1
MỞ ĐẦU
Với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, sự phát triển của kinh
tế, xã hội, đời sống của con người ngày càng được nâng lên, tuổi thọ
trung bình ngày càng tăng, dân số Việt Nam đang có xu hướng già hoá
nhanh cả về tỷ lệ và số lượng tuyệt đối. Theo Tổng Điều tra biến động
Dân số và Kế hoạch hoá gia đình (01/4/2012), tỷ lệ người cao tuổi (từ 60
tuổi trở lên) chiếm 7,2% dân số vào năm 1989, 8,2% vào năm 1999, 9,9%
vào năm 2011 và 10,2% vào năm 2012. Dự báo tỷ lệ này có thể sẽ tăng đột
biến và đạt 16,8% vào năm 2029 và 22% vào năm 2050. Như vậy, các số
liệu thống kê cho thấy số lượng người cao tuổi (NCT) ở nước ta tăng
nhanh cùng với tiến trình già hóa dân số trong mười năm trở lại đây.
Hạn chế quá trình lão hóa và bệnh tật cho NCT nhằm kéo dài cuộc
sống khỏe mạnh là ước vọng ngàn đời của con người. Điều này phụ thuộc
vào một phần rất quan trọng là công tác dự phòng chăm sóc sức khỏe
(CSSK). Đông Anh là một huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội có diện
tích 18.230 ha, dân số 276.750 người. Trong những năm gần đây tốc độ
đô thị hóa của huyện diễn ra rất nhanh, số NCT cũng ngày một tăng cao,
câu hỏi đặt ra là: (1) Tình hình sức khỏe và nhu cầu sử dụng dịch vụ
CSSK của NCT Đông Anh ra sao? (2) Sự đáp ứng của gia đình và xã hội
đến công tác CSSK NCT như thế nào? (3) Chính quyền, các ban, ngành,
đoàn thể và y tế xã cần có những giải pháp nào để đáp ứng nhu cầu cơ
bản về CSSK của NCT tại tuyến xã? Xuất phát từ những lý do trên chúng
tôi tiến hành đề tài này nhằm các mục tiêu sau:
1. Mô tả nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ người cao
tuổi và thực trạng đáp ứng của trạm y tế xã tại huyện Đông Anh, Hà
Nội, năm 2012.
2. Đánh giá hiệu quả mô hình quản lý, tư vấn, chăm sóc sức
khoẻ người cao tuổi dựa vào cộng đồng tại 2 xã của huyện Đông Anh,
CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƢỜI CAO TUỔI
1.1.1. Khái niệm ngƣời cao tuổi
Trong cuốn Bách khoa quốc tế về xã hội học (International
encyclopedia of sociology) phần Người cao tuổi và sự quan tâm của các
3
tổ chức xã hội khi đưa ra khái niệm về NCT các tác giả phân chia theo
độ tuổi như sau:
+ 65 -74: người cao tuổi trẻ; 75 - 84: trung cao tuổi; > 84: nhóm già.
- Tổ chức Y tế thế giới (WHO) lại phân chia các lứa tuổi của người già:
+ 60 - 74: người cao tuổi; 75 - 90: người già; > 90: người già sống lâu.
Về mặt Pháp luật chung, theo Điều 2 trong Luật Người cao tuổi
(11/2009) qui định NCT là “Công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”.
1.1.2. Ngƣời cao tuổi trên thế giới và ở Việt Nam
Theo qui ước của Liên Hợp Quốc, một quốc gia có tỷ lệ NCT từ
10% trở lên thì quốc gia đó được coi là dân số già. Pháp đạt tỷ lệ này từ
năm 1935, Thụy Điển năm 1950.
