát triển khi bối cảnh kinh tế xã hội còn thấp thì dân số già thật
sự là một thách thức để đảm bảo được tốt các dịch vụ chăm sóc sức khỏe NCT.
1.2.2. Người cao tuổi ở Việt Nam
Trong 3 thập kỷ qua, dân số Việt Nam đã có những biến đổi mạnh mẽ về
quy mô và cơ cấu tuổi. Tỷ lệ NCT của Việt Nam giai đoạn này tăng lên nhanh
chóng là hệ quả tất yếu của: tỉ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm, tuổi thọ tăng
lên. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam năm 2010 là 73 [33]. Theo số liệu
Tổng điều tra dân số các năm 1989, 1999, 2009 và niên giám thống kê năm
7
2011 tỷ lệ NCT đang tăng dần theo thời gian: 7,2%; 8,1%; 9,0% và 9,9% [26],
[27], [28], [29]. Điều này chứng tỏ dân số Việt Nam đang có xu hướng già hóa.
Nữ hóa tuổi già là một đặc trưng ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, trong nhóm 60-69
tuổi là 131, nhóm 70 - 79 tuổi là 149, nhóm trên 80 tuổi là 200 [28]. Tỷ lệ nữ
giới trong nhóm người cao tuổi ngày càng tăng đặt ra rất nhiều yêu cầu về
chính sách trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi do phụ nữ dễ bị tổn
thương hơn trước những thay đổi của môi trường sống [33].
Dân số cao tuổi phân bố không đồng đều và rất khác biệt giữa các
vùng miền. Ở Việt Nam, vùng Đồng bằng Sông Hồng, vùng Đông Nam Bộ
có tỷ số giới tính tuổi già thấp nhất, cao nhất là vùng Tây Nguyên và Tây
Bắc [33]. Phần lớn NCT sống ở nông thôn, nơi mà điều kiện kinh tế cũng
như khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội còn nhiều khó khăn. Năm 2011, có
72,9% NCT Việt Nam sống ở nông thôn [29]. Trong số người cao tuổi, chỉ
có khoảng 6 - 17% hưởng lương hưu hoặc mất sức, hơn 10% các cụ hưởng
trợ cấp người có công với nước. Như vậy trên 70% người cao tuổi sống chủ
yếu bằng sự nỗ lực của bản thân, không ít người trong số họ có cuộc sống và
kinh tế khó khăn [4]. Cùng với tiến trình công nghiệp hóa, đất ruộng ở nông
thôn thu hẹp dần, thu nhập của người cao tuổi cũng ít dần. Thực tế này đòi
hỏi những chính sách ưu đãi đối với người cao tuổi nhất là ở vùng nông thôn
đang trong quá trình công nghiệp hóa.
9
số ảnh hưởng đến sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, cơ cấu gia đình và sắp xếp
cuộc sống, nhà ở và di cư. Trong lĩnh vực chính trị, già hóa dân số có thể ảnh
hưởng tới xu hướng bầu cử và tính đại diện [34].
Trong cuộc sống, con người ở nhóm tuổi nào cũng có những nhu cầu
chung và nhu cầu đặc thù để đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống cá nhân,
nhóm hoặc cộng đồng phù hợp theo đặc trưng giới tính và độ tuổi của họ. Có
rất nhiều loại nhu cầu trong đó đối với NCT thì nhu cầu được CSSK, nhu cầu
về tinh thần và vật chất là ba loại nhu cầu quan trọng nhất. Theo Đặng Vũ
Cảnh Linh (2009) [14], nhu cầu của NCT ngày càng tăng trong đó nhu cầu về
chăm sóc sức khỏe được đặt lên hàng đầu chiếm 84,4%.
Nhu cầu khám và điều trị giữa 2 khu vực thành thị và nông thôn không
có nhiều khác biệt song ở khu vực nông thôn một tỷ lệ không nhỏ nhu cầu
khám chữa bệnh chưa được đáp ứng [15].
Theo kết quả của Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam (VNCA)
năm 2007 cho thấy ở giai đoạn 60 - 69 tuổi có 8,37% sức khỏe tốt; 26,82%
sức khỏe yếu, còn lại là trung bình, trong khi đó trên 80 tuổi, số NCT có sức
khỏe tốt chỉ còn 2,23%, sức khỏe yếu lên đến 68,3%. Qua đó, nhận thấy tình
trạng sức khỏe của người cao tuổi phụ thuộc rất nhiều vào tuổi tác, trong đó
tuổi càng tăng thì NCT càng dễ mắc bệnh [33].
