Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và hiệu quả mô hình chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi dựa vào y tế tuyến cơ sở tại tỉnh bình dương - Pdf 19

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

TRẦN VĂN HƯỞNG
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ
KHÁM CHỮA BỆNH VÀ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH
CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI CAO TUỔI
TẠI Y TẾ TUYẾN CƠ SỞ CỦA TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành : Vệ sinh xã hội học và tổ chức y tế
Mã số: 62 72 01 64
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI - 2012
Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Phạm Văn Thao
2. TS. Nguyễn Thị Thùy Dương
Phản biện 1: PGS.TS. Đoàn Huy Hậu
Phản biện 2: PGS.TS. Bùi Thanh Tâm
Phản biện 3: TS. Trần Ngọc Tụ
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện, tổ chức
tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Vào hồi: giờ ngày tháng năm 2012
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
BHYT Bảo hiểm y tế
BV Bệnh viện
CBM Community Based Monitoring
CSSK Chăm sóc sức khỏe

triển nặng lên. Bệnh lý của NCT thường là đợt cấp của bệnh mạn tính,
tính chất đa bệnh lý và âm thầm làm cho khó chẩn đoán và phát hiện, khả
năng phục hồi kém…Vì vậy, nếu không được phát hiện, chăm sóc và
điều trị tích cực, kịp thời có thể dễ dẫn đến tình trạng sức khoẻ giảm sút
và tử vong.
Hạn chế quá trình lão hoá và bệnh tật cho NCT, nhằm kéo dài cuộc
sống khoẻ mạnh, hữu ích là ước vọng ngàn đời của con người. Điều này
phụ thuộc vào một phần rất quan trọng là dự phòng, chăm sóc sức khoẻ
(CSSK), nâng cao sức đề kháng cho NCT. Bình Dương là tỉnh thuộc
vùng Đông Nam bộ, là một trong những địa phương năng động trong
kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, tốc độ đô thị hoá nhanh, đời sống
nhân dân ngày càng được cải thiện, số NCT ngày một tăng. Tuy nhiên,
tại Bình Dương cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về thực trạng nhu
cầu khám chữa bệnh, tiếp cận, sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của
người cao tuổi và khả năng đáp ứng của y tế cơ sở. Từ thực tế trên, chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài này nhằm các mục tiêu sau:
1. Mô tả nhu cầu, tiếp cận, sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của
người cao tuổi tại tỉnh Bình Dương và khả năng đáp ứng của trạm y tế
xã, năm 2010.
2. Đánh giá hiệu quả mô hình chăm sóc sức khoẻ cho người cao
tuổi dựa vào y tế tuyến cơ sở tại tỉnh Bình Dương (2010 - 2011).
* Những đóng góp mới của luận án:
- Mô tả được thực trạng nhu cầu, tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám
chữa bệnh (KCB) của NCT tại tỉnh Bình Dương. Đồng thời đánh giá
được khả năng đáp ứng của trạm y tế (TYT) xã đối với nhu cầu KCB của
nhân dân, trong đó có NCT.
- Xây dựng và bước đầu đánh giá hiệu quả mô hình “Chăm sóc sức
khỏe NCT dựa vào y tế tuyến cơ sở”. Sau 1 năm triển khai mô hình tại xã
Khánh Bình huyện Tân Uyên: hệ thống quản lý KCB cho NCT được
củng cố và tăng cường, NCT được KCB kịp thời, được đo huyết áp định