Nhịp độ già hoá dân số ở nước ta trong Thập niên 90 của Thế kỷ XX
và 10 năm đầu của Thế kỷ XXI đã nhanh hơn nhiều so với những năm
1980 (từ 25% lên 33% và 35%), cao hơn nhịp độ tăng dân số (dân số tăng
20% và dân số già tăng 25% giai đoạn 1979-1989; còn giai đoạn 1989-
1999 các tỷ lệ tương ứng là 18% và 33%). Nếu nhìn toàn bộ thời kỳ từ
1979 đến 2007, dân số tăng lên 1,61 lần còn dân số cao tuổi tăng 2,17 lần.
Tốc độ già hoá dân số nước ta khoảng 35 năm với tỷ lệ NCT tăng gấp đôi
từ 5,8% (1989) lên 14% (2025).
1.1.3. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngƣời cao tuổi
Nhu cầu CSSK là những yêu cầu cấp thiết của NCT không chỉ phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan mà còn phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng,
giá thành, mức độ bệnh, khoảng cách và khả năng tiếp cận với các cơ sở
CSSK của từng người. Ở Việt Nam, nhu cầu CSSK của người cao tuổi là
hội hóa…); cơ chế, chính sách.
1.2. MÔ HÌNH CHĂM SÓC SỨC KHOẺ NGƢỜI CAO TUỔI
1.2.1. Chính sách chăm sóc ngƣời cao tuổi
Nhận thức rõ được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác CSSK
NCT, Đảng và Nhà nước đã coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật
chất, tinh thần của NCT trong đó có chăm sóc sức khỏe là đạo lý của dân
tộc, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và các cấp chính quyền. Điều
này đã được thể hiện qua việc ban hành nhiều văn bản chính sách của
Nhà nước trong công tác chăm sóc NCT.
1.2.2. Các mô hình chăm sóc sức khỏe ngƣời cao tuổi
Một số mô hình CSSK NCT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:
5
- Mô hình chăm sóc người cao tuổi tại gia đình.
- Mô hình y tế viễn thông trong CSSK NCT.
- Mô hình CSSK NCT tại cộng đồng.
- Mô hình CSSK NCT tại bệnh viện.
- Mô hình câu lạc bộ sức khỏe.
Nhìn chung, các mô hình triển khai chưa đồng bộ, chưa toàn diện, có
nhiều yếu tố cản trở về nguồn lực, cơ sở vật chất để duy trì phát triển một
cách bền vững ở cộng đồng.
Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng, chất liệu nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu.
- Người chăm sóc chính cho NCT trong gia đình.
- Cán bộ y tế: của TYT xã, cơ sở hành nghề y tư nhân, NVYT thôn.
2.2.2.2. Khám sức khỏe
- Tổ chức KSK toàn diện cho 1.025 NCT ở 4 xã nghiên cứu.
2.2.2.3. Cỡ mẫu nghiên cứu can thiệp
- Người cao tuổi: 512 NCT tại 2 xã can thiệp; 506 NCT tại 2 xã đối chứng.
- Nhân viên y tế ở 4 xã nghiên cứu: 56 người.
- Cán bộ lãnh đạo quản lý cấp xã: 36 người.
- Người chăm sóc chính của NCT: 971 người.
Mô hình "Quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào
cộng đồng" được triển khai gồm 3 nội dung chính:
- Nội dung 1: Quản lý, khám chữa bệnh tại TYT cho NCT.
- Nội dung 2: Truyền thông, hướng dẫn, tư vấn sức khỏe cho NCT.
- Nội dung 3: Thành lập CLB sức khỏe ngoài trời.
2.3. Các biến số, chỉ số nghiên cứu
2.3.1. Các biến số nghiên cứu
2.3.1.1. Các biến số mô tả
- Về đặc điểm nhân khẩu học NCT, gồm: tuổi, giới tính, trình độ
học vấn, nghề nghiệp hoạt động xã hội, sinh hoạt cá nhân, tình hình sức
khỏe, triệu chứng bệnh/ốm, thói quen sử dụng dịch vụ y tế, nguyện vọng
CSSK, luyện tập dưỡng sinh và các hoạt động TDTT, văn hoá
7
- Trạm y tế xã, gồm: nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế,
trình độ chuyên môn, hoạt động y tế về NCT, khă năng đáp ứng dịch vụ y
tế cho NCT (mức độ sẵn có, độ bao phủ).
