Hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn nguyên hồng trước cách mạng tháng tám 1945 - Pdf 33

Bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học vinh
-----------o0o-----------

Đỗ thị định

hình tợng ngời phụ nữ trong truyện ngắn
nguyên hồng trớc cách mạng tháng 8 - 1945

Khóa Luận tốt nghiệp đại học

vinh - 2006

1


Lời cảm ơn
Luận văn này đợc hoàn thành dới sự giúp đỡ tận tình của cô giáo, thạc sĩ
Hồ Thị Mai. Nhân dịp hoàn thành đề tài, em xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới cô giáo, thạc sĩ Hồ Thị Mai - ngời đã giúp đỡ, chỉ bảo em rất tận tình trong
quá trình nghiên cứu!
Cũng nhân dịp này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ
Văn, các thầy cô phụ trách th viện, trờng Đại học Vinh. Xin cảm ơn cô giáo Lơng Thị Bình, giáo viên trờng cấp III Hoằng Hóa IV, Hoằng Hóa - Thanh Hóa,
cùng bạn bè đồng nghiệp, gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tác giả
hoàn thành luận văn này!.
Vinh, ngày 25 tháng 4 năm 2006
Tác giả
Đỗ Thị Định

2



3


Ch¬ng 3
NghÖ thuËt x©y dùng nh©n vËt phô n÷ trong truyÖn ng¾n
Nguyªn Hång tríc c¸ch m¹ng th¸ng t¸m 1945
3.1. Miªu t¶ ngo¹i h×nh.................................................................................37
3.2. Miªu t¶ néi t©m......................................................................................39
3.3. Ng«n ng÷ nh©n vËt................................................................................45
3.4. Ng«n ng÷ miªu t¶ nh©n vËt...................................................................48
3.5. Sù ph¸t triÓn tÝnh c¸ch nh©n vËt............................................................50
3.6. Nh÷ng h¹n chÕ khi x©y dùng nh©n vËt.................................................54
KÕt luËn...................................................................................................57
Tµi liÖu tham kh¶o

4


Mở đầu
Phần I: Giới thiệu chung
I. Lý do chọn đề tài
Nguyên Hồng là một trong những nhà văn xuất sắc có vị trí đặc biệt trong
dòng văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 nói riêng và văn học Việt Nam thế
kỷ XX nói chung. Từ trớc đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cuộc
đời và sự nghiệp của Nguyên Hồng. ở dạng tiểu luận, giáo trình đề cập đến các
mặt sáng tác của ông và đã có phát hiện ở nhiều phơng diện quan trọng trong
thành tựu và đặc trng sáng tác của Nguyên Hồng.
Một đời văn liên tục sáng tác trên bốn mơi năm để lại một khối lợng tác
phẩm lớn cả trớc và sau cách mạng. Tác phẩm của Nguyên Hồng khá phong phú

nghiên cứu có quy mô đồ sộ về tác phẩm của ông trên nhiều góc độ khác nhau.
Nh cuộc đời, tác phẩm thế giới quan, phơng pháp sáng tác, phong cách, thế giới
nhân vật,
Những vấn đề trên đã có nhiều công trình bàn đến
+ Hà Minh Đức Nguyên Hồng - nhà văn của những khát vọng sống
Nguyên Hồng về tác giả và tác phẩm Nxb giáo dục.
+ Nguyễn Đăng Mạnh Thơng tiếc nhà văn Nguyên Hồng báo nhân dân
số 16,5 - 1982
+ Vũ Ngọc Phan Nguyên Hồng nhà văn hiện đại quyển bốn tập ba Nxb
Vĩnh Thịnh Hà Nội 1951
+ Phan Cự Đệ Nguyên Hồng tuyển tập Nguyên Hồng tập một Nxb văn
học Hà Nội 1983
+ Nguyễn Đăng Mạnh Nguyên Hồng - con ngời và sự nghiệp Nxb Hải
Phòng 1997

