Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi và đánh giá mô hình chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi đang áp dụng - Pdf 13


uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em
Trung tâm thông tin
Báo cáo
kết quả đề tài NCKH cấp bộ

nghiên cứu một số đặc trng
của ngời cao tuổi Và đánh giá mô hình
chăm sóc sức khoẻ ngời cao tuổi đang áp dụng Chủ nhiệm đề tài : TS. Nguyễn Quốc Anh
Th ký : CN. Phạm Minh Sơn
5688
15/02/2006 Hà Nội, 11/2005
Mục lục

2.2.1. Mức sống và hoạt động kinh tế ngời cao tuổi 62
2.2.2. Tình trạng sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ ngời cao tuổi 65

Phần II
thực trạng chăm sóc ngời cao tuổi
tại một số địa phơng

I. Thực trạng ngời cao tuổi 71
1.1. Ngời cao tuổi, nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế-xã hội 71
1.2. Cơ cấu giới tính và những hạn chế chăm sóc sức khoẻ ngời cao tuổi 76
1.3. Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn 79
1.4. Cơ cấu ngời cao tuổi chia theo các nhóm đối tợng 87
1.5. Tình trạng gia đình và hôn nhân của ngời cao tuổi 90
II. Tình hình chăm sóc sức khoẻ ngời cao tuổi tại các địa phơng khảo sát 93
2.1. Tình hình sức khoẻ của ngời cao tuổi tại các địa bàn điều tra 93
2.1.1. Một số bệnh thờng gặp của ngời cao tuổi 93
2.1.2. Tình trạng cơ sở khám chữa bệnh của ngời cao tuổi ở các địa
bàn điều tra 97
2.1.3. Nhu cầu khám chữa bệnh của ngời cao tuổi 100
2.1.4. Ngời cao tuổi tự đánh giá về tình trạng sức khoẻ 101
2.2. Công tác chăm sóc sức khoẻ ngời cao tuổi tại các địa phơng 103
2.3. Chính sách chăm sóc sức khoẻ với ngời cao tuổi 110
III. Đời sống vật chất và đời sống tinh thần của ngời cao tuổi 115
3.1. Đời sống vật chất 115
3.1.1. Thu nhập của ngời cao tuổi 115
3.1.2. Điều kiện nhà ở, sinh hoạt của ngời cao tuổi 116
3.1.3. Sở hữu tài sản và sử dụng tài sản có giá trị của ngời cao tuổi 121
3.1.4. Đánh giá mức sống của ngời cao tuổi 122
3.2. Đời sống tinh thần của ngời cao tuổi 124
3.2.1. Tham gia hoạt động văn hoá của ngời cao tuổi 124


danh mục chữ viết tắt

CS Chăm sóc
CSSK Chăm sóc sức khoẻ
CSSK-NCT Chăm sóc sức khoẻ ngời cao tuổi
DS Dân số
DS,GĐ&TE Dân số, Gia đình và Trẻ em
ĐTCB Điều tra cơ bản
ĐTBĐDS Điều tra biến động dân số
KCSSK-NCT Khu chăm sóc sức khoẻ ngời cao tuổi
LHQ Liên hợp quốc
NCT Ngời cao tuổi
UBND Uỷ ban nhân dân
TCTK Tổng cục Thống kê
TĐTDS Tổng điều tra dân số
TTCĐ Tàn tật cô đơn



6
Danh sách cán bộ nghiên cứu chính

TT Họ và tên Học hàm,
học vị
Chức vụ, cơ quan
1. Nguyễn Quốc Anh Tiến sĩ
Kinh tế
Giám đốc Trung tâm Thông tin,
Uỷ ban DS,GĐ&TE
2. Phạm Minh Sơn Cao học
Luật
Phó trởng phòng T liệu-Th viện,
TTTT, Uỷ ban DS,GĐ&TE
3. Nguyễn Ngọc Quỳnh Cử nhân
Toán
Trởng phòng Công nghệ Thông tin,
TTTT, Uỷ ban DS,GĐ&TE
4. Đặng Trần Giang Cử nhân Xã
hội học
Chuyên viên, Trung tâm Thông
tin, Uỷ ban DS,GĐ&TE
5. Nguyễn Thế Long Cử nhân
Quản trị KD
Chuyên viên, Trung tâm Thông
tin, Uỷ ban DS,GĐ&TE
6. Nguyễn Thế Huệ Tiến sĩ Dân
số-Lịch sử
PGĐ Trung tâm nghiên cứu và hỗ