- Đặc điểm về gia đình - xã hội gồm: sự quan tâm của gia đình đến
NCT về sức khỏe bệnh tật, chăm sóc tinh thần, phục vụ NCT, vai trò
trách nhiệm và sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể
cho hoạt động NCT.
2.3.1.2. Các biến số phân tích
- Nhu cầu CSSK của NCT gồm: nhu cầu quản lý sức khỏe, CSSK
Đánh giá kết quả TT - GDSK.
Đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp dựa vào CSHQ.
2.3.2. Các chỉ số nghiên cứu
2.3.2.1. Sử dụng dịch vụ CSSK của người cao tuổi
* Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của NCT:
- Tỷ lệ % NCT có khám, không khám sức khỏe định kỳ
- Tỷ lệ % NCT lựa chọn các cách sử trí khi ốm
- Tỷ lệ % NCT lựa chọn nơi KCB khi bị ốm
* Mức độ tiếp cận với dịch vụ y tế và thầy thuốc khi bị ốm:
- Tỷ lệ % NCT mời thầy thuốc đến nhà
- Tỷ lệ % NCT đi khám ngay
- Tỷ lệ % NCT được hướng dẫn cách chăm sóc, theo dõi và điều trị.
* Mức độ tiếp cận thông tin liên quan đến sức khỏe, bệnh tật ở NCT:
- Tỷ lệ % NCT nghe nói về chế độ ăn uống và luyện tập
- Tỷ lệ % NCT nghe nói về bệnh tim - mạch, bệnh tăng huyết áp
- Tỷ lệ % NCT nghe nói về cơ xương khớp, ung thư …
* Nguyện vọng của người cao tuổi về chăm sóc sức khỏe:
- Tỷ lệ % NCT có nguyện vọng được cung cấp dịch vụ KCB tại nhà
- Tỷ lệ % NCT được khám sức khỏe định kỳ
- Tỷ lệ % NCT được CBYT cung cấp thông tin phòng bệnh
- Tỷ lệ % NCT được luyện tập thể dục thể thao, dưỡng sinh
2.3.2.2. Khả năng đáp ứng dịch vụ CSSK NCT của y tế tuyến xã
- Một số chỉ tiêu y tế:
+ Số lượng, cơ cấu NVYT.
+ Chỉ số NVYT/TYT.
+ Số dân trung bình /bác sỹ.
9
+ Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế, thuốc thiết yếu.
- Tỷ lệ % NVYT trả lời đúng hoặc sai các câu hỏi trắc nghiệm đánh
NCT ở nhóm tuổi 60 - 74 (69,0%). Đa số NCT đều biết chữ (96%), trong đó
10
NCT biết đọc, biết viết chiếm tỷ lệ cao nhất (33,7%). Số NCT có trình độ đại
học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ thấp (2,9% và 5,0%).
3.1.2. Thực trạng sức khoẻ và nhu cầu CSSK của NCT
3.1.2.1. Tự đánh giá sức khỏe người cao tuổi
Có 56,1% NCT tự đánh giá tình trạng sức khỏe là bình thường,
22,0% NCT cảm thấy tinh thần thoải mái, dễ chịu. 83,7% NCT vẫn đi
lại, sinh hoạt, chỉ có 15,9% NCT cho rằng đi lại gặp nhiều khó khăn.
3.1.2.2. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi
Tỷ lệ NCT tự đánh giá bị mắc triệu chứng/bệnh hô hấp là 52,5%,
tim mạch 46,1% (trong đó THA là 40,0%), tâm thần kinh (43,7%), cơ
xương khớp (37,1%).