77,8% số NCT trong cả nước. Cứ 100 cụ ông thì có tới trên 140 cụ bà,
đặc biệt, tuổi càng cao thì số cụ bà lại càng nhiều hơn số cụ ông và từ 80
tuổi trở lên thì số cụ bà gấp hơn 2 lần số cụ ông.
1.2. Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho người cao tuổi
và khả năng đáp ứng của trạm y tế xã
1.2.1. Nhu cầu CSSK của NCT rất lớn nhưng điều kiện hỗ trợ còn hạn
chế.
CSSK NCT là phòng chống sự già hóa quá sớm, đề phòng và chữa
trị các bệnh do tuổi già sinh ra bằng nhiều biện pháp khác nhau nhằm duy
trì sức mạnh về thể xác, tinh thần và tuổi thọ NCT. Nhu cầu KCB là
những yêu cầu cấp thiết của NCT nhằm cải thiện tình trạng sức khoẻ,
giảm các bệnh mạn tính, tàn phế và tử vong khi bước vào tuổi già. Nhu
cầu KCB của NCT không chỉ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà còn
phụ thuộc khá nhiều vào: chất lượng, giá thành, mức độ bệnh, khoảng
cách và khả năng tiếp cận với các cơ sở KCB của từng người.
1.2.2. Tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của người cao tuổi
Trong xã hội, người dân có quyền tiếp cận bất kỳ dịch vụ CSSK nào
sao cho thuận lợi nhất. Tuy nhiên, đối với NCT việc tiếp cận tới các dịch
vụ CSSK có những đặc điểm riêng cần phải được coi trọng: khoảng cách
và thời gian, chi phí, chất lượng dịch vụ, văn hoá, tập quán… Ngoài ra,
tiếp cận dịch vụ CSSK của NCT còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của niềm tin
mà NCT đã tạo lập trong suốt cuộc đời.
1.2.3. Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở người cao tuổi
Sử dụng dịch vụ CSSK là khả năng để đến cơ sở y tế khác nhau với
từng người dân khi ốm đau. Điều này không chỉ phụ thuộc vào ý muốn
chủ quan mà còn phụ thuộc khá nhiều vào: chất lượng, giá thành, mức độ
bệnh, khoảng cách và khả năng tiếp cận của người dân.
1.2.4. Khả năng đáp ứng của trạm y tế xã về dịch vụ KCB cho
người cao tuổi
Khả năng đáp ứng là tổng hợp các điều kiện, các nguồn lực sẵn có

Một số mô hình CSSK NCT trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam:
- Mô hình bác sĩ gia đình;
- Mô hình tư vấn và CSSK NCT;
- Mô hình CSSK NCT tại cộng đồng;
- Mô hình CSSK NCT tại trạm y tế xã;
- Mô hình CSSK NCT tại bệnh viện;
- Mô hình nhà dưỡng lão chăm sóc NCT;
- Mô hình tư nhân CSSK NCT;
Nhìn chung, các mô hình chưa đồng bộ và chưa toàn diện, có nhiều
yếu tố cản trở về nguồn lực để duy trì phát triển rộng và bền vững ở cộng
đồng.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng và chất liệu nghiên cứu
- Người cao tuổi, hộ gia đình có NCT tại địa bàn nghiên cứu.
- TYT xã: cơ sở vật chất, cán bộ y tế, tình hình hoạt động
- Các văn bản quy phạm pháp luật, các báo cáo về CSSK NCT.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại 4 xã/phường
của 4 huyện/thị xã của tỉnh Bình Dương, gồm: xã An Phú - huyện Thuận
An (xã đối chứng), xã Khánh Bình - huyện Tân Uyên (xã can thiệp), xã
Phú Hoà - huyện Dĩ An và phường Tân Đông Hiệp - Thị xã Thủ Dầu
Một.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2010 đến tháng 6/2011, gồm 2
giai đoạn:
- Điều tra mô tả cắt ngang, xây dựng mô hình lý thuyết: tháng 4 - 6/2010
- Xây dựng và đánh giá hiệu quả mô hình: tháng 7/2010 - 6/2011.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang và nghiên cứu
can thiệp cộng đồng có đối chứng dựa trên các số liệu nghiên cứu định

2
: Là số NCT ở xã can thiệp và xã đối chứng.
Z: Hệ số tin cậy.
α,
β
: Là xác suất của việc phạm sai lầm loại 1 và loại 2, chọn α =
0,05,
β
= 0,2
p
1,
p
2
: Tỷ lệ NCT bị ốm trong 2 tuần trước điều tra, trước và sau can
thiệp; p
1
= 0,35 (theo nghiên cứu của Trần Ngọc Tụ - 2008); p
2
= 0,25 (tỷ
lệ mong muốn).
Tính được: n
1
= n
2
= 328 người, số phiếu dự phòng 15%, nên: n
1
=
n
2
= 378 người, thực tế đã điều tra tại xã can thiệp là 382 người, xã đối

