Tài liệu Luận văn: Chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng: Thực trạng và giải pháp (điển cứu tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định) - Pdf 10

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG………………… Luận văn Chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng: Thực trạng
và giải pháp (điển cứu tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định) 2

thường xuyên nên điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước càng gặp nhiều
3
khó khăn. Vì thế, công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, đặc biệt là vấn đề chăm sóc sức khỏe
cho người có công cách mạng vẫn chưa có điều kiện quan tâm, đầu tư đúng mức.
Như chúng ta đã biết, sức khỏe và chăm sóc sức khỏe có vai trò vô cùng quan
trọng đối với mỗi người. Đối với những người có công CM, nhất là những thương,
bệnh binh vấn đề này càng cấp thiết và cần quan tâm nhiều hơn hết. Tại Hội thảo Công
tác điều dưỡng, chăm sóc sức khoẻ người có công, được Cục người có công (Bộ Lao
động-TBXH) tổ chức ngày 15/4/2010, tại thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã khẳng
định “Công tác điều dưỡng và chăm sóc sức khỏe, được xem như là một yêu cầu bức
thiết vì rất nhiều đối tượng người có công đã bày tỏ nguyện vọng và mong muốn được
đi thăm quan, nghỉ ngơi điều dưỡng sức khoẻ dù chỉ là một lần”.
Trên thực tế, nhu cầu được điều dưỡng và chăm sóc sức khỏe của người có công
CM tại các cơ sở chăm sóc người có công là rất cao nhưng số lượng được đi điều
dưỡng hàng năm rất ít, còn lại đa số điều dưỡng tại nhà. Tình trạng này cũng là phổ
biến tại Huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Đây là một huyện thuộc căn cứ cách mạng cũ
nên số người có công cách mạng khá đông (2459 người trong đó thương, bệnh binh là
1567 người, chiếm phần đông là 3 xã Ân nghĩa:79 người, Ân Tường Tây: 75 người,
Ân Tường Đông là: 75 người) [12]. Trong những năm vừa qua, mỗi năm chỉ có
khoảng 60 người được đưa đi điều dưỡng tại Trung tâm chăm sóc người có công CM
tại thành phố Quy Nhơn. Để giải quyết vấn đề bất cập này, Sở LĐTB và XH tỉnh Bình
Định đã ra công văn số 225/LĐTBXH – NCC ngày 14/02/2011, nêu rõ “Đối với các
đối tượng thuộc diện điều dưỡng luân phiên 5 năm 1 lần đề nghị Ủy ban nhân dân các
xã, thị trấn phải căn cứ danh sách các năm trước để rà soát, đối chiếu, tránh trùng
lặp, nếu địa phương nào lập danh sách đối tượng chưa đủ 5 năm thì phải chịu trách
nhiệm bồi thường theo quy định”. Mặc dù vậy, công văn này cũng có mặt chưa thỏa
đáng và gây lúng túng cho nhiều địa phương trong quá trình thực hiện bởi ở một số địa
phương đối tượng đủ 5 năm thì thiếu chỉ tiêu, trong khi đó nhiều đối tượng chưa đủ 5
năm lại có nguyện vọng được đi điều dưỡng tiếp.
Những nhu cầu, nguyện vọng của người có công cách mạng về chăm sóc sức