6


+ Vũ Ngọc Phan Tác phẩm Nguyên Hồng trớc cách mạng tháng tám
Nguyên Hồng - thân thế và sự nghiệp, Nxb Hải Phòng 1997
+ Linh Thi Giọt lệ lớn của đoàn tàu chợ Nguyên Hồng - ánh sáng và cát
bụi, nxb hội nhà văn Hà Nội 1991.
Trong các công trình trên các tác giả đã quan tâm tìm hiểu nhân vật phụ nữ
trong sáng tác của Nguyên Hồng. Các nhà nghiên cứu đã chú ý đến nhiều kiểu
nhân vật phụ nữ khác nhau ở nhiều phơng diện khác và tìm hiểu họ ở nhiều hoàn
cảnh khác nhau. Hà Minh Đức đã có những nhận xét thật sâu sắc về nhân vật phụ
nữ của Nguyên Hồng cái gốc là sự ổn định, không biến chất của những giá trị
tinh thần và đạo lý của dân tộc thấm sâu trong cuộc sống của họ. Điều này càng
thấy rõ ở các nhân vật nữ nhất là những bà Mẹ. Nhân vật bà Mẹ ở Nguyên Hồng
cho dù là bà Mẹ ở xóm nghèo thành thị hay nông thôn đều có những nét cơ bản

III. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi mục đích chính là tìm hiểu Hình tợng ngời phụ trong
truyện ngắn của Nguyên Hồng trớc cách mạng tháng tám 1945 với đề tài này
chúng tôi đề ra những nhiệm vụ cụ thể sau.
+ Đi sâu nghiên cứu những truyện ngắn của Nguyên Hồng trớc cách mạng
để trên cơ sở đó, khái quát thế giới nghệ thuật của nhà văn ở giai đoạn này.
+ Xác định những yếu tố cơ bản những sự kiện quan trọng trong cuộc đời
của Nguyên Hồng đã ảnh hởng đến con đờng sáng tác của ông.
+ Phân tích các truyện ngắn của Nguyên Hồng trớc cách mạng từ đó chỉ ra
những vẽ đẹp của ngời phụ nữ trong tác phẩm của ông. Đồng thời cũng thấy đợc
chủ nghĩa nhân đạo của ông và đặc trng của kiểu nhân vật này.
+ Phân tích tìm hiểu nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn trớc cách mạng
của Nguyên Hồng để thấy đợc nghệ xây dựng nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn
của ông.

8


IV. Phơng pháp nghiên cứu và phạm vi t liệu
4.1. Phơng pháp nghiên cứu
Để làm nổi bật Hình tợng ngời phụ nữ trong truyện ngắn Nguyên Hồng trớc cách mạng. Trên cơ sở này chúng tôi đi vào phân tích các tác phẩm cụ thể để
hiểu đợc một cách chi tiết những nỗi khổ đau bất hạnh hay những vẻ đẹp cao quý
của ngời phụ nữ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng trớc cách mạng sau đó tổng
hợp lại có bao nhiêu ngời phụ nữ mà Nguyên Hồng đã đề cập đến trong tác
phẩm của minh.
Thống kê phân loại nhân vật một cách cụ thể để thấy đợc những kiểu nhân
vật nào chịu nhiều đau khổ về vật chất hay nhân vật nào chịu nhiều đau khổ về
tinh thần, để có hệ thống cụ thể hơn.
So sánh nhân vật nữ của Nguyên Hồng với các nhân vật nữ của các nhà
văn khác cùng thời nh Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam để