+ Xây dựng chỉ số ĐHDVCĐ để đánh giá kết quả mô hình can thiệp;
+ Quản lý KCB định kỳ cho NCT tại xã;
+ Quản lý theo dõi huyết áp NCT tại thôn;
+ Truyền thông, tư vấn sức khoẻ và một số hoạt động CSSK khác.
2.2.5. Lực lượng tham gia
- Điều tra viên: NVYT của TYT 4 xã/phường nghiên cứu.
- Khám bệnh cho NCT: NVYT của PKĐK Nam Anh, TTYT huyện,
TYT.
- Giám sát viên: NCS, lãnh đạo TTYT huyện, cán bộ Viện VSDTTW.
2.2.6. Đạo đức trong nghiên cứu
- Thông tin thu thập được chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu.
- Được sự đồng ý của chính quyền, y tế địa phương và đối tượng
nghiên cứu.
- Được Hội đồng Y đức Sở Y tế Bình Dương và Viện VSDTTW thông
qua.
2.2.7. Hạn chế của đề tài
- Đề tài mới chỉ nghiên cứu tại 4 xã/phường của 4 huyện/thị xã của tỉnh
Bình Dương nên tính đại diện chưa cao.
- Mới chỉ nghiên cứu 1 số nội dung CSSK cho NCT, các nội dung về:
dinh dưỡng, tập dưỡng sinh chưa được đề cập nghiên cứu.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng nhu cầu, tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa
bệnh của người cao tuổi và khả năng đáp ứng của trạm y tế xã tại
tỉnh Bình Dương
3.1.1. Một số đặc điểm, điều kiện sống của người cao tuổi
70,5% NCT trong nghiên cứu này là nữ giới; nhóm từ 70 - 79 tuổi
chiếm tỷ lệ cao nhất (52,3%); chỉ có 21,3% NCT có trình độ THCS trở
lên; 40,9% NCT đã góa; 12,2% NCT vẫn phải tự kiếm sống; chỉ có 9,6%
NCT còn làm việc bình thường

(n = 1.530)
Nam (n = 452) Nữ (n = 1.078)
Tân Đông Hiệp 1,89 2,34 2,11
An Phú 1,92 2,23 2,07
Khánh Bình 2,08 2,12 2,10
Phú Hòa 2,15 2,19 2,17
Chung 4 xã/phường 2,01 2,22 2,11
Ước tính tần suất ốm của NCT tại các xã nghiên cứu là 2,11
lượt/người/năm. Tuy nhiên, tần suất ốm của NCT nữ là 2,22 lượt, của NCT
nam là 2,01 lượt.
3.1.2.2. Khả năng tiếp cận các cơ sở y tế của người cao tuổi tại 4 xã nghiên
cứu
Bảng 3.10. Phân bố người cao tuổi theo thời gian tiếp cận các cơ sở y
tế
Đơn vị tính: Tỷ lệ %
Cơ sở y tế
Thời gian đến cơ sở y tế
Dưới 10 phút 10-30 phút 31-60 phút Trên 60 phút
Trạm y tế xã 85,5 13,2 1,3 -
Hiệu thuốc tư 65,7 30,3 4,0 -
Thầy thuốc tư 60,5 28,5 8,1 2,9
PKĐKKV 58,2 23,5 11,7 6,6
Bệnh viện 10,5 30,1 28,7 30,7
Về thời gian tiếp cận các cơ sở y tế của NCT. Đối với TYT xã, hầu
hết NCT tiếp cận dưới 10 phút (85,5%), còn 13,2% NCT tiếp cận từ 10 -
30 phút và chỉ có 1,3% là tiếp cận từ 31 - 60 phút. Đối với hiệu thuốc tư,
thầy thuốc tư và PKĐKKV, từ 58,2% - 65,7% NCT tiếp cận dưới 10
phút, từ 23,5% - 30,3% NCT tiếp cận từ 10 - 30 phút, từ 4,0% - 11,7%
NCT tiếp cận từ 31 - 60 phút, còn lại tiếp cận trên 60 phút. Riêng đối với
bệnh viện có 40,6% NCT tiếp cận 30 phút trở lại; 28,7% NCT tiếp cận từ