Đề xuất một số giải pháp về chăm sóc sức khoẻ ngời cao tuổi tại
cộng đồng.
2. Kết quả nghiên cứu:
Qua việc tổng thuật, phân tích, đánh giá các đặc trng cơ bản về ngời cao
tuổi ở Việt Nam, cùng với việc phân tích các số liệu thứ cấp qua các cuộc điều
tra, khảo sát nghiên cứu chuyên sâu về ngời cao tuổi ở vùng đặc trng, ngời
cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt và đánh giá mô hình can thiệp Khu chăm sóc sức
khoẻ ngời cao tuổi "đang áp dụng, chúng tôi thu đợc kết quả sau:
1. Già hoá dân số, một vấn đề toàn cầu đang đợc nhiều quốc gia trên thế
giới quan tâm. Xu hớng già hoá dân số mang tính lâu dài và không thể đảo
ngợc. Tình trạng già hoá dân số đang diễn ra mạnh mẽ, kéo theo nhiều vấn đề
kinh tế - xã hội cần phải giải quyết. Việt Nam không nằm ngoài tình trạng trên.
Số lợng ngời già ở Việt Nam tăng mạnh cả về số tuyệt đối lẫn tơng đối.
Nhằm chuẩn bị cho tình trạng trên những vấn đề nh nâng cao chất lợng chăm
sóc sức khoẻ ngời cao tuổi hoặc phát huy tài năng trí tuệ của NCT cần đợc
quan tâm nhiều hơn.
2.Tuổi thọ trung bình của Việt Nam cao hơn mức trung bình của thế giới,
điều này cũng đồng nghĩa với việc tỷ lệ ngời già trong tổng dân số cao. Số
lợng ngời cao tuổi (trên 60 tuổi) phân bố không đồng đều, thờng tập trung tại
các khu đô thị, các tỉnh đồng bằng có điều kiện kinh tế-xã hội phát triển. Điều
kiện sống tốt là một trong những nhân tố tích cực nâng cao tuổi thọ của con
ngời và thúc đẩy già hoá dân số. Tỷ lệ ngời cao tuổi tại khu vực thành thị cao,
đồng bằng th
ờng cao hơn miền núi, những cũng có những địa phơng có đặc
thù riêng, có những nhóm dân tộc ít ngời có nhiều ngời cao tuổi, những điều
này đều đòi hỏi có những chính sách, giải pháp đồng bộ về ngời cao tuổi.
3. Mặc dù trình độ học vấn hay chuyên môn của ngời cao tuổi đang ngày
đợc nâng lên theo thời gian và thể hiện rõ qua các nhóm tuổi nhng thực tế cho
thấy vẫn có một số lợng không nhỏ các cụ vẫn còn mù chữ, đặc biệt là các cụ ở
vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn. Chính hạn chế này đã gây nhiều khó khăn cho

khám chữa bệnh còn nhiều hạn chế. Hiện vẫn còn nhiều nhóm đối tợng ngời
cao tuổi ch
a tiếp cận đến đợc với thẻ bảo hiểm y tế. Đồng thời chất lợng
khám chữa bênh theo chế độ thẻ bảo hiểm còn cha đảm bảo.
8. Điều kiện sống của ngời cao tuổi đang dần đợc cải thiện cùng với
điều kiện sống của toàn xã hội. Tình trạng nhà ở của ngời cao tuổi tơng đối
tốt, tại các địa phơng nhiều ngôi nhà tình nghĩa cho các cụ là ngời có công đã
đợc xây dựng. Mức chi sinh hoạt hàng tháng tính bình quân cho 1 ngời cao
tuổi ở nông thôn còn thấp và có sự chênh lệch lớn so với khu vực thành thị.
9. Sự khác biệt về phát triển giữa các tỉnh đã có những ảnh hởng rõ rệt
đến điều kiện sống của ngời cao tuổi và khoảng cách này cần đợc thu hẹp.
Đây là một yếu tố tạo nên sự khác biệt và khoảng cách giàu nghèo giữa các khu
vực. Do vậy, những cải thiện về mặt chính sách cho ngời cao tuổi trong thời
gian tới cần tập trung vào giải quyết những khác biệt trong cuộc sống của NCT
giữa các khu vực và đặc biệt giữa đồng bằng với miền núi, vùng sâu, vùng xa.
10. Tình trạng và mức sống liên quan khá chặt chẽ theo nhóm tuổi của các
cụ. Nhóm tuổi càng cao thì mức độ khó khăn càng lớn. Giữa các nhóm ngời cao