1.1. Quá trình sáng tác của Nguyên Hồng
Trong làng văn học hiện đại Việt Nam, ai đã từng tiếp xúc với Nguyên
Hồng đều thấy rõ một điều: Ông là ngời rất rể xúc động, rất rể khóc, khóc khi
nhớ đến bạn bè, khóc khi nhớ đến quê hơng về gia đình, khóc khi nhớ đến Bác
Hồ đến ơn Đảng đã đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân ta. Ai biết đợc trong
cuộc đời mình Nguyên Hồng đã khóc bao nhiêu lần? Một con ngời giàu cảm xúc
nh vậy sống giữa cái xã hội Việt Nam thực dân nửa phong kiến thì con ngời ấy đã
đến với nghệ thuật nh thế nào đây?
Nguyên Hồng có một tuổi thơ đấy tủi nhục và cay đắng, mời sáu tuổi
Nguyên Hồng đã phải thôi học xa ngời bà nội mộ đạo đi theo mẹ và ngời bố dợng
ra sống ở xóm cấm đất Hải Phòng. Chính nơi đây Nguyên Hồng đã trở thành cậu
giáo t của mấy đứa trẻ nhỏ, con em của những ngời lao động nơi đây.
Ngay từ nhỏ Nguyên Hồng đã sống hoà đồng với cuộc đời của những ngời
lao động nghèo phố thị, lại sớm tiếp xúc với sách báo tiến bộ của thời kỳ mặt trận
dân chủ. Nguyên Hồng đã sớm thấy đợc cái tăm tối, cái bất công ngột ngạt của
xã hội thực dân phong kiến bấy giờ.
Cũng chính ở cái mảnh đất Hải Phòng này Nguyên Hồng đợc gặp Thế Lữ
(1935) Nhà thơ ngõ nghề đã nổi tiếng là chủ soái của phong trào thơ mới. Từ
đó Nguyên Hồng nuôi ớc vọng đi theo con đờng văn chơng của mình.
Và từ đó chính trong cái ổ chuột của khu lao động xóm cấm mảnh đất Hải
Phòng những trang đầu tiên của Bĩ võ và Những ngày thơ ấu đợc hình thành.
Bĩ võ đợc in dần trên các báo rồi sau đó ngay lập tức bộ tiểu thuyết đầu tay này
đã đợc nhận giải thởng Tự lực văn đoàn (1937) cũng chính trong giải thởng này
Thạch Lam đã có lời nhận xét đầu tiên và khẳng định đầu tiên về nhà văn
Nguyên Hồng của chúng ta. đời chạy võ. tác giả tả một cách rõ ràng tuy
11


nhanh chóng và có khi hơi vội vã. Văn lúc nào cũng minh bạch, giản dị một đôi
khi thấm thía dung động, có nhiều đoạn đẹp đẻ và sâu sắc. Những cảnh tả chân

những phẩm chất cao quý trong tâm hồn khi nghĩ về con ngời nh Nguyên Hồng.
Vậy thì đến với Nguyên Hồng chính là đến với một nhân cách, một nhà văn nhân
bản, nhân bản bắt nguồn từ lao động của con ngời. Nhân bản trớc hết và luôn
luôn là sản phẩm của nhân dân tạo ra trong quá trình đấu tranh xã hội xây dựng
cuộc sống, nó bao gồm mọi phẩm chất, mọi thuộc tính, mọi t chất làm nên giá trị
của con ngời.
Quá trình tìm đến với văn chơng và nghệ thuật của Nguyên Hồng đã phần
nào thể hiện tài năng của ông và ông đã làm đợc điều đó bằng số lợng tác phẩm
của ông để lại và những ghi nhận của bạn bè về ông.
1.2. Đóng góp của Nguyên Hồng cho sự nghiệp văn học nớc nhà
Dòng văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 đã sản sinh những tên tuổi
lớn Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng.
Mỗi một nhà văn đã tạo dựng cho mình một phong cách, một thể giới tinh thần
riêng rât đáng chân trọng. Và tất cả họ đã đóng góp cho nền văn học nớc nhà một
kiểu sáng tác mới, một thể loại văn học mới ra đời, mỗi ngời một kiểu không ai
giống ai. Nhng họ đều có một t tởng chung và phơng pháp sáng tác độc đáo. Tất
cả họ đã tạo nên một dòng văn học đó là văn học hiện thực phê phán. Nguyễn
Công Hoan để lại một di sản văn học khá đồ sộ với hàng chục cuốn tiểu thuyết và
hàng trăm truyện ngắn bao quát một thời kỳ dài trong văn học. Ngô Tất Tố nhà
văn nhà báo lớn đã chiếm lĩnh sâu sắc đề tài nông thôn qua những tiểu thuyết và
phóng sự tiêu biểu. Vũ Trọng Phụng một quãng đời lao động ngắn ngũi đã bộc lộ
rõ tài năng sáng tạo với những điển hình sắc nét có giá trị vững bền cho nến văn
học nớc nhà. Hay Nam Cao một cây bút hiện thực phê phán sâu sắc đã xây dựng
đợc những điển hình nghệ thuật bất hủ để lại cho đời. Đến với Nguyên Hồng ông
lại đóng góp cho dòng văn học hiện thực phê phán một khía cạnh khác. Ta thấy
trong sáng tác của Nguyên Hồng không có những cảnh su thuế thúc giục hàng
13