chăm sóc trẻ em quản lý và tài trợ thực hiện năm 2001) . . . Trong đó đáng chú ý hơn
cả là đề tài “đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người cao ở tuổi Việt Nam”
của nhóm tác giả: Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Oanh, Dương Huy Lương, Khương
Anh Tuấn, Nguyễn Thị Thắng và cộng sự. Đề tài này làm phong phú thêm nguồn tài
5
liệu cho đề tài “Chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng: thực trạng và giải
pháp (điển cứu tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định)”. Đề tài “Đánh giá tình hình
chăm sóc sức khỏe cho người cao ở tuổi Việt Nam” chỉ mới đi sâu vào việc nghiên cứu
thực trạng về bệnh tật, tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế của người cao tuổi; việc
chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi của gia đình; việc triển khai thực hiện các
chính sách chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi để cung cấp bằng chứng khoa học
cho việc xây dựng chính sách và chiến lược nhằm “ nâng cao chất lượng cuộc sống
người cao tuổi”. Nhưng đề tài này chưa đưa ra được những giải pháp để nâng cao
công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cũng như những giải pháp cho việc
xây dựng chính sách và chiến lược nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người cao
tuổi như mục tiêu mà đề tài đã đưa ra.
Cho đến nay hầu như có rất ít đề tài nghiên cứu về NCCCM, mà đa số thực trạng
về cuộc sống của họ được thể hiện một phần qua các trang báo: dân trí, báo công an
nhân dân, báo quân đội nhân dân . . . trong đó bài viết “Người bệnh binh già trong căn
nhà xiêu vẹo” trên báo dân trí (thứ tư ngày 12/1/1011). Bài báo này viết về cuộc sống
gia đình người bệnh binh Nguyễn Anh Thập (xã Song Lộc – Can Lộc – Hà Tỉnh) vô
cùng khó khăn: bản thân ông bị bệnh tật hành hạ, vợ con gặp nạn, ốm đau liên miên,
nuôi con cái học hành, gia đình ông lại cưu mang hai cụ già không có con. Họ phải
sống trong một căn nhà xiêu vẹo đe đọa đến tính mạng bất cứ lúc nào. Qua đó phản
ánh thực trạng vẫn còn một số NCCCM chưa được quan tâm, chăm sóc đúng mức,
cuộc sống của họ còn chứa đựng vô vàng khó khăn, thách thức và ẩn hiện những nguy
cơ. Trong quá trình thực tập tác giả cũng đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp “thực
trạng thực hiện công tác điều dưỡng cho người có công cách mạng của phòng LĐ –
TB & XH huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định” . Đề tài này cũng đã phần nào phản ánh
được thực trạng về bệnh tật, thực hiện chế độ điều dưỡng cho NCCCM và đưa ra một

Trên cơ sở tìm hiểu rỏ thực trạng chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng,
tác giả đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đối với công
tác chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng tại địa phương.
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát
Đối tượng nghiên cứu
7
Như tên đề tài đã chỉ rõ, đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Thực trạng và giải
pháp chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng ở huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Đối tượng khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát 130 thương, bệnh binh.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng huyện Hoài Ân – tỉnh
Bình Định.
5.3. Phạm vi nghiên cứu
Người có công cách mạng bao gồm rất nhiều đối tượng, trong phạm vi nghiên
cứu của đề tài, tác giả tập trung vào hai nhóm đối tượng chiếm số lượng rất đông tại
huyện là thương binh và bệnh binh và chỉ khảo sát nhóm đối tượng tham gia cách
mạng trong giai đoạn 1945 – 1975. Đồng thời, đề tài chỉ khảo sát tại 3 xã có số lượng
thương, bệnh binh đông nhất trong Huyện là: Ân Tường Tây, Ân Tường Đông, Ân
Nghĩa
6. Giả thuyết nghiên cứu
Hầu hết người có công cách mạng ở huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã và đang
được chăm sóc sức khỏe theo chính sách của Đảng và Nhà nước.
Người có công cách mạng ở huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định có nhu cầu cao về
chăm sóc sức khỏe nhưng chất lượng và hiệu quả của công tác này chưa cao do rất
nhiều khó khăn mang lại, nhất là thiếu thốn về tài chính, đội ngũ y, bác sĩ; cơ sở vật
chất nghèo nàn, lạc hậu…
Gia đình, chính quyền các cấp, các cơ sở y tế, đội ngũ y, bác sĩ và cả cộng đồng
có vai trò rất lớn trong công tác chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng. Chính