9
tuổi có sự phân hoá mạnh về mức sống. Tỷ lệ ngời cao tuổi sống thiếu thốn và
rất thiếu thốn rất cao ở các nhóm cô đơn, tàn tật và đợc hởng trợ cấp xã hội
thờng xuyên. Đây chính là nhóm có nguồn thu nhập ít ỏi và đơn điệu. Cuộc
sống của ngời cao tuổi hiện nay còn nhiều khó khăn và phần lớn trong số họ
phải dựa vào chính bản thân để sống. Điều kiện kinh tế khó khăn là nguyên nhân
cơ bản thúc đẩy ngời cao tuổi tham gia hoạt động kinh tế.
11. Do điều kiện kinh tế-xã hội ngày một phát triển, ngời cao tuổi có
cuộc sống tâm lý, tinh thần tơng đối thoải mái. Tuy cuộc sống còn nhiều khó
khăn, song đời sống văn hoá tinh thần của ngời cao tuổi hiện khá đa dạng và
thờng xuyên đợc cải thiện. So sánh giữa hai khu vực thành thị và nông thôn
không có sự chênh lệch khắc biệt. Hoạt động văn hoá phổ biến của ngời cao


10
đợc cuộc sống thanh thản và nhận đợc sự quan tâm, chăm sóc chu đáo. Trong
bối cảnh Việt Nam cũng nh nhiều nớc đã và đang tiến đến ngỡng già hoá dân
số thì các mô hình chăm sóc ngời cao tuổi cũng là vấn đề cần xem xét. Nhà
nớc cũng nên ban hành những quy định chung và tạo điều kiện thuận lợi cho
những mô hình này hoạt động.
17. Vit Nam khú cú th ỏp dng mụ hỡnh chm súc ngi gi nh cỏc
nc phỏt trin (Trung tõm ban ngy, c s chm súc v nuụi dng ngi gi
tp trung) vỡ hn ch v thu nhp v t l tham gia BHYT quỏ thp (30% ụ
th v 15% nụng thụn). Trong iu kin kinh t khú khn, vic ỏp dng mụ
hỡnh Khu chm súc sc kho
NCT ti cng ng l phự hp vi phng chõm
xó hi hoỏ nh: y t d phũng, r tin, phc v a s NCT, cú th c vựng
nụng thụn.
Kiến nghị:
1. Sớm hoàn thiện hệ thống tổ chức của cơ quan quản lý nh nớc về NCT
ở các cấp từ TW xuống cơ sở. ở TW, những cơ quan nh Uỷ ban DSGĐTE Việt
Nam cần xem xét và tiến tới thành lập Vụ ngời cao tuổi là đơn vị quản lý nhà
nớc đầu mối thực hiện công tác này. Nhà nớc cần xây dựng, bổ sung các chính
sách, văn bản qui phạm pháp luật, bố trí nguồn kinh phí hoạt động cho các cấp,
có cán bộ chuyên trách để điều hành, thực hiện công tác về NCT.
2. Xây dựng chiến lợc quốc gia về ngời cao tuổi để có kế hoạch dài hạn,
chủ động với xu thế già hoá dân số ở Việt Nam đang phát triển nhanh.
3. Xây dựng chính sách nâng cao chất lợng sống cho ngời cao tuổi về
chăm sóc sức khoẻ ngời cao tuổi và các điều kiện phát triển kinh tế-xã hội. Chú
trọng có chính sách cho những nhóm đặc thù nh : Phụ nữ cao tuổi, đặc biệt là
phụ nữ cô đơn và ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
4. Xây dựng chính sách xã hội hoá công tác CSSK-NCT, phát huy tài
năng, trí tuệ, bản sắc của ngời cao tuổi trong các hoạt động xã hội, cộng đồng.

Kết quả nghiệm thu: Loại xuất sắc Chức vụ Chủ nhiệm
đề tài
Cơ quan
chủ trì
Chủ tịch
Hội đồng đánh
giá chính thức
Cơ quan
quản lý đề tài
Họ và tên Nguyễn Quốc Anh Võ Anh Dũng Nguyễn Thiện Trởng Nguyễn Bá Thuỷ
Học vị Tiến sĩ Cử nhân Tiến sĩ Tiến sĩ
Chữ ký
Đóng dấu