(1) (1)
<0,05
Hiệu thuốc tư 18,5 16,7 14,3 12,6 9,5
Thầy thuốc tư 15,1 15,8 11,6 12,7 11,0
PKĐKKV 16,9 14,7 15,1 11,2 9,9
Bệnh viện 62,8
(2)
49,2 42,3 35,5 30,4
(2) (2)
<0,05
Đối với nhóm Q
1
(nhóm rất nghèo), thời gian tiếp cận trung bình tới
TYT xã, hiệu thuốc tư, thầy thuốc tư và PKĐKKV là khoảng từ 15,1 -
18,5 phút, tuy nhiên tiếp cận tới bệnh viện là 62,8 phút. Đối với nhóm rất
giàu (Q
5
), thời gian tiếp cận trung bình tới bệnh viện 30,4 phút, còn tới
các cơ sở y tế khác từ 8,5 - 11,0 phút.
Thời gian tiếp cận tới TYT xã và bệnh viện của nhóm Q
1
là gấp 2
lần so với nhóm Q
5
và sự chênh lệch này là có ý nghĩa thống kê với
p<0,05.
Bảng 3.13. Phân bố người cao tuổi theo ý kiến về tiếp cận cơ sở y tế
đầu tiên khi có nhu cầu khám chữa bệnh
Cơ sở y tế
Người cao tuổi (n = 1.530)

TYT và 17,7% NCT đến bệnh viện. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ NCT không chạy
chữa và đến lang y (2,2% và 6,3%). Xét theo nhóm thu nhập, khi có nhu
cầu KCB, tỷ lệ NCT thuộc nhóm rất nghèo (Q
1
) chọn hình thức tự chữa
bệnh và đến TYT cao hơn nhiều so với nhóm rất giàu (Q
5
) (44,7% so với
5,4% và 36,4% so với 17,2%), với p<0,05. Ngoài ra, tỷ lệ NCT đến bệnh
Nhãm thu nhËp
0
100
0
100
35,29
47,05
67,31
86,92
77,78
57,04
34,82
17,04
0
20
40
60
80
100
Q1 Q2 Q3 Q4 Q5
Tû lÖ % céng dån

145,1 nghìn đồng)…
Biểu đồ 3.7. Phân bố tỷ số chi phí trung bình 1 lần khám chữa bệnh
so với TNBQĐN/ tháng của người cao tuổi
Chi phí trung bình 1 lần KCB so với thu nhập bình quân đầu
người/tháng của NCT ở dịch vụ nội trú bệnh viện là 9,5 lần; trong khi
DVYT tư nhân là 2,1 lần; y học dân tộc là 1,1 lần; ngoại trú bệnh viện là
0,7 lần đặc biệt tại TYT chỉ là 0,6 lần.
Bảng 3.18. Tỷ lệ hộ gia đình người cao tuổi có vay nợ
trong 1 tháng trước điều tra theo 5 nhóm thu nhập
Đơn vị tính: Tỷ lệ %
Nội dung Nhóm thu nhập
Chung
(n=1530)
Q
1

(n
1
= 34)
Q
2
(n
2
= 260)
Q
3

(n
3
= 1035)

3;
19,9% HGĐ ở nhóm Q
4
và 57,2% HGĐ ở nhóm Q
5
. Tuy nhiên, mục
đích vay nợ ở mỗi nhóm là khác nhau. Đối với nhóm Q
1
và Q
2
, gần 50%
(41,9% - 45,8%) HGĐ trong số những hộ vay nợ dùng vào mục đích chữa
bệnh, trong khi tỷ lệ này ở nhóm Q
4
, Q
5
là rất thấp (5,6% và 0%). Sự chênh
lệch giữa nhóm Q
1
và Q
4
là có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
3.1.3. Khả năng đáp ứng dịch vụ khám chữa bệnh của trạm y tế
xã/phường
Bảng 3.19. Các chỉ số về nhân lực y tế của 4 trạm y tế xã/phường
Chỉ số nhân lực
Trạm y tế xã/phường
TB/Xã
Tân Đông
Hiệp