Nhu cầu CSSK ở NCT không chỉ đơn thuần là những chăm sóc hằng
ngày như nuôi dưỡng, chăm sóc khi ốm đau, mà còn bao gồm nhu cầu rất cao
về chăm sóc tinh thần. Theo Nguyễn Đình Cử (2007), về mặt tinh thần, có
13% NCT gặp trắc trở, 60% thấy bình thường, chỉ có 20% cảm thấy thoải
mái. Nhà nước, gia đình, cộng đồng cần quan tâm cải thiện đời sống vật chất
của NCT đồng thời quan tâm, chăm sóc hơn về đời sống tinh thần như giáo
dục cho con cháu biết quan tâm, kính trọng ông bà, cha mẹ, tổ chức các câu
lạc bộ để người cao tuổi có nơi sinh hoạt xã hội lúc tuổi già [4].
10
1.3.1.2. Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi
tuổi (3,9%) [6]. Cũng theo Phạm Thắng và Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009), sa sút
tâm thần và trầm cảm là hai bệnh đang có xu hướng tăng lên ở Việt Nam và tỷ
lệ NCT mắc bệnh này tăng lên khi tuổi càng cao [23].
Nguyễn Đình Lân (2006) nghiên cứu trên 438 NCT tại tỉnh Hà Tây [13]
cho thấy 96,1% NCT có bệnh, trong đó mắc 1 bệnh (61,5%), 2 bệnh (20,7%)
và 3 bệnh trở lên (13,9%). NCT ở thành thị có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với
nông thôn (99,3 % so với 90,4%).
Hệ quả của sự thay đổi mô hình bệnh tật của NCT ở Việt Nam đang trở
thành nguyên nhân hàng đầu gây nên bệnh tật và tàn phế ở NCT, có thể khiến
cho NCT bối rối, tự ti và giảm giao tiếp xã hội. Do đó, Việt Nam cần có
những chính sách quan tâm hơn nữa đến NCT nhằm đem lại cuộc sống khỏe
mạnh và tốt đẹp hơn cho nhóm người chiếm một tỷ lệ không nhỏ này.
1.3.2. Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi
Sử dụng dịch vụ CSSK là khả năng đến CSYT khác nhau và sử dụng ít
nhất một lần dịch vụ đó với từng người dân khi ốm đau. Điều này không chỉ
phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà còn phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng,
giá thành, mức độ bệnh, khoảng cách và khả năng tiếp cận của người dân. Các
yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ CSSK là tài chính, người sử
dụng dịch vụ và người cung cấp dịch vụ [7].
Yếu tố tài chính: Đây là yếu tố đóng vai trò quyết định nhất đối với
người có thu nhập thấp. Chi phí KCB bao gồm cả những chi phí trực tiếp (chi
trả trực tiếp tại cơ sở y tế) và những chi phí gián tiếp (chi trả ngoài cơ sở y tế
như ăn uống, đi lại, bồi dưỡng ). Đối với NCT ở nông thôn, nguồn thu nhập
chính là từ nông nghiệp do vậy rất nhiều người không đủ tài chính để đến các
12
cơ sở KCB, đặc biệt là các bệnh viện [7]. Gánh nặng chi tiêu CSSK có xu
hướng lệch về những nhóm dân số cao tuổi khó khăn hơn. Chi tiêu y tế của hộ
gia đình NCT chủ yếu từ tiền túi, phần chi tiêu từ bảo hiểm xã hội chỉ chiếm tỷ
trọng nhỏ. Mặc dù chi tiêu trung bình của khu vực nông thôn thấp hơn nhiều lần
chi tiêu trung bình của khu vực thành thị, nhưng tỷ lệ chi tiêu của hộ gia đình
của trạm y tế
Theo báo cáo sơ bộ kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và
thủy sản năm 2011 của Tổng cục Thống kê [31] cho thấy có 99,5% số xã có
TYT; tỷ lệ TYT được kiên cố hoá đạt 57%, bán kiên cố đạt 42%; 77,5% số xã
có TYT đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Thực hiện chính sách đưa bác sĩ về xã,
số lượng bác sĩ đang làm việc tại các TYT xã tăng nhanh trong những năm
gần đây. Đến thời điểm 01/7/2011 cả nước có gần 6,6 nghìn bác sĩ, tăng gần
16% so với năm 2006 và tăng 45% so với năm 2001. Nhờ đó, số bác sĩ trên 1
vạn dân ở nông thôn đã tăng từ 0,8 người năm 2001 lên 1 người năm 2006 và
1,1 người năm 2011. Mặc dù vậy, hoạt động KCB của một số trạm vẫn không
được cải thiện, cán bộ y tế xã có mức lương thấp, gặp nhiều khó khăn trong
cuộc sống đều ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của TYT. Cơ
sở vật chất và trang thiết bị của TYT ngày càng được đầu tư nâng cấp tốt hơn
song một số nơi vẫn còn đang xuống cấp. Các hoạt động của TYT còn chưa
thể hiện hết vai trò quan trọng của nó, bởi lẽ phần lớn các hoạt động DVYT
của trạm đều bị động và phụ thuộc vào tuyến trên, chưa chủ động đáp ứng
nhu cầu thực tế của người dân, sự quá tải về nhiệm vụ trong khi NVYT còn
thiếu, trang thiết bị chưa đầy đủ [30].