12Mở đầu

I. Tính cấp thiết
Liên Hợp Quốc đã dự báo, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ già hóa, vì thế tại nhiều

cung cấp luận cứ khoa học giúp Đảng, Chính phủ và các Bộ, ban, ngành trong
việc xây dựng chính sách phụng dỡng, chăm sóc ngời cao tuổi Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay và trong những năm tới. 23
II. Mục tiêu nghiên cứu.
Hệ thống hoá tình hình chung về ngời cao tuổi trong và ngoài nớc;
Đánh giá thực trạng về ngời cao tuổi ở Việt Nam;
Tổng kết, đánh giá kinh nghiệm từ một số mô hình chăm sóc sức khoẻ
ngời cao tuổi đang áp dụng;
Đề xuất một số giải pháp về chăm sóc sức khoẻ ngời cao tuổi tại cộng
đồng.

III. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tập trung vào nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau :
1. Tổng thuật, phân tích, đánh giá các đặc trng cơ bản về ngời cao tuổi ở
Việt Nam, so sánh với tình hình thế giới và các nớc trong khu vực.
Thu thập tài liệu, xử lý số liệu thứ cấp từ các cuộc điều tra cơ bản và
điều tra chuyên đề về ngời cao tuổi.
Tổng thuật, phân tích chọn lọc số liệu xây dựng báo cáo phân tích.
Nghiên cứu, phân tích, lựa chọn lý thuyết nghiên cứu .
2. Khảo sát nghiên cứu chuyên sâu các đặc trng Kinh tế-Xã hội của ngời
cao tuổi, đặc biệt ngời ở vùng đặc trng, ngời cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt.
Nội dung khảo sát một số đặc trng cơ bản về: điều kiện kinh tế; điều
kiện xã hội; điều kiện, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ; đặc điểm về
nguyện vọng, tâm lý của ngời cao tuổi.
Địa bàn thực hiện khảo sát: Ngời cao tuổi vùng đặc trng: tỉnh Thái
Bình; Ngời cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt: Khu chăm sóc sức khoẻ
ngời cao tuổi, Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội (khảo sát đầu và cuối kỳ,

của cuộc điều tra cơ bản về ngời cao tuổi của Hội ngời cao tuổi Việt Nam do
Bộ Kế hoạch- Đầu t hỗ trợ, khai thác nguồn thông tin số liệu để xử lý thứ cấp
phục vụ phân tích thực hiện theo mục tiêu của đề tài nghiên cứu đề ra.
3. Phơng pháp nghiên cứu định lợng theo chuyên đề.
Đề tài chọn Thái Bình là địa bàn đặc trng sẽ tiến hành điều tra, khảo sát
chuyên đề bổ trợ cho kết quả nghiên cứu từ xử lý thứ cấp kết quả điều tra cơ
bản về ngời cao tuổi. Tại Thái Bình, đề tài chọn 1 huyện và thành phố Thái
Bình để nghiên cứu, khảo sát. Mỗi huyện, thị chọn 2 xã, phờng hoặc thị trấn.
Mỗi xã/phờng điều tra 50 phiếu. Số phiếu điều tra ở mỗi huyện là 100. Tổng
số phiếu điều tra ở tỉnh Thái Bình là 200. Đề tài tổ chức điều tra định lợng qua
phiếu điều tra phỏng vấn đã đợc thiết kế sẵn theo nội dung của đề tài. Các
xã/phờng điều tra lập danh sách ngời cao tuổi trong xã, dựa vào danh sách đã
đ
ợc lập, chọn ngẫu nhiên đối tợng để điều tra.
4. Phơng pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm).
Phơng pháp khảo sát điền dã thông qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
nhằm thu thập những nguyện vọng của ngời già và các ý kiến đề xuất của các

25
ban, ngành, đoàn thể và ngời dân về chăm sóc, phụng dỡng và phát huy khả
năng của NCT ở địa bàn nghiên cứu.
5. Phơng pháp chuyên gia và phân tích.
- Phơng pháp chuyên gia: Tranh thủ kinh nghiệm của các chuyên gia
về các lĩnh vực liên quan tới nội dung nghiên cứu về ngời cao tuổi.
- Phơng pháp phân tích: Dùng các số liệu đã thu thập đợc qua phỏng vấn
sâu, thảo luận nhóm và kết quả xử lý phiếu điều tra để phân tích, viết báo cáo
theo từng chuyên đề để xây dựng báo cáo chung.
6. Xử lý và phân tích thông tin.
- Kiểm tra, mã hoá phiếu điều tra
- Xử dụng phần mềm SPSS 10.0 để tổng hợp, thống kê, kiểm tra, xử lý các