Bảng 3.1. Phân bố số đợt ốm trên một NCT tại 4 xã nghiên cứu
Nội dung
Uy Nỗ
(n=256)
Thụy Lâm
(n=254)
Liên Hà
(n= 260)
Cổ Loa
(n=255)
Chung
(n=1025)
Số lượt người ốm
trong 3 tháng
68,4
Tần suất mắc triệu
chứng/ bệnh
Uy Nỗ
(n=256)
Thụy Lâm
(n=254)
Liên Hà
(n= 260)
Cổ Loa
(n=255)
Chung
(n=1025)
Chưa phát hiện
12,9
15,0
15,8
17,3
15,3
Một triệu chứng/bệnh
13,7
12,6
17,3
24,7
17,1
Hai triệu chứng/bệnh
43,0
12,2
38,1
35,7
32,3
được KCB tại nhà với chi phí phải chăng chiếm tỷ lệ cao nhất (87,8%). Có
75,3% NCT muốn được KSK định kỳ tại TYT xã và 18,8% NCT có những
mong muốn khác.
3.1.3. Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của ngƣời cao tuổi
Có 77,9% người cao tuổi không đi khám sức khỏe định kì. Lý do
không thuận tiện, mất thời gian (40,1%) và cảm thấy không cần thiết
(31,8%). Người cao tuổi lựa chọn bệnh viện, PKĐKKV và TYT để khám
chữa bệnh ban đầu (54,0% và 32,2%). Người cao tuổi nam đến bệnh viện,
PKĐKKV để KCB chiếm tỷ lệ cao hơn NCT nữ (58,9% so với 51,5%).
Trong khi đó tỷ lệ NCT nữ đến trạm y tế và y tế tư nhân lại cao hơn NCT
nam (33,5% so với 30,0% và 12,2% so với 8,0%). Lý do người cao tuổi sử
dụng dịch vụ KCB tại trạm y tế: thái độ phục vụ tận tình, chu đáo (33,0%),
thuận tiện và gần nhà (32,1%), tốn ít tiền (29,4%)… Tỷ lệ người cao tuổi
lựa chọn các lý do sử dụng dịch vụ KCB tại trạm y tế là tương đối đồng
đều ở cả 4 xã.
3.1.4. Thực trạng đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời cao
tuổi của y tế xã
Tất cả các TYT trên địa bàn nghiên cứu đều có bác sỹ với đầy đủ
trang thiết bị, thuốc và các phương tiện khác (8/8 tiêu chuẩn). Tính điểm
10 tiêu chuẩn theo Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020
thì cả 4 trạm đều đạt tiêu chuẩn (với số điểm từ 92-96 so với 100 điểm).
Hệ thống y tế tư nhân phát triển khá mạnh ở xã Uy Nỗ (20 phòng khám,
15 hiệu thuốc) và Cổ Loa (12 phòng khám, 13 hiệu thuốc), trong khi tại
xã Liên Hà chỉ có 6 phòng khám, 11 hiệu thuốc; con số này ở xã Thuỵ
Lâm là 4 phòng khám, 3 hiệu thuốc. Số lượt NCT đến KCB tại trạm y tế
12
xã Uy Nỗ là 520 (chiếm 6,1%); xã Thuỵ Lâm là 405 (chiếm 5,8%); xã
Liên Hà là 413 (chiếm 5,9%); xã Cổ Loa là 391 (chiếm 5,7%).