360 345 324 321 337
Ngân sách y tế /đầu người/năm
(VNĐ)
14.547 15.917 13.967 13.464 14.424
Tỷ lệ phân bố ngân sách xã (%):
- Lương, phụ cấp
- Các chương trình y tế
- Hỗ trợ cho địa phương
71,4
23,6
5,0
67,8
30,3
1,9
79,6
17,6
2,8
74, 5
22,1
3,4
73,3
23,4
3,3
Mỗi TYT xã được cấp ngân sách trung bình là 337 triệu đồng/1
năm, cao nhất là phường Tân Đông Hiệp (360 triệu) và thấp nhất là xã
Phú Hòa (321 triệu). Ngân sách y tế/người/năm chung của 4 xã là 14.424
đồng, trong đó cao nhất là xã An Phú (15.917 đồng) và thấp nhất là xã
Phú Hoà (13.464 đồng).
Trong tổng số ngân sách y tế cấp cho TYT mỗi năm, trung bính có
73,3% là dành cho lương, phụ cấp cho NVYT và 23,4% dành cho các

(1,2)
>0,05; p
(2,4)
>0,05
Bình thường 84,6 78,5 86,7 79,9
Kém 13,9 19,9 12,5 19,3
Điếc 1,5 1,6 0,8 0,8
3. Triệu chứng về nói: p
(1,2)
<0,05; p
(2,4)
<0,001
Rõ ràng 86,4 92,1 71,5 68,4
Khó nghe 13,6 7,9 28,5 31,6
Câm 0 0 0 0
4. Triệu chứng về tay chân: p
(1,2)
>0,05; p
(2,4)
<0,05
Đi lại bình thường 74,3 80,6 88,0 73,9
Đi lại yếu 25,4 18,6 11,7 25,8
Liệt 0,3 0,8 0,3 0,3
Đối với triệu chứng về thần kinh, tỷ lệ NCT thuộc xã can thiệp
trong tình trạng tỉnh táo ở thời điểm sau can thiệp cao hơn so với trước
can thiệp (95,0% so với 85,9%) và tỷ lệ NCT trong tình trạng lú lẫn thời
điểm sau can thiệp thấp hơn so với trước can thiệp (0% so với 8,6%) và
đều có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Ngoài ra, thời điểm sau can thiệp,
tỷ lệ NCT tỉnh táo ở xã can thiệp cao hơn so với xã chứng và tỷ lệ NCT
lú lẫn ở xã can thiệp là thấp hơn so với xã chứng với p<0,001. Với triệu

<0,05
Không 89,0 84,6 86,4 77,8
Có 11,0 15,4 13,6 22,2
3. Bệnh về tiêu hóa: p
(1,2)
>0,05; p
(2,4)
<0,05
Không 88,2 83,8 85,4 77,5
Có 11,8 16,2 14,6 22,5
4. Bệnh về tiết niệu: p
(1,2)
>0,05; p
(2,4)
<0,001
Không 97,6 95,0 96,1 88,8
Có 2,4 5,0 3,9 11,2
5. Bệnh về sinh dục: p
(1,2)
>0,05; p
(2,4)
<0,05
Không 99,0 97,4 99,5 94,5
Có 1,0 2,6 0,5 5,5
Ở thời điểm sau can thiệp, tỷ lệ NCT mắc bệnh tim mạch, hô hấp,
tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục ở xã can thiệp thấp hơn so với xã chứng, với
p<0,05.
Bảng 3.31. Tình trạng hiện mắc bệnh của người cao tuổi
qua khám sức khoẻ, trước và sau can thiệp
Tình trạng mắc bệnh hiện