dự báo già hoá dân số cho từng nớc đến năm 2150 (World Aging, UN 2002).
Tổ chức LHQ khu vực châu
á-Thái bình dơng (ESCAP) cũng đã có nhiều
nghiên cứu về sự già hoá dân số của khu vực và cho một số nớc thành viên. Các
công trình nghiên cứu đợc công bố trong các hội nghị dân số quốc tế và đăng
tải trên các ấn phẩm về thông tin, nghiên cứu dân số. Nhiều nớc cùng khu vực
nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, . . cũng đã triển khai nhiều cuộc điều tra
khảo sát và các nghiên cứu về già hoá dân số để đề ra những chính sách, giải
pháp cho vấn đề này. Đặc biệt một số nớc có đặc điểm dân số tơng tự nh Việt
Nam cũng đã sớm nghiên cứu dân số già nh Trung Quốc, Thái Lan, Sigapore, . .
Nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ở các nớc phát triển, dân số cao tuổi đã
trở thành vấn đề trọng tâm và đợc hoạch định trong chiến lợc tổng thể về phát
triển Kinh tế-Xã hội. Tại một số nớc vấn đề này đã đợc đa thành một chơng
trình chính thức trong luật u sinh .

1.1.1. Thực trạng già hoá dân số trên thế giới
Già hoá dân số một hiện tợng mang tính toàn cầu, xảy ra ở khắp nơi và
ảnh hởng đến mọi quốc gia, dân tộc. Đây là hiện tợng cha từng thấy trong
lịch sử loài ngời, bắt đầu xuất hiện trong thế kỷ XX và đợc dự báo là sẽ tiếp
tục trong thế kỷ XXI với mức độ ngày càng gia tăng. Già hoá dân số có ảnh
hởng sâu rộng đến mọi phơng diện của cuộc sống con ngời. Trong lĩnh vực

27
kinh tế, già hoá dân số tác động đến tăng trởng kinh tế, tiết kiệm, đầu t và tiêu
dùng, thị trờng lao động, lơng hu, tiền thuế và sự chuyển giao giữa các thế
hệ. Trong lĩnh vực xã hội, già hoá dân số ảnh hởng đến y tế và chăm sóc sức
khoẻ, cấu trúc gia đình và thu xếp cuộc sống, nhà ở và di c. Về mặt chính trị,
già hoá dân số có thể tác động đến việc bầu cử và ngời đại diện
( )1
.

Số ngời cao tuổi (triệu) 214 350 590 1120

1
Tình trạng già hoá dân số trên thế giới 1950-2050. trích dịch từ United Nations. World
Population Aging 1950-2050, DS &PT số 10-2002, Tr11.

28
Tỷ lệ NCT (%) 8.6 9,1 9,7 14,0
Số NCT ở các nớc giàu (triệu) 95 166 230 315
Số NCT ở các nớc nghèo (triệu) 119 180 360 805
Nguồn: Vấn đề dân số hôm nay. Số 1 (Quí 1 năm 1999)

Tình trạng già hoá dân số đã làm thay đổi cấu trúc dân số xã hội và đặt ra
những vấn đề bức xúc đòi hỏi mỗi nớc phải có những chính sách thích hợp để
giải quyết. Đánh giá đợc tầm quan trọng của già hoá dân số, năm 1982, lần đầu
tiên Liên Hợp Quốc triệu tập Đại hội thế giới về tuổi già họp tại thành phố Viên,
thủ đô nớc Cộng hoà áo đã thống nhất đa ra 50 điều khuyến cáo bao quát 6
mục tiêu lớn về ngời cao tuổi trong đó mục tiêu về sức khoẻ và dinh dỡng
đợc đề cập đến đầu tiên.
Năm 1991, trên cơ sở kiểm điểm những kết quả thực hiện, Liên Hợp Quốc
tiếp tục thông qua "Những nguyên tắc đạo lý của Liên Hợp Quốc đối với ngời
cao tuổi" (Nghị quyết số 46/91) bao gồm 5 nguyên tắc về đảm bảo các quyền
của ngời cao tuổi trong đó quyền đợc chăm sóc khi cần thiết cũng đợc đề cập
đến. Tiếp đó, năm 1992, Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết số 4/ 86 nêu lên
những mục tiêu toàn cầu về ngời cao tuổi trong thập kỷ 1997 - 2001.
Từ ngày 8 đến ngày 12 tháng 4 năm 2002 tại Madrid, Tây Ban Nha, Đại hội
đồng Liên Hợp Quốc quyết định triệu tập Hội nghị thế giới lần thứ 2 về già hoá
dân số, để tổng kết những kết quả của Hội nghị thế giới lần thứ nhất cũng nh
thông qua Kế hoạch hành động quốc tế về ngời cao tuổi 2002. Tuyên bố chính
trị của Hội nghị bao gồm 19 điều trong đó tại điều thứ 14 có nêu rõ: "Chúng tôi