3.2. Kết quả triển khai mô hình can thiệp và đánh giá hiệu quả can thiệp
100,0
100,0
0,0
100,0
100,0
0,0
0,0
Số NCT đến TYT
dưới 1 giờ
516
512
-
509
506
-
-
Tỷ lệ tiếp cận (%)
100,0
100,0
0,0
100,0
100,0
0,0
0,0
Số NCT được KCB
tại TYT
256
474
-
hiệu quả
32
238
-
31
34
-
-
Tỷ lệ sử dụng hiệu quả
12,5
50,2
301,6
12,3
13,5
9,7
291,9
So sánh: p
1-2
<0,05; p
1-3
>0,05; p
3-4
>0,05; p
2-4
<0,05
Sau can thiệp, tỷ lệ sẵn có đều đạt 100%, toàn bộ NCT ở các xã đều
có khả năng tiếp cận, tỷ lệ tiếp cận 100%; tỷ lệ sử dụng đủ và tỷ lệ sử dụng
hiệu quả của nhóm can thiệp đều tăng so với trước từ 49,6% và 12,5% lên
92,5% và 50,2%, CSHQ là 86,5% và 301,6% (p< 0,05); trong khi, hai chỉ số
Số câu trả
lời đúng
Nhóm can thiệp (n=30)
Nhóm đối chứng (n=26)
HQCT
(%)
Trƣớc
(1)
Sau
(2)
CSHQ
(%)
Trƣớc
(1)
Sau
(2)
CSHQ
(%)
16-18 câu
13,3
50,0
275,9
11,5
11,5
0,0
2-4
< 0,01; p
3-4
> 0,05
14
Sau can thiệp, tỷ lệ NVYT ở nhóm can thiệp trả lời đúng các câu
hỏi về kiến thức CSSK cho NCT từ 16-18 câu và từ 13-15 câu tăng từ
13,3% và 20,0% lên 50% với HQCT là 275,9% và 150,0% (p <0,01).
Bảng 3.5. Hiệu quả nâng cao hiểu biết của NVYT xã, thôn về các bệnh chống
chỉ định luyện tập thể dục ở NCT trước và sau can thiệp Số câu trả lời
đúng
Trƣớc can thiệp
(n= 30)
Sau can thiệp
(n=30)
CSHQ
(%)
9 – 10 câu
30,0
53,3
77,6
7 – 8 câu
16,6
bệnh mạch vành
53,3
96,6
81,2
PP luyện tập ở NCT bị béo phì
53,3
93,3
75,0
PP luyện tập cho người bị
bệnh khớp
46,7
90,0
92,7
Cách xử trí ban đầu sau khi
bị chấn thương phần mềm
40,0
100,0
150,0
So sánh: p < 0,01
Kiến thức về luyện tập TDTT và cách xử trí ban đầu khi bị chấn
thương của NVYT trước và sau can thiệp đều tăng lên với CSHQ từ
75,0% đến 150,0%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,01.
Bảng 3.7. Hiệu quả nâng cao sự quan tâm của cán bộ Đảng, chính quyền,
đoàn thể chính trị - xã hội về CSSK NCT trước và sau can thiệp
15
Nội dung
Trƣớc can
thiệp (n= 18)
1.4. Dành một phần ngân sách xã cho các
hoạt động CSSK NCT
13
72,2
18
100,0
38,5
1.5. Tổ chức các CLB sức khoẻ NCT
15
83,3
18
100,0
20,0
2. Tổ chức khám chữa bệnh cho NCT tại cộng đồng
2.1. Tổ chức KSK định kỳ cho NCT
15
83,3
18
100,0
20,0
2.2. Tổ chức KCB tại nhà cho NCT
11
61,1
18
100,0
63,7
2.3. Tổ chức truyền thông, TVSK cho NCT
11
61,1
18
100,0
200,3
- Sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính
quyền, đoàn thể đến CSSK NCT
10
55,6
18
100,0
79,9
- Sự nhiệt tình, tích cực của Hội NCT xã
14
77,8
18
100,0
28,5
- Sự nhiệt tình, khả năng CSSK NCT của y tế
9
50,0
18
100,0
100,0
- Nhận thức của gia đình, người thân
trong CSSK NCT ngày càng cao
7
38,9
18
100,0
157,0
- Sự quan tâm, giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân
7
100,0
28,5
- Đời sống gia đình NCT còn nhiều khó khăn
13
72,2
18
100,0
38,5
So sánh: p < 0,01
16
100% cán bộ đã hiểu rõ vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn
thể trong CSSK NCT, đề xuất các biện pháp tổ chức KCB cho NCT tại cộng
đồng. Các cán bộ được phỏng vấn đều nhận thấy được khó khăn và thuận lợi
của địa phương trong công tác CSSK NCT, 100% đồng ý với ý kiến cấp thẻ
bảo hiểm miễn phí cho NCT và có cơ chế đãi ngộ đối với NCT nghèo, tàn
tật, cô đơn không nơi nương tựa. CSHQ từ 5,9% - 200,3%.