Tại thời điểm sau can thiệp, ở xã can thiệp tỷ lệ NCT hiện tại đang
mắc bệnh ở mức độ nặng thấp hơn ở xã đối chứng (7,1% so với 13,6%),
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01.
3.2.2. Đánh giá hiệu quả của mô hình chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi dựa vào y tế tuyến cơ sở.
3.2.2.1. Mạng lưới quản lý sức khoẻ người cao tuổi của trạm y tế xã
Bảng 3.32. Tình hình quản lý khám chữa bệnh
cho người cao tuổi tại 2 xã, trước và sau can thiệp
Hoạt động
Xã can thiệp Xã đối chứng
Trước CT Sau CT Trước CT Sau CT
Ban CSSKBĐ có nội dung về
CSSK cho NCT (lần)
1 lần/năm
1 lần/tháng
1 lần/năm
1 lần/năm
Ban CSSKBĐ có được báo cáo về
NCT hàng tháng
0 Có 0 0
Số lần giao ban NVYT ấp hàng
tháng (lần)
1lần/tháng 1lần/tháng 1lần/tháng 1lần/tháng
Tỷ lệ NVYT ấp có sổ theo dõi sức
khoẻ NCT (%)
0 100% 0 0
Tỷ lệ NVYT ấp có theo dõi SK
NCT hàng tháng (%)
0 100% 0 0
Tỷ lệ NVYT ấp có đến nhà NCT


Bảng 3.33. Tình hình khám chữa bệnh định kỳ cho NCT
tại 2 xã, trước và sau can thiệp
Hoạt động
Xã can thiệp Xã đối chứng
Trước CT Sau CT Trước
CT
Sau CT
Khám bệnh định kỳ tại trạm y tế
xã, hoặc tại thôn (lần/năm)
0 7 lần 0 0
Số ngày khám các chuyên khoa: lao,
mắt, tâm thần (ngày/năm)
0 2 0 0
Số ngày KCB cho NCT vào các ngày lễ
trong năm (ngày/năm)
0 1 0 0
Số ngày KCB cho NCT từ 90 tuổi trở
lên trong năm (ngày/năm)
0 1 0 0
Số lần KSK định kỳ/năm cho NCT
(lần/năm)
1 lần
(6/2010)
1 lần
(6/2011)
1 lần
(6/2010)
1 lần
(6/2011)

35,3 100,0 31,6 34,7
3. Tỷ lệ NCT được xét nghiệm đờm
trong năm
3,1 15,2 1,1 1,1
4. Tỷ lệ NCT được điều trị lao trong
năm
1,3 1,8 0,5 0,5
5. Tỷ lệ NCT được điều trị bệnh HA
trong năm
0 25,7 0 0
6. Tỷ lệ NCT được điều trị bệnh
tâm thần trong năm (%)
1,1 1,1 0,5 0,3
So sánh: p
(1.1), (1.2)
<0,05; p
(1.2), (1.4)
<0,05; p
(2.1), (2.2)
<0,05; p
(2.2), (2.4)
<0,05
p
(3.1), (3.2)
<0,05; p
(3.2), (3.4)
<0,05; p
(6.1), (6.2)
<0,05; p
(6.2), (6.4)

CT
Sau
CT
CSHQ
Trước
CT
Sau
CT
CSHQ
- Tỷ lệ NCT được KCB
và tư vấn SK tại TYT
trong năm
35,3 100 183,3 31,6 34,7 9,8 173,5
- Tỷ lệ NCT được XN
đờm trong năm
3,1 15,2 390,3 1,1 1,1 0 390,3
- Tỷ lệ sử dụng HĐ
quản lý KCB cho NCT
tại TYT
35,1 100 184,9 31,6 34,7 9,8 175,1
- Tỷ lệ sử dụng đủ HĐ
quản lý KCB cho NCT
tại TYT
45,5 87,7 92,7 40,5 41,4 12,2 90,5
- Tỷ lệ sử dụng tốt HĐ
quản lý KCB cho NCT
tại TYT
35,1 100 184,9 31,6 34,7 9,8 175,1
Hiệu quả can thiệp của một số chỉ số can thiệp là khá cao: Chỉ số tỷ
lệ NCT được KCB và tư vấn SK tại TYT trong năm là 173,5%, tỷ lệ