7.1.4. Phương pháp phỏng vấn
Nhằm tìm hiểu sâu hơn vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người có công cách mạng,
tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 45 đối tượng cụ thể tại xã Ân Tường Tây là 15 người,
xã Ân Tường Đông là 15, xã Ân Nghĩa là 15 người và một số vị lãnh đạo địa phương,
các ban nghành có liên quan như: phòng LĐTB và XH, những người thực hiện chính
sách người có công CM tại các xã, Bệnh viện huyện Hoài Ân, trạm y tế các xã 9
7.1.5. Phương pháp quan sát kèm theo ghi hình
Tác giả sử dụng phương pháp quan sát và ghi hình nhằm phối hợp với phương
pháp trưng cầu ý kiến và phương pháp phỏng vấn với mục đích tìm hiểu và đảm bảo
tính khách quan và độ chính xác của những thông tin thu được.
7.2. Phương pháp xử lý thông tin
7.2.1. Thông tin thu được từ các tài liệu
Tất cả những thông tin thu thập được, tác giả đã tổng thuật, lược thuật theo các
chủ đề, tổng quan tình hình nghiên cứu, xác lập một số lý thuyết, khái niệm làm cơ sở
lý luận, xây dựng giả thiết nghiên cứu, mô tả bối cảnh kinh tế – văn hóa – xã hội ở địa
phương.
7.2.2. Thông tin thu được qua phiếu trưng cầu ý kiến
Phiếu trưng cầu ý kiến chủ yếu được xử lý theo tỷ lệ % trong đó kết hợp với so
sánh tương quan giữa các biến quan trọng để có thể thấy rõ mối quan hệ trong các vấn
đề phân tích.
7.2.3. Thông tin thu được qua phỏng vấn
Những thông tin thu thập được từ các cuộc phỏng vấn sâu được tác ghi băng, ghi
chép sau đó phân loại, chọn lọc, dưới dạng trích dẫn từ các biên bản đã được xử lý và
sử dụng.
7.2.4. Thông tin thu được qua quan sát và hình ảnh
Tác giả tiến hành đối chiếu, so sánh thông tin từ việc quan sát, ghi chép cũng như
những hình ảnh thu được để hình thành câu trả lời và kiểm tra độ chính sát của thông

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho
NCCCM huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định

11
PHẦN 2. NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Chính sách xã hội
Chính sách xã hội là những quy định bằng văn bản nhằm để hỗ trợ cho nhóm đối
tượng trong xã hội. Nó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn dân
ta đối với họ, góp phần tạo ra sự công bằng, bình đẳng, ổn định, phát triển và tiến bộ
xã hội. Chính sách xã hội bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
Chính sách xã hội có những đặc trưng riêng, nhờ vậy, mà người ta có thể phân
biệt nó với các chính sách khác như: chính sách chính sách chính trị, chính sách kinh
tế, tư tưởng. . . xét trên phương diện quản lý những đặc trưng đó là:
Chính sách xã hội bao giờ cũng liên quan đến con người, bao trùm mọi mặt của
cuộc sống con người, lấy con người và các nhóm người làm đối tượng tác động để
hoàn thiện và phát triển con người, hình thành các chuẩn mực và giá trị xã hội.
Chính sách xã hội mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi vì mục tiêu cơ bản
của nó là hiệu quả xã hội. Công bằng xã hội là nội dung cơ bản của chính sách xã hội.
Nhà nước sử dụng chính sách xã hội như một công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội,
định hướng các giá trị mới, hướng vào cái thiện, cái tốt, hạn chế và đẩy lùi cái xấu, cái
ác.
Chính sách xã hội của nhà nước thể hiện trách nhiệm xã hội cao, tạo những điều
kiện, cơ hội như nhau để mọi người phát triển và hòa nhập cộng đồng.
Hiệu quả chính sách xã hội là ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống,
đảm bảo công bằng xã hội.
Chính sách xã hội còn mang tính kế thừa lịch sử, nó có sự thay đổi theo thời gian
và tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, dân tộc.
Bất kỳ một khoa học nào cũng có đối tượng nhiên cứu của mình, đối tượng
nghiên cứu của khoa học chính sách nói chung và chính sách xã hội nói riêng là hệ