Bảng 3.8. Hiệu quả nâng cao sự quan tâm của người chăm sóc chính
trong gia đình trong CSSK NCT trước và sau can thiệp (%)
Tiêu chí
Nhóm can thiệp
(n= 506)
Nhóm đối chứng
(n= 505)
HQCT
(%)
Trƣớc
(1)
Sau
(2)
79.8
333,6
18,0
18,4
2,2
331,4
Đóng góp nguồn lực
cho CSSK NCT
16,6
72.5
336,7
17,8
18,0
1,1
335,6
So sánh: p
1-2
<0,05 ; p
1-3
> 0,05; p
2-4
<0,05; p
3-4
>0,05
Sau can thiệp, đã khơi dậy sự quan tâm của người thân trong gia đình
đối với việc CSSK cho NCT ở nhóm can thiệp bằng những hành động như
quan tâm, dành thời gian đi nghe các buổi nói chuyện (từ 22,3% lên 85,0%),
dành thời gian cho CSSK NCT (từ 22,7% lên 92,5%), tham gia đóng góp với
cộng đồng về mặt kinh tế (từ 16,6% lên 72,5%)…, sự khác biệt có ý nghĩa
43,0
91,4
112,6
51,0
52,2
2,4
110,2
Chữa bệnh
28,9
83,6
189,2
30,4
35,4
16,4
172,8
Theo phong trào
20,5
53,3
160,0
22,5
20,3
9,7
150,3
Không biết
8,4
00,0
-
7,8
7,1
9,0
(n=256)
Chung
(n=516)
Liên Hà
(n=258)
Uy Nỗ
(n=254)
Chung
(n=512)
Số NCT tham
gia CLB sức
khỏe ngoài trời
82
60
142
250
248
499
-
Tỷ lệ % NCT
tham gia CLB
SK ngoài trời
31,5
23,1
27,5
96,9
97,6
Thể
chất
Khỏe mạnh
15,7
32,6
107,6
13,3
14,8
11,2
96,4
Bình thường
56,9
66,2
16,4
55,2
56,1
1,6
14,8
Yếu
26,1
1,2
95,4
30,3
28,2
6,9
88,5
Rất yếu
1,1
0,0
69,9
Lo lắng, buồn phiền
3,9
0,0
100,0
2,1
1,2
42,8
57,2
So sánh: p
1-2
<0,05; p
1-3
> 0,05; p
2-4
<0,05; p
3-4
>0,05
18
Sau 12 tháng tham gia CLB, sức khỏe của NCT đã được cải thiện rất
nhiều, số người khỏe mạnh đã tăng lên rõ rệt so với trước can thiệp và với
nhóm đối chứng, HQCT là 59,4% và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
p<0,05. Tỷ lệ NCT có cảm giác thoải mái, dễ chịu tăng (CSHQ=85,6%),
không còn NCT lo lắng buồn phiền, số người không thoải mái chỉ còn
1,8% giảm 20,5% so với trước can thiệp.
CHƢƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. Thực trạng nhu cầu, sử dụng dịch vụ CSSK NCT và khả năng đáp
mạnh sẽ là cầu nối tốt nhất đến một tuổi già khỏe mạnh, trong đó quan trọng
nhất là thói quen về ăn uống, tập luyện thể dục thể thao Việc tạo lập được
những thói quen tốt là một phương pháp hữu hiệu và rẻ tiền nhất để gìn giữ
sức khỏe. Vì vậy, để chăm sóc và nâng cao sức khỏe NCT cần phải tác động
tổng thể tới tất cả nhóm yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe NCT. Điều này cần
có sự phối hợp của bản thân NCT và gia đình cũng như sự quan tâm của cấp
uỷ Đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể các cấp.