14
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Lân (2006) tại 3 xã thuộc tỉnh Hà Tây [13],
cho thấy chỉ có 20,5% NCT đến điều trị tại TYT xã, song chỉ có 9,2% tin vào
chất lượng mà chọn TYT xã; 13,8% cho rằng do tính thuận tiện. Vì vậy, việc
nâng cao chất lượng KCB không chỉ thực hiện ở bệnh viện và phòng khám, mà
phải tập trung vào tuyến xã, phường, thôn bản. Sự phối hợp và tranh thủ sự hỗ
trợ của y tế tuyến trên để nâng cao chất lượng chuyên môn ở tuyến xã trong
khám phát hiện sớm các bệnh tật như tăng huyết áp, đái tháo đường, giảm thị
lực, giảm thính lực, sa sút trí tuệ, rối loạn tim mạch là rất cần thiết và cấp bách.
Khi cơ cấu kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, việc CSSK được thực hiện theo phương châm "Nhà nước và
nhân dân cùng làm". Thực hiện xã hội hoá công tác y tế và đa dạng hoá các
Như vậy, NCT sẽ được quan tâm, chăm sóc một cách cụ thể hơn, qua đó
phần nào đáp ứng mong muốn của NCT là được sống vui, sống khỏe, được
chăm sóc sức khỏe và KCB khi ốm đau.
Nghị định số 67/2007/NĐ-CP [1] được Chính phủ ban hành quy định
rõ các hình thức hỗ trợ cho NCT cô đơn, thuộc hộ nghèo, NCT còn vợ hoặc
chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa,
thuộc hộ gia đình nghèo và đặc biệt là người từ 85 tuổi trở lên không có
lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội. Các đối tượng này được trợ cấp
270 nghìn đồng/tháng, người từ 85 tuổi trở lên bị tàn tật nặng được trợ cấp
360 nghìn đồng/tháng. Mục 4, Điều 3, Luật khám bệnh, chữa bệnh (Quốc
hội (2009), Luật số 40/2009/QH12) [18] cũng nêu rõ: “Ưu tiên khám bệnh,
chữa bệnh đối với người từ đủ 80 tuổi trở lên”.
16
Luật NCT (số 39/2010/QH12) [19] được Quốc hội ban hành có hiệu
lực từ ngày 01/07/2010. Luật quy định NCT là công dân Việt Nam từ 60 tuổi
trở lên. Để quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NCT, Nghị
định số 06/2011/NĐ-CP được ban hành [24].
Các chính sách đã trên thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
đến người cao tuổi. Điều này cũng thể hiện truyền thống kính lão có từ xưa
của người dân Việt Nam.
1.5. Mô hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
1.5.1. Mô hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại gia đình
Với mô hình này, NCT sẽ sử dụng các dịch vụ CSSK ngay tại nhà. Người
hành nghề y hoặc các tình nguyện viên đến tận nơi để KCB, giúp đỡ các công
việc nhà theo yêu cầu của người thân trong gia đình NCT hoặc của chính NCT.
Thuật ngữ “Bác sĩ gia đình” bây giờ không trở nên quá xa lạ với các
gia đình hiện đại. Trong trường hợp NCT có vấn đề về sức khỏe có thể gọi
điện đến các phòng khám và được các bác sĩ chuyên khoa, theo yêu cầu đến
khám, cung cấp thuốc men và điều trị tại chỗ. Nếu NCT cần được điều trị
hằng ngày, thường xuyên sẽ được lập sổ theo dõi, thăm khám định kỳ. Tuy
NCT. Sau 3 năm triển khai, nhận thức và mức độ tập luyện dưỡng sinh của
NCT tăng lên, hiểu biết về bệnh thông thường và cách phòng chống cũng như
chế độ dinh dưỡng phù hợp với NCT được cải thiện, KSK định kỳ cho NCT đã
thể hiện được sự quan tâm tác động làm giảm sự tự ty, nhàm chán ở NCT [8].