4.1.1.2. Khả năng tiếp cận các cơ sở y tế của người cao tuổi
Để có thể tiếp cận thuận lợi các cơ sở y tế, yếu tố đầu tiên là
phương tiện đi lại của gia đình NCT. Theo kết quả nghiên cứu của chúng
tôi, 69,0% HGĐ NCT có xe máy. Về thời gian tiếp cận các cơ sở y tế của
NCT, đối với TYT xã, hầu hết NCT tiếp cận dưới 10 phút (85,5%). Như
vậy, có thể thấy, tại tỉnh Bình Dương, hầu hết NCT không mất nhiều thời
gian khi tiếp cận TYT, nhưng khi có nhu cầu KCB, thì chỉ có 39,9%
NCT lựa chọn TYT xã. Trên thực tế, nguyên nhân làm giảm khả năng và
tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ CSSK của NCT, thì ngoài nguyên nhân về
khoảng cách tiếp cận, còn các lý do quan trọng khác như hệ thống y tế cơ
sở còn yếu, thiếu thuốc men và trang thiết bị KCB cho NCT, gánh nặng
chi tiêu CSSK, mạng lưới phục vụ y tế cho NCT còn yếu và thiếu so với
nhu cầu CSSK của NCT
4.1.1.3. Về sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người cao tuổi
Về tình hình sử dụng các DVYT khi KCB, có tới 31,9% NCT thường
tự chữa bệnh, có 27,6% NCT sử dụng TYT; 17,7% NCT đến bệnh viện và
còn một tỷ lệ nhỏ NCT đến lang y hoặc không chữa bệnh. Như vậy, còn
một tỷ lệ khá cao NCT tự điều trị khi ốm đau và thực tế này đang làm cho
công tác CSSK cho NCT không được đảm bảo và bệnh tật của NCT có thể
bị nặng lên, nguy cơ khuyết tật của NCT là rất cao. Chi phí trung bình 1
lần KCB của một NCT là 264.200 VNĐ. Kết quả này đã cao hơn gấp 2
lần so với thời điểm năm 2001 theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Tập tại
28 xã nông thôn (134.500VNĐ). Như vậy, chi phí y tế của NCT đã tăng
rất nhanh trong thời gian gần đây và thực trạng này hoàn toàn phù hợp
với xu thế tăng chi phí y tế chung trong toàn quốc hiện nay.
4.2. Về hiệu quả mô hình “Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào
y tế tuyến cơ sở”
4.2.1. Về kết quả triển khai mô hình
Từ những căn cứ khoa học và thực tiễn, chúng tôi xây dựng mô
hình “Chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi dựa vào y tế tuyến cơ sở” với

khi được triển khai mô hình, NCT của xã can thiệp đã có những sự thay
đổi về tình trạng bệnh hiện tại theo xu hướng tích cực, tỷ lệ mắc bệnh và
mức độ bệnh nặng ở NCT đều giảm đi. Mô hình đã giúp cho NCT nhận
thức tốt hơn về tầm quan trọng của việc CSSK
Sau khi triển khai thực hiện mô hình tại xã can thiệp (xã Khánh
Bình), các hoạt động quản lý KCB NCT đã có sự thay đổi rõ rệt so với
thời điểm trước can thiệp và so với xã đối chứng. Tại xã can thiệp ở thời
điểm sau can thiệp, hàng tháng, báo cáo về NCT được gửi lên Ban
CSSKBĐ xã, 100% NVYT ấp có sổ theo dõi sức khỏe NCT, có theo dõi
sức khỏe NCT định kỳ hàng tháng và đến nhà NCT hàng tháng, có đo
huyết áp định kỳ tháng tại thôn. NCT được truyền thông về sức khỏe 7
lần/năm và được khám bệnh định kỳ tại TYT xã. Trong khi đó tại xã đối
chứng, công tác quản lý KCB NCT hầu như chưa được quan tâm, chú
trọng, các hoạt động trên chưa được triển khai, như Ban CSSKBĐ không
được báo cáo về NCT hàng tháng; nhân viên y tế ấp không có sổ theo dõi
sức khỏe NCT, không theo dõi sức khỏe NCT định kỳ hàng tháng, không
đo huyết áp định kỳ; không truyền thông cho NCT về CSSK, không
khám bệnh định kỳ cho NCT Như vậy, sự khác nhau về các hoạt động
quản lý KCB cho NCT ở 2 xã đã cho thấy rất rõ về sự bất cập, hạn chế
trong công tác CSSK cho NCT ở y tế tuyến xã. Nguyên nhân của tình
trạng này trước hết là do nguồn kinh phí hạn hẹp nên công tác đầu tư để
nâng cao năng lực, kỹ năng cho cán bộ, nhân viên y tế, chăm sóc NCT
còn hạn chế và điều này tác động không nhỏ đến chất lượng dịch vụ
chăm sóc NCT. Việc triển khai mô hình “chăm sóc sức khoẻ người cao
tuổi dựa vào y tế tuyến cơ sở” tại tuyến xã đã làm cho các cấp ủy đảng,
chính quyền, các ban ngành, đoàn thể và cán bộ y tế thay đổi nhận thức
về công tác CSSK cho NCT, tăng cường và nâng cao hơn nữa trách
nhiệm trong việc đảm bảo cho NCT được tiếp cận các dịch vụ y tế khi có
nhu cầu.
Khi các hoạt động quản lý khám chữa bệnh được tăng cường, thì