4.1.3. Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ngƣời cao tuổi
Nghiên cứu tình hình sử dụng dịch vụ CSSK và những yếu tố tác
động đến quyết định lựa chọn dịch vụ ở NCT là vấn đề được rất nhiều tác
giả quan tâm. Đây cũng là vấn đề then chốt để tổ chức hệ thống cung ứng
DVYT phù hợp hơn, đáp ứng nhu cầu CSSK của NCT. Một điều quan
trọng là người sử dụng DVYT sẽ có tác động đến hoạt động của hệ thống
cung ứng DVYT chứ không phải do những người cung ứng DVYT quyết
định. Do đó, để nâng cao hiệu quả của hệ thống cung ứng DVYT cho
NCT cần phải nắm bắt được nhu cầu, nguyện vọng và xu hướng thay đổi
cách sử dụng của NCT trong cộng đồng.
Tuy nhiên, thực trạng hiện nay là công tác y tế cơ sở chưa thực sự
được các cấp ủy đảng và chính quyền quan tâm đúng mức, chưa tạo được
niềm tin trong nhân dân. Bằng chứng là đa phần NCT đến KCB tại TYT
chưa nhiều, lý do chủ yếu là thuận tiện, gần nhà, không phải chờ đợi lâu…
4.1.4. Khả năng đáp ứng dịch vụ CSSK của trạm y tế xã
Trạm y tế xã là tuyến y tế gần dân nhất, là nơi đầu tiên người dân
tiếp xúc với hệ thống y tế, phát hiện những vấn đề sức khoẻ sớm nhất.
Mặc dù Đảng và nhà nước đã ban hành những cơ chế, chính sách nhằm
củng cố và phát triển mạng lưới y tế cơ sở, tuy nhiên, vẫn còn nhiều TYT
20
xã thiếu nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác KCB,
CSSK ban đầu cho người dân, đặc biệt là người cao tuổi.
tăng hơn so với trước can thiệp và so với nhóm đối chứng với HQCT là
85,5% (p< 0,05). Tỷ lệ sử dụng đủ, tỷ lệ sử dụng hiệu quả cũng tăng từ
49,6% lên 92,5% và 12,5% lên 50,2% với HQCT là 85,5% và 291,9% (p<
0,05). Những thay đổi trên tuy không lớn nhưng đã góp phần quan trọng
khích lệ, động viên các NVYT hoàn thành nhiệm vụ trong CSSK cho nhân
dân và NCT tại trạm y tế xã ngày một tốt hơn.
4.2.2.2. Kết quả và hiệu quả hoạt động truyền thông, tập huấn, tƣ
vấn sức khoẻ
Hoạt động TT-GDSK là một nội dung quan trọng được triển khai
trong mô hình. Thông qua TT-GDSK nhằm nâng cao kiến thức chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe, giúp NCT xác lập và duy trì những hành vi có lợi cho
sức khỏe, đồng thời hướng dẫn kỹ năng thực hành để thực hiện được
những hành vi sức khỏe đạt hiệu quả cao nhất. Trong nghiên cứu này, mô
hình can thiệp không chỉ TT-GDSK cho đối tượng NCT mà còn cho các
đối tượng khác như người thân trong gia đình NCT; cấp uỷ đảng, chính
quyền; các ban, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội, NVYT tạo nên sức
mạnh to lớn để cùng chung tay góp phần nâng cao sức khỏe cho NCT.
Hoạt động truyền thông đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung, đã bổ
sung, cải thiện kiến thức của người dân xung quanh vấn đề CSSK NCT. Đây
là một chiến lược nhằm tạo dựng sức mạnh to lớn từ cộng đồng đến công tác
này trong những năm tiếp theo.