Người già cần có nơi tĩnh dưỡng, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của tuổi
già. Cho nên Phật giáo từ nhiều thế kỷ trước đã theo phương hướng này. Đó là
thôn Di Đà, thôn Di Đà chính là khu dành cho người già. Phát khởi ý tưởng:
"Kiến lập thôn Di Đà". Đương nhiên là thôn Di Đà xây dựng ở ngoại ô s
ẽ tốt
hơn so với xây trong thành phố. Ở ngoại ô thì sinh hoạt của mọi người sẽ gần
với thiên nhiên hơn. Ở đô thị thì phương tiện đầy đủ hơn nhưng khu nhà dành
cho người già, mỗi người mỗi đơn vị nhỏ, không có khung cảnh thiên nhiên, làm
cho tâm hồn khó thảnh thơi, thoải mái.
Ngay ở Úc, trung tâm người già, mỗi một người có một phòng nhỏ, độc
lập, cũng giống như
thôn Di Đà. Trung tâm hoạt động rất lớn, đường xá nho
nhỏ. Trên đường có xe nhỏ, ô tô có mui, trên xe có thể ngồi năm sáu người.
Người già nếu đi không được, thì cứ vẫy tay, xe sẽ đến liền. Điều này rất đáng
để tham khảo, học tập. Ở đây có một trung tâm y tế, có một giảng đường. Mọi
người cao tuổi đều là người tu Tịnh độ, cần có một Niệm Phật đườ
ng. Niệm
Phật đường nên xây dựng theo hình tròn, giống như hình tròn cảnh bồng lai,
hình tròn giống như một đoá hoa sen. Ngoài ra còn có một thư viện, không nhất
thiết phải gọi là lầu tàng kinh, mà gọi là Thư viện. Ở đây có một kho sách phong
phú, giúp cho những người già ở đây vui vẻ đọc sách, vui vẻ nghiên cứu học
thuật, tạo cho họ một hoàn cảnh tu hành thật hoàn hảo. Ngoài ra, đây cũng chính
là nhà sinh hoạt thường ngày của c
ộng đồng. Bên trong cũng có thể biểu diễn
văn hoá nghệ thuật, có thể mời bên ngoài, như đoàn thể học sinh, hoặc những
đoàn thể khác đến biểu diễn ca múa, tạp kỹ cho người cao tuổi. Nhiều khi không
cần phải ra ngoài mời người đến, đây là chỗ tiêu khiển, giải trí của cộng đồng,
như vậy tạo được sự giao lưu giữa người già và các tầng lớp khác c
ủa cộng
đồng. Hơn nữa có thể tổ chức một nhà nấu ăn chay. Đối với những người trong

Thiên Thai học hội. Mỗi m
ột tông phái kiên lập một đạo tràng, tu tập nhưng
đồng đạo cùng chí hướng lại và cùng tu học, cùng sống những năm tháng cuối
đời trong hạnh phúc mỹ mãn. Khiến cho trong cuộc đời này của chúng ta, tuổi
trẻ thì phục vụ cho đất nước, cho xã hội, cống hiến trí tuệ và năng lực. Đến lúc
tuổi già thì có thể hưởng được sự đền bù hạnh phúc mỹ mãn và như thế thì một
đời chúng ta không trôi qua uổng phí. Hơn nữ
a đạo tràng là mô hình để mô
phỏng và trong tương lai các địa phương đều có xây dựng kiểu đạo tràng này,
như nơi trao đổi, sinh hoạt của cộng đồng, phù hợp với nhiều người. Loại đạo
tràng dành cho người già hay viện an lão thì tuyệt vời hơn nhiều, sức sống tràn
đầy, hoạt bát, sinh động.
Cho nên trong tương lai đạo tràng không cần xây nhiều chùa triền, am
miếu. Vậy thì xây cái gì? - Xây nhà cư trú cho người già, viện an lão, viện
dưỡng lão. Đấy chính là
đạo tràng hoàng pháp của Phật gíao. Những người già
hiện nay ngày một nhiều, nhưng phần lớn thân thể vẫn còn khỏe mạnh, vẫn
không cần người chiếu cố, vẫn có nhiều nhu cầu. Hơn nữa ở châu Á, những
người già ít nhiều đều có dành dụm chút đỉnh, không như người châu Âu. Người
châu Á có tập quán dành dụm, ít nhiều đều có một số vốn. Hơn nữa con cái cũng
có thể tận lòng hiếu, cha m
ẹ có thiếu kém thì con cái đều có thể chủ động giúp
đỡ ít nhiều. Do đó nếu họ sức khỏe vẫn còn tốt thì viện an lão cũng có thể thực
hiện những hoạt động khác như đi dạo chơi trong phạm vi gần, mỗi tháng tổ