Từ 2002 đến 2005, Viện Chiến lược và Chính sách y tế đã triển khai Dự
án “Nâng cao công tác CSSK cho NCT ở vùng nông thôn Việt Nam” ở 4 xã
thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, với sự hỗ trợ về mặt tài chính của khối
cộng đồng chung Châu Âu. Đây là một Dự án can thiệp toàn diện được triển
khai tới nhiều nhóm đối tượng khác nhau trong cộng đồng (NCT, thành viên
18
trong gia đình, cộng đồng, NVYT) với mục tiêu nhằm NCSK và CSSK ban đầu
cho NCT. Các hoạt động can thiệp mang tính toàn diện của Dự án đã góp phần
cải thiện được tình trạng sức khỏe, CSSK cho NCT ở vùng nông thôn trong địa
bàn nghiên cứu. Mô hình can thiệp của Dự án được đánh giá là có tính khả thi,
bền vững và có khả năng nhân rộng tại các địa phương khác trong huyện [41].
Mô hình này đã đáp ứng được nhu cầu của NCT nói chung và NCT ở
khu vực nông thôn nói riêng về thông tin, kỹ năng gìn giữ sức khỏe theo
hướng dự phòng tại cộng đồng, phù hợp với điều kiện và trình độ NCT ở
nông thôn, đáp ứng được phương châm xã hội hóa trong công tác CSSK
NCT. Hơn nữa, tất cả các đối tượng từ thành thị đến nông thôn, miền xuôi và
miền ngược đều có thể áp dụng được mô hình này [11].
1.5.3. Mô hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại bệnh viện
Ở các nước phát triển, phúc lợi xã hội được tăng lên, NCT được chăm
sóc miễn phí tại bệnh viện ngày càng nhiều. Dự án bệnh viện nâng cao sức
khỏe được triển khai từ năm 1993, đến nay đã có 700 bệnh viện ở 36 quốc
gia thành viên. Tại Việt Nam, Bệnh viện E đã được WHO chọn để triển khai
mô hình này [10].
Viện Lão khoa cũng đã xây dựng mô hình CSSK miễn phí dành cho
NCT ở Việt Nam. Đồng thời, thông qua thẻ BHYT dành cho NCT diện nghèo,
cô đơn và những người từ 85 tuổi trở lên được miễn phí khi KCB tại các bệnh
phục vụ 24/24. Một mô hình trung tâm dưỡng lão cho NCT khỏe mạnh gửi
gắm cuộc sống để hưởng không gian yên tĩnh, thanh bình hiện nay vẫn chưa
có [11]. Quan niệm không ai chăm sóc cha mẹ tốt bằng con cái và thực tế
20
nước ta, kinh tế chưa cho phép NCT trả một khoản phí khi vào nhà dưỡng
lão, nên mô hình chưa đạt được những hiệu quả như mong muốn.
1.5.5. Mô hình y tế viễn thông trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Y tế viễn thông là khả năng ứng dụng những tiến bộ của khoa học công
nghệ thông tin trong y học. Sử dụng phương tiện đó để truyền tải những thông
tin y học đến với từng đối tượng, từng vùng miền khác nhau nhưng hiệu quả
thông tin là như nhau [37].
Phương thức hoạt động của y tế viễn thông rất đa dạng: chẩn đoán các
ca bệnh khó với sự hỗ trợ của y học hiện đại, công nghệ thông tin và kỹ thuật
truyền hình ảnh điện não đồ, điện tim, siêu âm, X - quang… bằng số hóa
đường truyền thông tin ứng dụng đặc biệt, hỏi đáp thắc mắc từ xa qua điện
thoại, internet…
Ở Việt Nam, hiện nay có rất nhiều phương tiện thông tin đại chúng dành
những trang viết, khoảng thời gian quý báu để đưa thông tin về y học như
Truyền hình Hà Nội có mục Y học bốn phương, Sức khoẻ trong cuộc sống hôm
nay, O
2
TV , các trang web thảo luận trực tuyến về các kiến thức y học… đã
cung cấp một lượng lớn kiến thức nhằm nâng cao sức khỏe cho người dân. Tuy
nhiên, khả năng tiếp cận với các phượng tiện thông tin hiện đại của NCT còn
nhiều khó khăn, đây chính là hạn chế của mô hình khi áp dụng thực tiễn.