quyền và cán bộ y tế còn chưa đầy đủ về ý nghĩa, vai trò và tầm quan
trọng của công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và đặc biệt là những
đối tượng cần ưu tiên trong đó có người cao tuổi. Do vậy, cần tập trung,
tăng cường hơn nữa công tác truyền thông về chăm sóc sức khỏe cho các
cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, cộng
đồng và mọi người dân.
Ngoài ra, ở xã can thiệp vào thời điểm sau can thiệp, các chỉ số gồm
tỷ lệ sử dụng, tỷ lệ sử dụng đủ, tỷ lệ sử dụng tốt lần lượt đạt là 100%;
87,7% và 59,4%, trong khi ở xã đối chứng lần lượt là 34,7%; 41,4%;
3,6%, sự khác biệt giữa các tỷ lệ trên có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Hiệu quả can thiệp (HQCT) của một số chỉ số rất cao: HQCT của tỷ lệ
NCT được KCB và tư vấn SK tại TYT trong năm là 173,5%. HQCT của
tỷ lệ NCT được xét nghiệm đờm trong năm là 390,3%. HQCT của tỷ lệ
sử dụng hoạt động quản lý KCB cho NCT tại TYT là 175,1%. HQCT của
tỷ lệ sử dụng đủ hoạt động quản lý KCB cho NCT tại TYT là 90,5%.
HQCT của tỷ lệ sử dụng tốt hoạt động quản lý KCB cho NCT tại TYT là
787,8%. Tất cả những kết quả trên là bằng chứng về sự hiệu quả của mô
hình “chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi dựa vào y tế tuyến cơ sở”.
Hoạt động tuyên truyền cũng là một nội dung quan trọng được triển
khai trong mô hình. Qua truyền thông, tư vấn, kiến thức hiểu biết của
NCT về phòng bệnh đã được nâng cao, hiểu đúng về chế độ ăn uống
phòng bệnh HA, bù nước khi tiêu chảy, tránh các yếu tố nguy cơ như hút
thuốc lá, nhận thức đúng về việc tập thể dục dưỡng sinh và trách nhiệm
tự CSSK cho bản thân để chủ động đến NVYT thôn đo huyết áp, đi đến
trạm để KCB mỗi khi sức khoẻ bất thường. Đối với NCT, CSSK về tinh
thần cho chính họ là việc làm quan trọng nhất nên dịch vụ tư vấn chăm
sóc NCT để họ hiểu biết hơn về nguy cơ bệnh tật, thương tật hoặc tàn phế
và cách thức phòng, chống rất quan trọng. Tuy nhiên, các dịch vụ này
chưa phát triển tương xứng với nhu cầu và cũng chưa có chính sách cụ
thể nào để định hướng, khuyến khích sự phát triển dịch vụ này. Chăm sóc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status