31
chức một lần, đưa những người già đi dạo đó đây, giúp cho họ có điều kiện tiếp
xúc với thiên nhiên, tâm tình của họ được vui vẻ, thoải mái. Đồng thời cũng có
thể giảng giải một chút Phật pháp. Hoặc tùy lúc chỉ dẫn họ tĩnh tọa như thế nào,
điều thân, điều tâm như thế nào, niệm Phật như thế nào. Những vi

hoàn toàn không giống với cái không thời gian họ đang sống, có thể cho tuổi già
được hạnh phúc, mỹ mãn thật sự. Họ sẽ cảm nhận được trong cuộc đời họ, tuổi
già thật sự có ý nghĩa, tuổi già thật sự có giá trị. Giai đoạn này rất quan trọng,
giảng kinh trong viện an lão có được k
ết quả này, có được sự đón nhận này.
Chúng ta thấy rằng có tư nhân xây nhà dành cho người già, Chính phủ có
trợ cấp, vì quốc gia có ngân sách phúc lợi dành cho người già. Nếu như bằng
lòng phát tâm, Chính phủ rất hoan nghênh, lại còn động viên khen thưởng. Nếu
như chúng ta có thể làm được viên mãn hoàn hảo như thế thì tin rằng sẽ được
mọi thành phần, mọi tầng lớp xã hội hưởng ứng trợ giúp. Cho nên, về mặt tài
chính cảm thấy không phả
i là quá khó khăn, lo lắng. Vấn đề ở đây chính là
chúng ta phải phát ra thành ý. Thật lòng thật ý, hết thảy vì người già mà phục
vụ. Chúng ta phải trân thành, thanh tịnh, bình đẳng, đại từ đại bi, thực hiện thật

32
tt, tht viờn món s nghip em pht phỏp ph chỳng sanh. Mi ngy, mt
ngi nhúm gúp sc li, th duyờn buụng b sch. Tui x chiu ch mt lũng
hng v o. o trng thng xuyờn t chc cỏc bui ta m v cỏc loi hc
thut, a ngi cao tui n tham d. Nhng ngi cao tui thuc nhiu tng
lp, v
i cỏc loi ngh nghip khỏc nhau trong xó hi, h s em kinh nghim, trớ
tu, vn ling hiu bit ca mỡnh truyn li cho lp tr th h sau, mt cỏch t
nguyn, khụng iu kin, khụng giỏ c, giỳp cho th h tr cng thờm tin b,
cng thờm vng tin. Hn na sau khi hu trớ, t nhiờn mỡnh cú phng hng
ỳng n, cú mc tiờu sinh hot ỳng n, h mi th
t s cm nhn c i
ngi cú ý ngha, cú giỏ tr, cú ch quy hng. iu ny trong Pht phỏp gi l
cú ch nng v ỳng n. iu mong mun ln nht ca xó hi ụng cnh
nh ca hu ht cỏc xó hi khỏc, lỳc tui gi cú mt kt thỳc tt p, cú th thc

Phongsavath Boupha, Vice Minister for Foreign Affairs, Lao People Democratic Republic, Second World
Assembly on Aging, Madrid, Spain, 8-12 April, 2002.