1.5.6. Mô hình câu lạc bộ sức khỏe
Đây là mô hình theo hướng phòng bệnh hơn chữa bệnh. Nó bao gồm
các CLB dưỡng sinh, CLB sức khỏe, luyện tập thể dục thể thao của NCT tại
cộng đồng. Từ năm 2004, Ủy ban Thể dục thể thao Việt Nam đã phối hợp với
Hội NCT đề xuất chương trình “Đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao của
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12/ 2012 - 5/2013
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã của huyện Đông Anh, thành
phố Hà Nội : xã Uy Nỗ và xã Cổ Loa
− Xã Uy Nỗ: xã can thiệp
− Xã Cổ Loa: xã chứng
Một số đặc điểm chung về huyện Đông Anh
− Là một huyện ngoại thành nằm ở phía bắc thủ đô Hà Nội, có đường
quốc lộ 3 chạy qua giáp với các huyện: Sóc Sơn, Gia Lâm, Mê Linh và thị xã
Từ Sơn (Bắc Ninh). Huyện có 24 xã/ thị trấn với diện tích là 82km
2
, dân số
276.750 người. Tại đây NCT chiếm 8,8% dân số (24.354 người).
− Về KT - VH - XH: Đời sống kinh tế và dân trí của người dân ở mức
độ trung bình và tương đối đồng đều. Cùng với khí thế đi lên công nghiệp hóa
- hiện đại hóa của cả nước, Đông Anh ngày nay đang từng bước đổi mới, tốc
độ đô thị hóa nhanh với diện tích đất nông nghiệp thu hẹp nhường chỗ cho
các khu công nghiệp, chung cư đô thị.
− Về y tế: huyện Đông Anh có TTYT huyện nhưng chỉ quản lý, chỉ
đạo tuyến, 100% TYT đạt Chuẩn Quốc gia về y tế xã. Trên địa bàn có bệnh
viện đa khoa huyện, bệnh viện Bắc Thăng Long, 2 phòng khám đa khoa khu
vực miền Đông và miền Tây, 100 cơ sở hành nghề y dược tư nhân.
Đặc điểm 2 xã nghiên cứu
− Về địa lý: Hai xã được chọn đều là ở gần trung tâm, tiếp giáp với
huyện ủy, UBND huyện, các trung tâm hành chính, gần chợ, các phương tiện
giao thông, bệnh viện đa khoa và TTYT huyện.
− Về kinh tế: Đều có cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - Thương mại dịch vụ.
− Về y tế:
can thiệp của NCS Hoàng Trung Kiên để đánh giá hiệu quả của mô hình
can thiệp ở cộng đồng.
2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
Đối với đối tượng nghiên cứu là người cao tuổi.
− Cỡ mẫu NCT tại một xã, được tính theo công thức:
24
Trong đó:
n: số NCT cần chọn để can thiệp ở mỗi xã.
Z
α/2
: hệ số tin cậy, với ngưỡng xác xuất α = 5% , thì Z
α/2
= 1,96
p
0
: tỷ lệ NCT được KCB tại TYT xã không can thiệp, ước lượng là 35%
p
1
: tỷ lệ NCT được KCB ở các xã can thiệp, ước lượng là 45%
ε: sai số tương đối cho phép, ε = 20%
Thay số và tính toán ta có: n = 238 (người). Thực tế, nghiên cứu đã chọn 256
NCT tại xã can thiệp - Uy Nỗ và 255 NCT tại xã đối chứng - Cổ Loa.
Đối tượng là NVYT xã, y tế thôn của cả 2 xã nghiên cứu là: 28 người
Cán bộ lãnh đạo quản lý xã của 2 xã nghiên cứu là : 18 người
Người thân trong gia đình NCT của 2 xã nghiên cứu: 463 người
2.3.3. Mô hình can thiệp
Mô hình “ Quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng
đồng” bao gồm 3 nội dung chính:
− Nội dung 1: Quản lý, tư vấn sức khỏe, KCB tại TYT cho NCT
Lập sổ quản lý, theo dõi sức khỏe cho NCT, KSK định kỳ.
cao sức khỏe NCT.
Hình 2.1: Quy trình đánh giá hiệu quả của mô hình can thiệp
− Giá trị dự phòng:
So sánh
Đánh giá trước can thiệp
Đánh giá trước
So sánh
Nhóm đối
chứng
So sánh
Nhóm can
thiệp
Đánh giá sau can thiệp
Đánh giá sau