chính sách bảo đảm thu nhập trong trường hợp bình thường hoặc gặp rủi ro, chính sách
thị trường lao động, chính sách xã hội doanh nghiệp, chính sách nhà ở, chính sách gia
đình, phụ nữ và trẻ em, chính sách xã hội trong giáo dục, chính sách xã hội trong y tế,
chính sách giúp đỡ thanh niên, chính sách người cao tuổi, trợ giúp xã hội. . . [8; 9 – 11]
Do hoàn cảnh đất nước ta có lịch sử phát triển khác với các nước khác cho nên
chính sách xã hội được nhận thức và thực hiện cũng mang đặc điểm riêng biệt.

13
Trước thời kỳ đổi mới (năm 1986) ở nước ta chính sách xã hội chưa được nhận
thức đầy đủ. Còn tồn tại quan niệm chính sách xã hội chỉ là những chính sách dành
cho những đối tượng xã hội đặc biệt thiếu khả năng lao động hoặc cần ưu đãi. Nhiều
người coi chính sách xã hội là chính sách cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội và bảo hiểm xã
hội. Nhiều vấn đề ở tầm vĩ mô như dân số, việc làm, thiết kế, những phương án phát
triển chưa tính toán đầy đủ đến những vấn đề xã hội và môi trường xã hội cần thiết cho
con người. Đôi khi chính sách kinh tế tách rời chính sách xã hội, còn chính sách xã hội
đôi khi vượt quá trình độ phát triển của nền kinh tế. Chủ nghĩa bình quân không chỉ
trong phân phối thu nhập nói chung, mà cả trong việc thực hiện chính sách xã hội.
Nhiều nhu cầu xã hội của cá nhân đáng được thỏa mãn nhưng lại đồng hóa trong tập
thể, cộng đồng. Những đặc điểm khác biệt của cá nhân ít được quan tâm. Chính sách
xã hội chưa được nhận thức và thực hiện đầy đủ với tất cả những yêu cầu của nó.
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với đường lối đổi mới, Đảng và Nhà
nước ta đặc biệt quan tâm và thực hiện ngày càng tốt chính sách xã hội. Vấn đề xã hội
được tính đến nhiều hơn trong các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội.
Chính sách xã hội được nhận thức một cách toàn diện trên cả tầm vĩ mô và vi mô.
Nhân tố con người và những điểm khác biệt của cá nhân đã được chú trọng.
Thực hiện chính sách xã hội được xem là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của
tất cả các lực lượng xã hội chứ không còn là nhiệm vụ của riêng nhà nước như giai
đoạn trước đây. Chủ nghĩa bình quân cũng được khắc phục. Với chính sách mở cửa
tạo điều kiện để chúng ta huy động tiềm lực quốc tế cho việc giải quyết nhiều vấn đề
xã hội do các cuộc chiến trong lịch sữ để lại cũng như những vấn đề mới xuất hiện do

động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; người hoạt động cách mạng từ
ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945; bà
mẹ Việt Nam anh hùng; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh,
thương binh loại B (gọi chung là thương binh), bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng
lao động do thương tật, bệnh tật từ 81% trở lên đang sống tại gia đình; người có công
giúp đỡ cách mạng được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc
Bằng “Có công với nước”; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học
suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
Điều dưỡng luân phiên 5 năm một lần, gồm những đối tượng sau: cha đẻ, mẹ đẻ,
vợ hoặc chồng của liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ; Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân, Anh hùng lao động trong kháng chiến; người có công giúp đỡ cách
mạng trong kháng chiến; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy

15
giảm khả năng lao động dưới 81%; thương binh, bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng
lao động do thương tật, bệnh tật dưới 81% đang sống tại gia đình; người hoạt động
cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày.
Trong đó có những quy định về kinh phí và nơi điều dưỡng cụ thể:
Điều dưỡng tại các cơ sở điều dưỡng
Thời gian điều dưỡng tối đa là 10 ngày (không kể thời gian đi và về).
Mức chi điều dưỡng: 1.500.000 đồng/người/lần, bao gồm:
Tiền ăn sáng và 2 bữa chính: 1.100.000 đồng.
Thuốc bổ và thuốc chữa bệnh thông thường: 100.000 đồng.
Quà tặng đối tượng: 100.000 đồng.
Chi khác (khăn mặt, xà phòng, bàn chải, thuốc đánh răng, nghe chuyện thời sự,
tham quan, chụp ảnh, phục hồi chức năng,…): 200.000 đồng.
Điều dưỡng tại gia đình
Mức chi điều dưỡng là 800.000 đồng/người/lần. [5]
Chế độ chăm sóc sức khỏe cho thương binh
Theo điều 20, 21, 22 của Pháp lệnh ưu đãi người có công cách mạng thì thương

Tổ chức thực hiện và những yêu cầu thực hiện chế độ chăm sóc sức
khỏe cho người có công CM
Tổ chức thực hiện
Căn cứ vào những quy định trên các tổ chức, cá nhân ban ngành có liên quan: Bộ
LĐ – TB&XH, Bộ tài chính, Bộ y tế, phòng LĐ – TB&XH ở địa phương, các trung
tâm chăm sóc người có công … tổ chức thực hiện, cụ thể là:
Hàng năm, căn cứ dự toán chi ưu đãi người có công và số lượng thực tế các đối
tượng thuộc diện điều dưỡng của từng địa phương, Bộ lao động – thương binh và xã
hội phối hợp với Bộ tài chính phân bổ kinh phí ngay từ đầu năm cho Sở lao động –
thương binh và xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ đó triển khai
xuống các Phòng lao động – thương binh và xã hội triển khai thực hiện đúng theo quy
định.
Sở lao động – thương binh và xã hội lập danh sách đối tượng được điều dưỡng
trong năm và ra quyết định điều dưỡng người có công.
Sở lao động – thương binh và xã hội lập kế hoạch chi tiết phân bổ xuống Phòng
lao động – thương binh và xã hội, phòng LĐ – TB&XH, hai bên phối hợp tổ chức thực
hiện đưa đối tượng đi điều dưỡng tại các cơ sở điều dưỡng hoặc điều dưỡng tại gia

17
đình theo quy định. Sở lao động – thương binh và xã hội phối hợp với Sở Y tế thực
hiện thăm khám sức khỏe cho đối tượng điều dưỡng tại gia đình.
Kinh phí chi tiền điện, nước sinh hoạt, văn nghệ, báo chí được giao dự toán trực
tiếp cho các cơ sở điều dưỡng người có công với cách mạng do Ngành lao động –
thương binh và xã hội quản lý theo quy định tại Điều 5 của Thông tư liên tịch số
47/2009/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 11/3/2009.
Những yêu cầu đặt ra khi thực hiện
Đòi hỏi cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, đặc biệt là ngành LĐ –
TB&XH và ngành y tế, các tổ chức đoàn thể, người được điều dưỡng.
Đòi hỏi khi thực hiện đảm bảo thực hiện đúng quy định của các chính sách.
Trong thời gian điều dưỡng tập trung nếu bị ốm đau đột xuất thì được giới thiệu

Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày.
Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa
vụ quốc tế.
Người có công giúp đỡ CM.
Thân nhân của những người có công cách mạng.
Trong đó được khái niệm một cách rõ ràng về từng loại đối tượng cụ thể:
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người
được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước
ngày 01 tháng 01 năm 1945.
Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước
Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly
hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19
tháng Tám năm 1945.
Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ
quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà
nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh
binh vận có tổ chức với địch; hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt,
tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương
vượt tù, vượt ngục mà hy sinh; làm nghĩa vụ quốc tế; đấu tranh chống tội phạm; dũng
cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm

19
cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; do ốm đau, tai nạn khi đang làm
nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự
nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hay có thể hiểu bà
mẹ Việt Nam anh hùng là người đã sinh ra và nuôi dưỡng những đưa con liệt sĩ, theo

Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao
động từ 41% đến 60% đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày
31 tháng 12 năm 1994.
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được cơ
quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại
các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hoá học, bị mắc bệnh làm suy giảm khả
năng lao động, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu quả của chất độc hoá học.
Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù,
đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời gian
bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai
cho địch.
Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm
nghĩa vụ quốc tế được hưởng các chế độ ưu đãi quy định tại Điều 31 của
Pháp lệnh ưu đãi người có công cách mạng (về trợ cấp, bảo hiểm) là người
tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng “Huân chương kháng chiến”, “Huy
chương kháng chiến”.
Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng
trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: Người được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc
ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước"; người trong gia đình được tặng Kỷ niệm
chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" trước cách mạng tháng
Tám năm 1945; người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng
chiến; người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương
kháng chiến [17].
Chúng ta có thể nhận thấy rằng người có công CM bao gồm rất nhiều đối tượng
nhưng trong đề tài này tác giả chỉ tìm hiểu về chăm sóc sức khỏe thương, bệnh binh
hơn ai hết họ là những người rất cần đến hệ thống chăm sóc sức khỏe. Ở đối tượng
thương, bệnh binh được chia ra làm nhiều loại đối tượng khác nhau và trong khóa luận
này tác giả tìm hiểu những người thương, bệnh binh chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ

21

con người. Vì vậy, mỗi chúng ta cần có sự chăm lo phát triển một cách hợp lý, hài hòa

22
cân đối giữa các yếu tố để đạt đến một trạng thái sức khỏe tốt và có cuộc sống lý tưởng
nhất.
Định nghĩa trên đã chỉ cho chúng ta thấy rõ trạng thái sức khỏe cần đạt được để
từ đó mỗi cá nhân hướng đến và vạch ra mục tiêu, phương pháp để đạt được. Tuy
nhiên, định nghĩa trên cũng gặp phải hạn chế là chưa đưa ra được mục tiêu, phương
pháp, kế hoạch thực hiện cho các lực lượng tham gia vào quá trình chăm sóc sức khỏe.
Quan điểm về chăm sóc sức khỏe
Việc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ trước hết phải do chính bản thân mỗi cá nhân
thực hiện. Tục ngữ cũng đã dạy: “Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là
quá khứ, sức khoẻ là của chính mình”.
Đầu tư chăm sóc sức khoẻ là phải đầu tư chăm sóc ngay khi còn đang khoẻ
mạnh, khi chưa thành bệnh mới là đầu tư chăm sóc có ý nghĩa và hiệu quả kinh tế cao
nhất.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên có thể hiểu:
chăm sóc sức khỏe là những hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe của con người. Theo
WHO thì nâng cao sức khỏe chính là sự hổ trợ mà trong đó quan trọng nhất là tạo khả
năng cho người dân kiểm soát và nâng cao sức khỏe của mình. Chi tiết hơn, nguyên lý
thực hiện nâng cao sức khỏe thể hiện ở 3 hoạt động chính đó là:
Xây dựng chính sách là hoạt động nhằm thúc đẩy sự hoàn thành các chính sách
mang lại sức khỏe cho người dân.
Tạo khả năng là hoạt động nhiều mặt bao gồm môi trường thuận lợi, cung cấp
thông tin, hướng dẫn kỹ năng sống và tạo ra các cơ hội giúp người dân có khả năng
chọn lựa những điều kiện có lợi cho sức khỏe.
Phối hợp liên ngành là tạo điều kiện phối hợp các ban ngành, đoàn thể, tổ chức
xã hội, tập thể nhằm tăng cường phối hợp để tạo được hiệu quả tốt cho sức khỏe người
dân đến mức cao nhất.
Ba hoạt động trên nói lên cơ chế nâng cao sức khỏe là: “môi trường lành mạnh”,

quyết hài hòa các yếu tố trên một cách tối ưu. Đồng thời sức khỏe của mỗi người
không phải chỉ dựa vào sự cố gắng của bản thân là đạt được mà còn chịu sự tác động
của rất nhiều yếu tố khách quan. Vào đầu thế kỷ XX cùng với sự phát triển mạnh mẽ
của khoa học và công nghệ, sức khỏe con người có nhiều vấn đề cần đề cập đến với
những căn bệnh không thuốc chữa. Từ đó con người luôn tích cực tìm kiếm những
phương pháp để có được sức khỏe tốt, trong quá trình tìm kiếm đó các nhà khoa học
đã xây dựng nên mô hình các yếu tố quyết định sức khỏe của con người thế kỷ XXI .

24
Đây là một mô hình vô cùng hữu ích đối với mỗi chúng ta. Bởi vì thông qua nó giúp
cho chúng ta biết được các mức độ phòng bệnh, chữa bệnh cũng như các yếu tố có vai
trò tác động đến sức khỏe để từ đó tự tìm ra giải pháp làm thay đổi các yếu tố đó theo
hướng có lợi cho sức khỏe.

Sơ đồ 1 : Mô hình các yếu tố quyết định sức khỏe thế kỷ XXI (Robert Evans) [16; 68]
Cụ thể mô hình này thể hiện sức khỏe con người chịu sự tác động của các yếu tố
tổng quát: môi trường cá nhân và gia đình, môi trường vật chất, môi trường xã hội và
cộng đồng. Nó chia ra làm 3 cấp độ dự phòng: dự phòng cấp I tức là cơ thể hoàn toàn
khỏe mạnh, ta tự tìm ra những phương pháp chăm sóc sức khỏe tốt, ngăn ngừa bệnh tật
và các yếu tố ảnh hưởng như giáo dục, thu nhập, các yếu tố nguy cơ (tức là những
nguy cơ bệnh tật nào đang rình rập), từ đó tìm ra các biện pháp hạn chế, khắc phục,
SỨC KHỎE VÀ
TRẠNG THÁI KHỎE
MẠNH
Môi trường vật
ch
ất

Môi trường cá
nhân và gia


Dự phòng
c
ấp I

Dự phòng
c
ấp II

Dự phòng
c
ấp III25
loại bỏ nguy cơ bệnh tật. Dự phòng cấp II tức là một khi cơ thể con người đã có dấu
hiệu bệnh tật thì cần phải can thiệp sớm, thông qua các tác động của hệ thống chăm
sóc sức khỏe tìm ra phương pháp chữa trị sớm nhất, kịp thời và hiệu quả nhất để cải
thiện chữa trị bệnh tật và chấn thương. Dự phòng cấp III tức là khi chúng ta đã mắc
bệnh cần phải tìm cho mình dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất, có thể phục hồi để trở
lại trạng thái khỏe mạnh ban đầu hay trở nên tàn phế, tử vong phụ thuộc phần lớn vào
hệ thống chăm sóc sức khỏe.
Mô hình này có ý nghĩa quan trọng với đề tài này, nó làm cơ sở lý luận hỗ trợ tác
giả trong quá trình tìm kiếm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe
cho NCCCM. Tác giả cũng có thể đưa ra các giải pháp tập trung vào việc cải thiện,
tăng cường sự tác động của các yếu tố: vai trò của cá nhân, gia đình, vật chất, xã hội
theo hướng tích cực.
1.2.4. Phúc lợi xã hội
Thuật ngữ phúc lợi xã hội đã được Việt Nam sử dụng từ vài chục năm qua với
những phạm vi khác nhau. Phúc lợi xã hội được xem như là một hệ thống hay một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status