33
cao tuổi. Đối với việc chăm sóc sức khoẻ cho ngời cao tuổi tại Kazakhstan, vấn
đề quan trọng nhất là các bệnh về tuần hoàn máu. Số lợng ngời cao tuổi bị cao
huyết áp gia tăng nhng kể từ năm 1997, tỷ lệ ngời chết vì căn bệnh này đã
giảm nhẹ. Những kinh nghiệm và sự hiểu biết của ngời cao tuổi đang đợc huy
động giúp cho việc giải quyết chính bản thân những vấn đề của họ. Ngày nay,
ngời cao tuổi đã đợc quan tâm hơn. Các bệnh viện đã có khoa lão khoa cung
cấp các dịch vụ về sức khoẻ, t vấn bởi các chuyên gia và lời khuyên trong việc
dùng thuốc cho ngời cao tuổi.
Theo một cuộc điều tra tại Pakistan trong những năm 1984-1985, khoảng
12% những ngời trong nhóm tuổi 60-64 và 25% những ngời từ 65 tuổi trở lên
có một số khuyết tật. Trong số những ngời cao tuổi khuyết tật, những ngời bị
mù, điếc, què và những tật nguyền về cả thể xác lẫn tinh thần đều có tỷ lệ cao.
Không phải tất cả các căn bệnh tuổi già đều là giai đoạn cuối hoặc chúng dẫn
đến khuyết tật. Do vậy, nếu có một kế hoạch giáo dục về sức khoẻ thì nhiều căn
bệnh có thể đợc phòng và điều trị để ngời bệnh có thể sống độc lập hơn và
khoẻ mạnh hơn
3
.
Tại Ai Cập, triết lý về chăm sóc tuổi già đợc xây dựng dựa trên cơ sở
cung cấp cho tất cả những ai đến tuổi nghỉ hu. Ai Cập đồng thời ủng hộ việc
chăm sóc toàn diện cho ngời cao tuổi thông qua các hoạt động tình nguyện của
các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và gia đình. Chăm sóc ngời cao tuổi cũng
đồng thời là t tởng nền tảng của đạo Hồi, phần lớn các gia đình đều hớng tới
việc chăm sóc ngời cao tuổi.
Các chính sách về chăm sóc sức khoẻ cho ngời cao tuổi dựa trên cơ sở
nâng cao các dịch vụ chăm sóc về y tế và tinh thần, gia tăng nhận thức của ngời

thuộc Cap Town có một tỷ lệ ngời bị cao huyết áp khá cao (30,3%)
4
.
Tại Zimbabue, tác động của HIV/AIDS đến ngời cao tuổi đã đợc thừa
nhận. Ngời cao tuổi ở quốc gia này đang phải đối mặt với một vấn đề chính
trong việc cung cấp sự chăm sóc và giúp đỡ cho những ngời ốm đau bệnh tật, là
những ngời quay trở lại để nhờ cậy sự chăm sóc của cha mẹ già cùa mình. Họ
cũng đồng thời phải đối mặt với những thách thức trong việc chăm sóc cho
những đứa trẻ mồi côi do cha mẹ chúng chết vì AIDS.
Chính phủ cải cách trong trồng trọt hiện thời đã chứng minh, ngợc lại với
những hiểu biết theo tập quán, tầng lớp những ngời trẻ tuổi và có học thức
chuyên môn cao đang chiếm lĩnh trong lĩnh vực nông nghiệp. Hiện tợng này sẽ
đảm bảo rằng nông nghiệp sẽ không còn mang ý nghĩa sống còn nhng sự phát
triển của công nghiệp nông sinh học sẽ là một yếu tố quan trọng trong việc giảm
nghèo và là cần thiết cho ngời cao tuổi. Các chơng trình đang đợc triển khai
để giúp đỡ ngời cao tuổi bao gồm: cung cấp lơng thực và dinh dỡng miễn
phí, chăm sóc và bảo vệ, cung cấp nơi c trú và điều trị y tế miễn phí và an ninh
xã hội cho ngời cao tuổi. Tuy nhiên, Zimbabwe đang thiếu các nguồn lực để
giúp đỡ ngời cao tuổi trong các hoạt động tạo thu nhập nói chung và các
chơng trình giáo dục và đào tạo phù hợp.
Những ngời từ 70 tuổi trở lên chiếm 10% dân số của Isarel và đang gia
tăng. Những ngời hởng lơng hu chịu trách nhiệm 40% tổng chi phí về y tế.
Do đó, việc nâng cao khẩu phần ăn của ngời cao tuổi và phòng chống bệnh tật
có thể dẫn đến giảm sử dụng các dịch vụ y tế và một phần lớn trong khoản tiền
tiết kiệm. Trong số những ngời trẻ tuổi hơn, tình trạng quá trọng lợng có thể
gây nên bệnh tật nhng đối với ngời cao tuổi, điều ngợc lại là đúng. Một khẩu
phần ăn không đủ vitamin B có thể gây ra triệu chứng của bệnh mất trí và căn
bệnh này có thể đ
ợc loại bỏ nếu ngời cao tuổi có đủ thức ăn đúng tiêu chuẩn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status