4.2.2.3. Kết quả và hiệu quả hoạt động của Câu lạc bộ sức khoẻ ngoài trời
Mô hình đã thành lập CLB sức khoẻ ngoài trời thông qua hoạt động
củng cố và duy trì CLB dưỡng sinh tổ chức thành 4 điểm luyện tập ở xã
Liên hà, 3 điểm ở xã Uy Nỗ; thành lập các đội “bóng chuyền hơi”, “cầu
lông” duy trì chế độ luyện tập 2 buổi/ngày, đã huy động sự tham gia của
499 NCT, tăng từ 27,5% lên 97,5% (CSHQ là 254,5% với p<0,01). Câu
lạc bộ sức khoẻ ngoài trời không những đã mang lại hiệu quả về mặt thể
chất mà còn là một môi trường tốt để người cao tuổi giao lưu, sinh hoạt,
là ho, đau đầu, mất ngủ, đau lưng, xương khớp và tăng huyết áp.
- Nhu cầu CSSK của NCT là rất lớn, NCT có nhu cầu được chăm
sóc sức khoẻ toàn diện cả về thể chất và tinh thần; nguyện vọng chủ yếu
23
của NCT là được KCB với chi phí phải chăng (87,8%), được cung cấp
thông tin về phòng bệnh, CSSK (82,7%).
- Về tình hình sử dụng dịch vụ khi bị ốm: chỉ có 22,1% người cao
tuổi đi KSK định kỳ và khi đi khám NCT có xu hướng lựa chọn bệnh
viện, PKĐKKV (54,0%) và TYT xã (32,2%) là chủ yếu. NCT lựa chọn
TYT xã là do thuận tiện, gần nhà (32,1%) và không phải chờ đợi lâu
(26,1); bệnh viện, PKĐKKV là do có thẻ BHYT (51,9%) và chuyên môn
giỏi (49,2%).
- Cả 4 TYT xã đều có bác sỹ với đầy đủ nhân lực, cơ sở hạ tầng,
trang thiết bị và đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn
2011-2020; có khả năng thực hiện các xử trí ban đầu và KCB thông
thường song tỷ lệ sử dụng hiệu quả còn thấp.
2. Hiệu quả mô hình “Quản lý, tƣ vấn, chăm sóc sức khỏe ngƣời cao
tuổi dựa vào cộng đồng”
Mô hình thí điểm “Quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi dựa vào cộng đồng” lấy đối tượng trọng tâm là người cao tuổi và
người thân trong gia đình ở 4 xã nghiên cứu là một mô hình hiệu quả,
có tính khả thi và bền vững do không đòi hỏi chi phí cao, dễ tiến hành,
phù hợp với văn hóa của người Việt Nam và thiết thực với chính người
cao tuổi.
Sau 12 tháng can thiệp, tỷ lệ sử dụng, tỷ lệ sử dụng đủ và tỷ lệ sử
dụng hiệu quả tại TYT xã can thiệp tăng lên với HQCT từ 85,5% đến
291,9% (p<0,05). Trạm y tế xã có khả năng đáp ứng tốt các dịch vụ
CSSK cho người cao tuổi trên địa bàn.
Việc triển khai mô hình “Quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe người
2. Tăng cường các hoạt động văn hóa, thể dục – thể thao, vui chơi
giải trí phù hợp với NCT; hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình
thành các câu lạc bộ văn hóa, thể thao của người cao tuổi ở địa phương. 25
Công trình đƣợc hoàn thành tại:
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS. TS Nguyễn Duy Luật
2. PGS. TS Hoàng Văn Tân
Phản biện 1: PGS. TS Lương Ngọc Khuê – Bộ Y tế
Phản biện 2: PGS. TS Phan Văn tường – Đại học Y tế công cộng
Phản biện 3: TS Hoàng Đức Hạnh – Sở Y tế Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện tổ chức
tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Vào hồi: giờ ngày tháng năm 2014 Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương