Nghiên cứu nhu cầu, đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và thử nghiệm mô hình can thiệp cộng đồng tại huyện đông anh, hà nội - Pdf 36

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, sự phát triển của kinh tế, xã hội, đời sống
của con người ngày càng được nâng lên, tuổi thọ trung bình ngày càng tăng, dân số Việt
Nam đang có xu hướng già hoá nhanh cả về tỷ lệ và số lượng tuyệt đối. Theo Tổng Điều tra
biến động Dân số và Kế hoạch hoá gia đình (01/4/2012), tỷ trọng người cao tuổi (tính từ 60
tuổi trở lên) trong dân số đã tăng nhanh từ 7,2% vào năm 1989 lên 8,2% vào năm 1999,
9,9% vào năm 2011 và 10,2% vào năm 2012 [4]. Dự báo tỷ lệ này có thể sẽ tăng đột biến và
đạt 16,8% vào năm 2029 và 22% vào năm 2050 [20].
Tại Việt Nam, 72,9% người cao tuổi sống ở nông thôn và phần lớn trong số này là
nông dân và làm nông nghiệp, 21% người cao tuổi được hưởng chế độ trợ cấp hưu trí hoặc
mất sức và 70% c n lại sống chủ yếu bằng nỗ lực của chính mình. Chính vì vậy, khi đất
nước chuyển sang cơ chế thị trường, họ là những người đang phải đối mặt với nhiều khó
khăn, phải thích nghi với nhiều thay đổi chưa từng có trước đây [20]. Khi tuổi cao, sức
chống đỡ và sự chịu đựng của con người trước các yếu tố và tác nhân bên ngoài cũng như
bên trong kém đi rất nhiều, đó chính là điều kiện thuận lợi để bệnh tật phát sinh, phát triển.
Ngoài ra, ở người cao tuổi bệnh thường phát triển chậm chạp, âm thầm khó phát hiện và khi
mắc bệnh thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, gây suy sụp sức khỏe rất nhanh chóng. Vì
vậy, đối với người cao tuổi, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe toàn diện như việc rèn luyện
nâng cao sức khỏe về thể chất và tinh thần, khám phát hiện và điều trị bệnh kịp thời là rất
cần thiết.
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác chăm sóc sức khoẻ cho người cao
tuổi, đó là đạo lý thể hiện truyền thống “trọng lão” của dân tộc ta. Mặc dù đã có nhiều mô
hình quản lý và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi được nghiên cứu, triển khai ứng dụng ở
nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt
Nam, nhưng việc áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương c n phụ thuộc vào các
điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là người cao tuổi sống ở các khu vực nông thôn.
Việc tìm kiếm một mô hình phù hợp để nâng cao sức khỏe, cải thiện chất lượng cuộc sống



của Thế kỷ XXI đã nhanh hơn nhiều so với những năm 1980 (từ 25% lên 33% và 35%), cao
hơn nhịp độ tăng dân số (dân số tăng 20% và dân số già tăng 25% giai đoạn 1979-1989; còn
giai đoạn 1989-1999 các tỷ lệ tương ứng là 18% và 33%). Nếu nhìn toàn bộ thời kỳ từ 1979
đến 2007, dân số tăng lên 1,61 lần c ò n dân số cao tuổi tăng 2,17 lần. Tốc độ già hoá dân số
nước ta khoảng 35 năm với tỷ lệ NCT tăng gấp đôi từ 5,8% (1989) lên 14% (2025) [4].
Chỉ số già hóa là một trong những chỉ tiêu quan trọng biểu thị xu hướng già hóa của
dân số. Chỉ số này được tính bằng tỷ số giữa dân số từ 60 tuổi trở lên so với dân số dưới 15
tuổi tính theo phần trăm. Khi chỉ số này lớn hơn 100 tức là dân số cao tuổi lớn hơn dân số
trẻ em. Theo Tổng Điều tra biến động Dân số và Kế hoạch hoá gia đình (01/4/2012), chỉ số
già hóa tăng từ 18% năm 1989 lên 24,3% năm 1999, 37,9% năm 2010 và 42,7% năm 2012
(cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Nam Á (30%)) [4].
Già hóa dân số trong bối cảnh trình độ phát triển kinh tế, xã hội c n thấp là một
thách thức vô cùng to lớn. Mọi quốc gia đều phải đối mặt và giải quyết hàng loạt các vấn đề


4

liên quan đến NCT như: dịch vụ CSSK NCT ngày càng gia tăng, sự tăng trưởng kinh tế phải
đáp ứng đủ nhu cầu gia tăng nhóm phụ thuộc trong khi nhóm lao động lại giảm mạnh. Nói
cách khác, nếu không chuẩn bị một cách kỹ lưỡng ngay từ bây giờ thì dân số già không
khỏe mạnh và không có thu nhập bảo đảm cuộc sống sẽ buộc chính phủ phải có những
khoản chi tiêu rất lớn và điều này sẽ tác động tiêu cực đến ngân sách nhà nước cũng như sự
bền vững tài chính dài hạn của toàn bộ nền kinh tế.

1.1.2.2.

Người cao tuổi trên thế giới
Theo qui ước của Liên Hợp Quốc, một quốc gia có tỷ lệ người cao tuổi từ 10% trở

lên thì quốc gia đó được coi là dân số già. Pháp đạt tỷ lệ này từ năm 1935, Thụy Điển năm

Số người cao tuổi
214
350
590
1120
2000
Tỷ lệ NCT (%)
Số NCT ở các nước giàu

8,6
95

9,1
166

9,7
230

14,0
315

23,0
400

Số NCT ở các nước nghèo
119
360
805
180
>


đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, qui mô ngày càng lớn. Quá trình già hóa dân số ở
Việt Nam là sẽ “già ở nhóm già nhất”, nghĩa là tốc độ tăng và số lượng người cao tuổi ở độ
tuổi cao nhất (từ 80 tuổi trở lên) sẽ ngày càng lớn. Số liệu từ bốn cuộc Tổng điều tra Dân số
và Nhà ở giai đoạn 1979 - 2009 cho thấy (Bảng 1.2), tỷ lệ NCT ở nhóm tuổi thấp nhất (từ
60-69) tăng chậm, trong khi tỷ lệ NCT ở nhóm cao tuổi trung bình (70-79) và già nhất (80+)
có xu hướng tăng nhanh hơn. Dự báo của GSO (2010) cho giai đoạn 2009 - 2049, khi Việt
Nam bước vào giai đoạn dân số “già” cũng là lúc nhóm dân số cao tuổi nhất tăng với tốc độ
cao nhất [66], [68].
Bảng 1.2. Dân số Việt Nam “già ở nhóm già nhất”


6

Nhóm tuổi
(% tổng
dân số)

197
9

198
9

199
9

200
9


65-69

1,90

1,90

2,20

1,81

2,78

4,56

5,21

6,14

70-74

1,34

1,40

1,58

1,65

1,67


2,78
4,16
> _ ọ
r
r
Nguồn: Tổng điều tra dân sô 1989,1999 và 2009 và dự báo dân sô của GSO (2010)
So với các quốc gia khác trên thế giới, thậm chí với nhiều nước phát triển hoặc có
mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn, tốc độ già hóa dân số Việt Nam khá cao. Cụ
thể, số năm để tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên của Việt Nam tăng từ 7% lên 14% tổng dân số
(hay thời gian để dân số quá độ từ giai đoạn “già hóa” sang “già") là ngắn hơn nhiều nước:
Pháp mất 115 năm, Thụy Điển mất 85 năm, Mỹ mất 69 năm, Nhật Bản và Trung Quốc mất
26 năm, trong khi Việt Nam chỉ mất 20 năm. Với điều kiện kinh tế, xã hội phát triển như
hiện nay thì đây thực sự là thách thức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với một dân số
“già hóa" nhanh [20], [68].
Cơ cấu người cao tuổi hiện nay cho thấy, ở Việt Nam đa phần NCT sống ở nông
thôn, là nông dân và làm nông nghiệp dù rằng quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh
chóng ở Việt Nam. Tổng điều tra Dân số năm 2009 cho thấy có 72,9% NCT sống ở nông
thôn. Trong số NCT, chỉ có khoảng 16 - 17% được hưởng lương hưu hoặc mất sức, hơn
10% hưởng trợ cấp người có công với nước. Như vậy, c ò n trên 70% NCT hiện nay sống
bằng lao động của mình, bằng nguồn hỗ trợ của con cháu và gia đình [20]. Trong khi đó, ở
nông thôn ruộng đất ít, năng suất, thu nhập thấp, ít có tiết kiệm ph ng khi bất trắc tuổi già.
Thực tế này đ i hỏi chính sách đối với NCT cần hướng đến nông thôn, cần xây dựng và triển
khai chính sách bảo hiểm xã hội cho nông dân, đẩy mạnh nghiên cứu các hình thức hoạt
động phù hợp cho NCT ở nông thôn, đặc biệt NCT cô đơn, không nơi nương tựa, người cao
tuổi có hoàn cảnh khó khăn...


7

Xét theo vùng kinh tế - xã hội, người cao tuổi nước ta phân bố không đồng đều, tập

Nam Trung Bộ
10,89
8,68
9,79
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
ĐB sông Cửu Long

2,03
13,61

1,85
15,56

21,52

20,20

Nông thôn

77,73

76,06

Thành thị

22,27

23,94



14,0
19,9
4

3,4
15,3
7
20,5
5

3,82
15,6
3
20,6
3

3,07
14,9
2
20,9
5

76,8
3
23,1
7

73,3
3

Thách thức lớn nhất đối với việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi hiện nay là mô
hình và nguyên nhân bệnh tật của NCT đang thay đổi nhanh chóng khiến cho gánh nặng
“bệnh tật kép” ngày càng rõ. Một mặt, NCT đang phải chịu nhiều bệnh do lão hóa gây ra;


8

mặt khác, NCT cũng phải chịu các bệnh phát sinh do thay đổi lối sống dưới tác động của
quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Những bệnh thường gặp ở người cao tuổi là các
bệnh mạn tính như: bệnh mạch vành, tăng huyết áp (THA), đột quỵ, đái tháo đường, ung
thư, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, thoái hóa khớp, loãng xương, sa sút trí tuệ, trầm cảm,
mù l òa và giảm thị lực; các bệnh này là nguyên nhân chính gây giảm sút sức khoẻ ở người
cao tuổi [95].
* Nghiên cứu trên thế giới
Khi các quốc gia tiến hành công nghiệp hóa, việc thay đổi lối sống và việc làm là
nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi về mô hình bệnh tật. Ở các quốc gia phát triển, mối quan
tâm hàng đầu về sức khỏe là phòng và điều trị các bệnh mãn tính (tim mạch, ung thư, tiểu
đường, rối loạn chuyển hóa, Alzheimer), tăng hiệu quả chăm sóc nội trú, cung cấp dịch vụ
chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) có hiệu quả, dịch vụ chăm sóc dài hạn cho người
cao tuổi [87], [96]. Trong khi các nước đang phát triển phải tiếp tục giải quyết các bệnh lây
nhiễm, suy dinh dưỡng... đồng thời phải đối phó với sự gia tăng nhanh chóng các bệnh
không lây truyền trong điều kiện hệ thống chăm sóc sức khỏe c òn nhiều thiếu thốn [53],
[78].
Tại các nước phát triển, tuổi già là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tàn phế và các
bệnh mạn tính. Những tàn phế thường gặp là giảm thị lực, giảm thính lực và ngã chấn
thương. Trên thế giới có khoảng 180 triệu người bị tàn phế về thị giác, khoảng 4% NCT bị
khiếm thị mà nguyên nhân chính là do đục thuỷ tinh thể, tăng nhãn áp, thoái hoá điểm vàng
và bệnh võng mạc do đái tháo đường. Người cao tuổi cũng dễ bị mắc các bệnh do rối loạn
chuyển hóa. Nghiên cứu của Lai S.W ở 1.123 NCT (>65 tuổi) thấy hàm lượng acid uric
trung bình là 7.4 ± 1,6mg/dl ở nam giới và 6,3 ±1,6 mg/dl ở nữ giới. Các yếu tố có liên quan



1

Bảng 1.5. Tỷ lệ khuyết tật ở người cao tuổi
Khó khăn

Rất
khó khăn

Không
thể

80,5

17,9

1,3

70-79

65,2

30,5

3,7

0,3
0,7


80+

49,6

37,1

11,5

1,8

60-69

89,0

9,7

1,1

70-79

74,7

21,5

3,1

0,3
0,7

80+

Bảng 1.6. Tỷ lệ một số bệnh tâm thần thường gặp của người cao tuổi
Nhóm tuổi

Sa sút tâm thần

n (%)

Trầm cảm

n (%)

£
II
A

60 - 74
24/617

12/123

(3,9%)

(9,8%)

7/846

7/309

(0,8%)


những người chăm sóc không chính thức gồm người thân, bạn bè và làng xóm (chủ yếu là
phụ nữ). Ngay cả khi đã có các dịch vụ chăm sóc chính thức phù hợp thì chăm sóc không
chính thức vẫn đóng vai trò chủ đạo. Tại các nước đang phát triển, NCT nghèo, cô đơn,
không nơi nương tựa, NCT sống ở nông thôn, vùng xa trung tâm rất ít có cơ hội hoặc không
thể tiếp cận được với các dịch vụ CSSK cần thiết [23]. Mặt khác, ở nhiều quốc gia xu
hướng dân số không kết hôn hoặc kết hôn nhưng sinh con muộn lại đang có chiều hướng gia
tăng dẫn đến mức sinh giữ ở mức thấp hơn mức sinh thay thế. Số con trung bình của lớp
người cao tuổi tương lai giảm đi rõ rệt, qua đó góp phần làm giảm sự hỗ trợ từ chính phía
gia đình họ.
Ở Việt Nam, nhu cầu CSSK của người cao tuổi là rất lớn (chiếm 84,4%) trong khi
điều kiện tự thân của người cao tuổi c òn rất hạn chế [42]. Tình trạng NCT sống không có
vợ/chồng chiếm tỷ lệ cao (14%), trong đó NCT nữ cô đơn cao gấp 5,44 lần so với NCT
nam; phụ nữ cao tuổi sống ly hôn, ly thân gấp 2,2 lần so với nam giới [29], [54]. Việc phải


1

sống một mình là điều kiện rất bất lợi đối với NCT, bởi gia đình luôn là chỗ dựa cơ bản cho
mỗi thành viên khi về già. Về tình trạng kinh tế, thu nhập của NCT là rất thấp, 70% NCT
không có tích lũy vật chất. Tình hình càng trở nên khó khăn đối với NCT sống ở khu vực
nông thôn và miền núi. Kết quả điều tra của Viện Lão khoa Quốc gia tại 3 tỉnh/thành: Hà
Nội, Thừa Thiên Huế và Bà Rịa - Vũng Tàu cho thấy, trong nhiều lý do khiến NCT không
được KCB, lý do chính là không đủ khả năng kinh tế (45,3%), điều kiện đi lại khó khăn
(17,3%), y tế địa phương không đáp ứng được (16,5%), lý do khác (20,9%) [53], [72]. Nhu
cầu KCB giữa 2 khu vực thành thị và nông thôn không có nhiều khác biệt song ở khu vực
nông thôn một tỷ lệ không nhỏ nhu cầu KCB chưa được đáp ứng (Bảng 1.4). Tỷ lệ NCT
điều trị 1 lần trong 12 tháng chiếm 29,6%, điều trị 2 lần chiếm 28,7%, điều trị 3 lần chiếm
15,8%, điều trị 4 lần chiếm 9,3% và điều trị 5 lần trở lên chiếm 16,7% [45].
Bảng 1.4. Số lần khám chữa bệnh trong vòng 12 tháng qua của người cao tuổi
Số lần điều trị


%
29,6%

2 lần

51

26,8%

3 lần

30

15,8%

41

15,8%

71

15,8%

4 lần

11
27

5,8%


100,0
%

> 5 lần
r
rp9 ^
^
Tổng số

28,7%

Nhu cầu chăm sóc sức khỏe ở NCT không chỉ là đơn thuần là những chăm sóc hằng
ngày như nuôi dưỡng, chăm sóc khi ốm đau, NCT còn có nhu cầu rất cao đó là được chăm
sóc về tinh thần. Theo Nguyễn Đình Cử, về mặt tinh thần, có 13% NCT gặp trắc trở, 60%
thấy bình thường, chỉ có 20% cảm thấy thoải mái [20]. Ngày nay, cùng với sự phát triển của
kinh tế, xã hội, gia đình nhiều thế hệ bắt đầu có xu hướng chuyển thành gia đình hạt nhân.
Hiện tượng này thường gặp ở khu vực thành thị, nhưng hiện tại cũng đã trở nên phổ biến ở
khu vực nông thôn. Mặt khác, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, tốc độ đô thị hóa
ngày càng tăng nhanh, người dân sống ở vùng nông thôn có xu hướng di dân vào thành phố


1

để tìm kiếm việc làm đặc biệt là những thanh niên trẻ làm quy mô gia đình giảm, phụ nữ trở
thành lao động chính, dẫn tới sự hỗ trợ từ phía gia đình trong CSSK NCT là rất hạn chế.
Đây là một gánh nặng đối với NCT và làm cho nhu cầu chăm sóc về tinh thần của NCT từ
con cái không được đáp ứng như mong đợi. Vì vậy, nhà nước, gia đình, cộng đồng cần quan
tâm hơn nữa, cải thiện đời sống vật chất của NCT nhưng đồng thời phải chăm sóc hơn về
mặt tinh thần thông qua những việc làm cụ thể, thiết thực như giáo dục cho con cháu biết


-

Chi phí: như đắt, rẻ, có khả năng chi trả hay không có khả năng chi trả. Đây là yếu tố quan


1

trọng nhất, điều mà người sử dụng DVYT rất quan tâm, có tính chất quyết định trong việc
lựa chọn dịch vụ, đặc biệt là những người có thu nhập thấp. Họ sẽ đến cơ sở y tế nào có giá
thành rẻ mà chất lượng dịch vụ lại đảm bảo và tin cậy. Chi phí KCB bao gồm chi phí trực
tiếp (chi phí trực tiếp cho khám và điều trị tại cơ sở y tế) và những chi phí gián tiếp (chi phí
cho thuốc ngoài cơ sở y tế, cho ăn uống, đi lại, bồi dưỡng sức khỏe...). Pháp lệnh NCT quy
định NCT từ 80 tuổi trở lên được Nhà nước bảo đảm chi phí KCB thông qua thẻ bảo hiểm y
tế [69]. Tuy nhiên, phần lớn người cao tuổi từ 60 - 80 tuổi vẫn chưa có một chế độ ưu đãi
riêng nào về vấn đề này. Vì vậy, chi phí KCB cho NCT dưới 80 tuổi cũng là vấn đề cần
được quan tâm [31]. Đặc biệt, những người cao tuổi sống ở khu vực nông thôn, có nguồn
thu nhập thấp và chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp, rất nhiều người trong số đó không đủ
tiền để đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh.

-

Sự sẵn có và chất lượng dịch vụ: trình độ chuyên môn, phương tiện kỹ thuật, trang thiết bị...
là những điểm mấu chốt trong việc lựa chọn dịch vụ của
NCT. Mong muốn chung của NCT là được thầy thuốc giỏi, có kinh nghiệm KCB và CSSK.
Vì vậy, để nâng cao chất lượng dịch vụ CSSK cho NCT tại tuyến y tế cơ sở cần phải quan
tâm hơn nữa tới việc đào tạo đội ngũ cán bộ y tế, đặc biệt là cán bộ chuyên ngành lão khoa
cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị.

-

chăm sóc sức khỏe.

1.1.5.2.

Tiếp cận dịch vụ y tế của người cao tuổi
Hiện nay, nhiều mô hình CSSK cho NCT trên thế giới đã được triển khai nhằm tăng

cường sự tiếp cận và sử dụng DVYT của người dân như: mô hình chăm sóc và KCB tại
Anh, Pháp, Mỹ, Nga, mô hình bác sỹ gia đình.... Hệ thống mạng lưới dịch vụ sơ cấp cứu tại
nhà, tại nơi xảy ra tai nạn khá hoàn chỉnh và hiện đại với đầy đủ các loại phương tiện vận
chuyển, thông tin, điện thoại liên lạc được trang bị rộng khắp, giao thông thuận lợi. Nhờ đó,
người dân có thể tiếp cận nhanh các DVYT, người bệnh được cấp cứu kịp thời [92], [94],
[97].
Tại Việt Nam, mạng lưới y tế cơ sở gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận, huyện, thị
xã là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, nơi thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu
(CSSKBĐ) cho người dân với chi phí thấp nhất. Tại khu vực đồng bằng trung du, các cơ sở
y tế thường ở vị trí trung tâm của khu vực dân cư, với bán kính khoảng 5 km, đi lại thuận
tiện, từ đó đã tạo điều kiện người dân dễ dàng tiếp cận khi có nhu cầu [15]. Tuy nhiên,
người cao tuổi nước ta vẫn còn thiếu cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế. Tỷ lệ người cao tuổi sử
dụng bảo hiểm y tế thấp, hơn 30% NCT không có bất kỳ một hình thức bảo hiểm y tế nào.


1

Tỷ lệ NCT có bảo hiểm y tế tự nguyện mới đạt khoảng 50%. Mặc dù Luật Bảo hiểm y tế đã
ban hành nhưng vẫn c ò n khoảng A NCT từ 80 tuổi trở lên chưa được hưởng bảo hiểm y tế
miễn phí, gần một nửa NCT không đủ tiền chi trả các dịch vụ CSSK. Hơn 40% số họ vẫn
phải tự chi trả cho việc điều trị và thuốc men cần thiết. Vì vậy, một trong những rào cản
khiến NCT không được tiếp cận dịch vụ y tế là không có tiền và không có người trợ giúp
đưa tới cơ sở y tế. Mặt khác, cả nước có rất ít bệnh viện có khoa lão khoa, thậm chí mới có

1

- Kinh tế: Đây là yếu tố đóng vai trò quyết định nhất đối với người có thu nhập thấp
[79]. Kết quả nghiên cứu tại Nam Sách (Hải Dương), các nhà xã hội học đã cho thấy 95,7%
số người già có nhu cầu KCB, song 76,6% số NCT trả lời không có đủ tiền để đi khám chữa
bệnh; chủ yếu người bệnh tự mua thuốc về điều trị hoặc tìm đến các thầy thuốc gần nhà
(chiếm tỷ lệ 50- 65%). Số lượng người giàu đến bệnh viện KCB gấp 1,75 lần người nghèo.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tập (2005) tại 28 xã vùng nông thôn của 3 vùng Bắc Bộ,
Trung Bộ và Nam Bộ cho thấy chi phí trung bình một lần ốm của NCT chiếm khoảng 70%
mức thu nhập hàng tháng. Nhóm nghèo chịu gánh nặng chi phí lớn, một lần ốm đã chi gấp
2,7 lần thu nhập hàng tháng, trong khi nhóm giàu chỉ là 0,3 lần. Nhóm nghèo nhất khi ốm
thường đến TYT xã (25,%), đến bệnh viện (10,65%). Ngược lại nhóm thu nhập cao nhất đến
trạm y tế chiếm tỷ lệ thấp hơn (13,51%), nhưng đến bệnh viện nhiều hơn (20,27 %) [50].

-

Người sử dụng dịch vụ: trình độ học vấn, hiểu biết về sức khỏe, phong tục tập quán, văn hóa
xã hội, là những yếu tố quyết định hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người
bệnh [28].

-

Người cung cấp dịch vụ: chất lượng, thái độ, thời gian phục vụ...
Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ không luôn song hành.
Nghĩa là, một khi đã sử dụng thì có thể bao hàm cả yếu tố tiếp cận, song tiếp cận không có
nghĩa là phải sử dụng. Bởi vậy, việc có sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ hay không lại
phụ thuộc vào mức độ bệnh hiện thời, sự tác động tư vấn của thầy thuốc và nhiều yếu tố
khác.

1.1.6.2.

22,8% [43] và của Viện Chiến lược & Chính sách Y tế (18,2%). Tuy nhiên, có sự khác biệt
trong xu hướng sử dụng TYT xã KCB ở người cao tuổi giữa thành thị và nông thôn (13% so
với 25%) [9].
Về tình hình sử dụng DVYT tư nhân, nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính
sách y tế (2006) cho thấy có 34% NCT đến KCB tại các cơ sở y tế tư nhân. Tỷ lệ này thấp
hơn trong Điều tra y tế quốc gia là 63,7% ở khu vực nông thôn và 66,2% ở khu vực thành
thị [9]. Lý do chủ yếu NCT lựa chọn cơ sở y tế tư nhân là do thuận tiện, gần nhà hoặc có thể
trực tiếp mời thầy thuốc tư đến thăm khám tại nhà cho người cao tuổi. Một lý do khác giải
thích cho việc NCT có xu hướng tự điều trị hoặc sử dụng y tế tư nhân nhiều hơn là do bệnh
nhẹ (25,3%) hoặc là triệu chứng đã bị mắc nhiều lần (21,7%) [22].
Mô hình sử dụng DVYT có sự khác biệt tương đối giữa nam và nữ. Phụ nữ cao tuổi
khi bị ốm có xu hướng tự điều trị và sử dụng DVYT tư nhân cao hơn nam giới (43% so với


1

32,2%); có 27,3% NCT nữ đến KCB ở các cơ sở y tế tư nhân, trong khi tỷ lệ này ở NCT
nam là 19,3%. Bên cạnh đó, xu hướng lựa chọn cơ sở KCB là bệnh viện cũng không giống
nhau ở các nhóm tuổi khác nhau. Tuổi càng cao xu hướng KCB tại bệnh viện ít hơn. Những
người trên 85 tuổi có tỷ lệ KCB tại bệnh viện thấp hơn nhóm tuổi 60-64 tuổi hơn 2 lần [22].
Qua các nghiên cứu trên ta thấy số lượng NCT được KCB, sử dụng các DVYT chưa
nhiều. Mức độ sử dụng DVYT không đồng đều giữa các khu vực, vùng, miền và đặc điểm
kinh tế nên chưa đáp ứng được yêu cầu về sự công bằng trong CSSK NCT. Vì vậy, vấn đề
quan trọng là cần phải tìm ra giải pháp nhằm nâng cao sức khỏe cho NCT, nhất là người cao
tuổi sống ở vùng nông thôn, vùng xa trung tâm, miền núi, NCT cô đơn không nơi nương
tựa.

1.1.7.

Khả năng đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi của trạm y tế

* Về nhân lực:
Với nhiều loại hình DVYT khác nhau, song các TYT xã/phường chủ yếu tập trung
thực hiện các chương trình y tế quốc gia và làm công tác y tế dự phò ng, hoạt động KCB và
CSSK thông thường cho người dân rất ít, đặc biệt là cho NCT. Theo báo cáo của 34 Sở Y tế
và 15 bệnh viện (năm 2004), chỉ có 22 bệnh viện ở Trung ương và tỉnh/thành đã thành lập
khoa Lão khoa với 2.782 giường bệnh. Có khoảng 46% số cán bộ làm công tác CSSK cho
NCT đã được qua các lớp tập huấn đào tạo chuyên ngành Lão khoa [70]. Năm 2013, toàn
quốc có 74,4% số xã có bác sỹ, tăng hơn so với năm 2006 (65,1%). So với các nước trong
khu vực, Việt Nam có 7,68 bác sỹ/10.000 dân; cao hơn Thái Lan 2,94 bác sỹ; thấp hơn
Brunei với 9,93 bác sỹ; Philippin (12,45) và Nhật Bản (20,15) [17], [18]. Tuy nhiên, hoạt
động KCB của một số TYT vẫn không được cải thiện, cán bộ y tế xã với mức lương thấp,
gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống và điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng,
hiệu quả hoạt động CSSK, khám chữa bệnh cho người dân trong đó có người cao tuổi.

* Cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc:
Nghiên cứu của Hoàng Trung Kiên (2009) trên 130 người ốm lựa chọn dịch vụ
KCB tại trạm y tế xã chủ yếu là do gần nhà (92,8%), bệnh nhẹ (80%), không phải chờ lâu
(68,4%), giá dịch vụ phù hợp (63%) và thủ tục KCB nhanh chóng. Có 21,5% số người trả
lời lần ốm sau không quay lại KCB tại TYT xã chủ yếu là do không tin tưởng chuyên môn
(92,8%), TTB không đầy đủ (78,5%) và thiếu thuốc (65,5%) [39]. Cũng theo Hoàng Khánh
Toàn (2003) nghiên cứu tại huyện Ba Vì cho thấy: chỉ có 20,5% NCT đến điều trị tại trạm y
tế xã, trong đó 9,2% lựa chọn TYT xã là do chất lượng, 13,8% cho rằng do thuận tiện và
không phải chờ đợi lâu [58].


2

* Cơ chế, chính sách:
Ngày 22/01/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 06- CT/TW về
củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở song trên thực tế hoạt động CSSK, KCB cho

Vienna (Thủ đô nước Cộng h a Áo). Đại hội đưa ra “Chương trình hành động quốc tế về
người cao tuổi” trong 50 năm. Vấn đề về NCT đã được đưa vào chương trình nghị sự toàn
cầu, trong đó tập trung chủ yếu vào tình trạng già hóa dân số ở các nước phát triển dưới góc
độ phúc lợi xã hội. Chương trình hành động đã thống nhất đưa ra 50 điều khuyến cáo, bao


2

quát 6 mục tiêu lớn về người cao tuổi trong đó mục tiêu về sức khỏe và dinh dưỡng của
NCT được đề cập đầu tiên. Văn kiện này đã định hướng cho tư duy và hành động về NCT
với nhiều chính sách và sáng kiến quan trọng.
Ngày 14/12/1990, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc lấy ngày
01/10 hàng năm là Ngày quốc tế NCT (Nghị quyết số 45/106). Ngày quốc tế NCT được tổ
chức để nâng cao nhận thức về các vấn đề ảnh hưởng đến NCT. Đây cũng là ngày để đánh
giá cao những đóng góp mà NCT đã làm cho xã hội. Trên cơ sở già soát những kết quả đạt
được, Liên Hợp Quốc tiếp tục thông qua “Nguyên tắc đạo lý của Liên Hợp Quốc đối với
người cao tuổi” (Nghị quyết số 45/91) bao gồm 5 nguyên tắc về đảm bảo các quyền của
NCT trong đó quyền được chăm sóc khi cần thiết cũng được đề cập đến. Năm 1992, Liên
Hợp Quốc tiếp tục thông qua Nghị quyết số 4/86 nêu lên những mục tiêu toàn cầu về NCT
trong giai đoạn 1997-2001.
Tuyên ngôn Brasillia của TCYTTG (năm 1996) cũng chỉ rõ CSSK cho NCT là công
việc của mọi cấp, mọi ngành “Tuổi già khỏe mạnh là nguồn lực của gia đình, của cộng đồng
và toàn xã hội”. TCYTTG cho rằng già hóa dân số không tác động xấu tới sự phát triển của
một quốc gia nếu chính phủ và các tổ chức quốc tế có chính sách và chương trình “Già hóa
tích cực” nhằm tăng cường sức khỏe, đảm bảo tham gia xã hội và an ninh cho các công dân
cao tuổi.
Năm 2002, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã tổ chức Hội nghị thế giới lần thứ 2 về
NCT tại Madrid (Tây Ban Nha) thông qua văn kiện chiến lược mới (Chương trình hành
động) nhằm hướng dẫn các hoạt động chính sách về người cao tuổi trong thế kỷ 21 [23].
Mục tiêu của chương trình hành động bao gồm:

tuổi.
Từ năm 1946, Điều 14 của Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng h a đã khẳng
định “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ”. Qua các
lần sửa đổi, bổ sung, các bản Hiến pháp vẫn kế thừa và phát triển những quy định đó. Điều
64, Hiến pháp năm 1992 quy định “Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà,
cha mẹ”. Điều 67 cũng ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa
được Nhà nước và xã hội giúp đỡ".
Năm 1989, Quốc hội thông qua Luật Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong
đó tại Chương VII đề cập đến vấn đề bảo vệ sức khỏe NCT, tại điều Điều 41 ghi rõ: “ NCT
được ưu tiên trong khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã
hội phù hợp với sức khỏe của mình".
Ngay sau khi nhận được Nghị quyết 45/106 ngày 26/8/1991 về việc lấy ngày 01
tháng 10 hàng năm là ngày quốc tế NCT của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, ngày
01/10/1991. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam (nay là Chủ tịch nước) đã ra lời kêu gọi


2

các cụ phụ lão cũng như đồng bào cả nước nhiệt liệt hưởng ứng quyết định của Liên Hợp
Quốc. Lời kêu gọi đã khẳng định “Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là một chính sách rất
quan trọng và nhất quán của Đảng và nhà nước ta ”.
Chỉ thị số 59-CT/TW ngày 27/9/1995 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam về chăm sóc NCT yêu cầu các cấp, các ngành [3]:
“Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng,
Nhà nước và toàn xã hội ”; “Nhà nước cần dành ngân sách để giải quyết các vấn đề xã
hội, trong đó có vấn đề chăm sóc người cao tuổi”.
Pháp lệnh về NCT số 23/2000 PL-UBTVQH ngày 28/04/2000 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội khẳng định rằng “Việc phụng dưỡng người cao tuổi là trách nhiệm chủ yếu
của gia đình có người cao tuổi, người cao tuổi cô đơn, không nơi lương tựa, không có
nguồn thu nhập được Nhà nước và xã hội trợ giúp Pháp lệnh là cơ sở pháp lý cho các hoạt

động, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Phòng chống bạo lực gia đình. đều có các quy
định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người cao tuổi.
Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và tiếp tục phát huy vai tr của NCT vừa
là nghĩa vụ và là trách nhiệm của toàn xã hội. Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội,
mặc dù chưa thực sự được toàn diện nhưng những văn bản, chính sách trên cũng đã thể hiện
sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với lớp người đã có đóng góp hết sức to lớn
trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của dân tộc. Và chính nội dung của những
chính sách, Nghị định, Thông tư, Pháp lệnh của Nhà nước, của công tác xã hội đã tạo nên
một môi trường pháp lý hành chính bắt đầu cho sự nghiệp chăm sóc người cao tuổi.

1.2.2.

Các mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Mô hình là một cách trình bày đơn giản của thực tế, trong đó một số khía cạnh của

sự chính xác có thể bỏ qua hoặc được giả thuyết là không thay đổi để các khía cạnh khác có
thể quan sát rõ hơn. Có 2 nhóm mô hình chính [25]:

-

Nhóm các mô hình “chuẩn" liên quan tới mô tả những hiện tượng có thể xảy ra trong những
điều kiện đặc biệt nào đó - điều kiện không hiện thực.

-

Nhóm các mô hình “mô tả" cố gắng đưa ra những hiện tượng gần với thực tế nhất, nhóm
này được phát triển và ứng dụng mạnh mẽ hơn.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực y tế các tác giả thường thể hiện các mô hình “mô tả" bằng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status