ngày hay cảnh tợng ngời nông dân hàng ngày đến mùa lại phải chạy vạy lo thuế

và sinh động và một điều nữa ta còn thấy ở Nguyên Hồng ông đã xây dựng đợc
những nhân vật sống mãi với thời gian. Khi nhắc đến Nguyên Hồng là ta lại nhớ
đến những điển hình nghệ thuật nh Tám Bính trong Bĩ võ (1938) hay nhân vật
tôi trong Những ngày thơ ấu hay Năm Sài Gòn nh trong công trình nghiên
cứu một đời sáng tác trong đau khổ Nguyên Hồng về tác gia và tác phẩm của Vơng Trí Nhà ông nhận xét. Một khi cần ghi nhận đóng góp của Nguyên Hồng
với lịch sử văn học nớc nhà, điều đầu tiên và gần nh cuối cùng mà các nhà nghiên
cứu hay làm là phân tích cuộc đời những cụ Cam, Gái đen, Mẹ la, Xim những
nhân vật thuộc loại dới đáy của xã hội vậy mà vẫn là những tâm hồn tơi sáng tất
cả điều đó là đúng [16; 214].
Có thể nói, Nguyên Hồng là cây bút đôn hậu luôn hớng tới cái cao đẹp
trong sáng với niềm tin yêu thắm thiết đối với con ngời, cho nên tiếng nói mới
riêng biệt của Nguyên Hồng góp vào dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam
trớc 1945 về căn bản, vẫn là một tiếng nói yêu thơng nhân đạo, có phê phán nhng
không mĩa mai trào lộng nh Nguyên Công Hoan không trì triết và đau đớn nh
Nam Cao hay sâu cay nặng nề nh Vũ Trọng Phụng, mà sôi nổi, lạc quan, tràn đầy
một lòng tin ở ngày mai tơi sáng vì ông nhìn thấy đợc những phẩm chất đẹp đẽ ở
những con ngời nghèo khổ hôm nay. Và quả thật Ngời a tạc tợng, đúc chuông
làm đẹp cho đời ấy là ngời không màng danh lợi đã cống hiến cho đời trọn vẹn
một chữ tâm một tấm lòng.
Có thể nói những sáng tác của Nguyên Hồng giúp cho ngời đọc hiểu đợc
nổi khổ của những hạng ngời, nhất là ngời nông dân lao động trong xã hội cũ trơc cách mạng và đặc biệt là nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn của ông. Và khi ta
đọc các tác phẩm của ông giúp chúng ta tin vào con ngời giúp thanh lọc tâm hồn
ngời đọc, với những sáng tạo nghệ thuật không mệt mỏi. Nguyên Hồng đã góp
một tiếng nói mới vào nền văn học hiện thực phê phán nói riêng và văn học hiện
đại Việt Nam nói chung.

15


1.3. Những nét chính trong phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng


Trớc khi Pháp sang xâm lợc, Việt Nam là một xã hội phong kiến phơng
đông, con ngời ta gắn bó với họ hàng, làng xã bền chặt. Nhng từ khi Pháp sang
xâm lợc với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp xã hội Việt Nam
đã biến động dữ dội, làng xóm xơ xác nông nghiệp phá sản, thành thị xuất hiện.
ở nông thôn thì bọn quan lại phong kiến câu kết với phơng tây da sức bóc lột ngời dân lao động. Ngời dân phải sống trong cảnh khốn cùng khổ sở, và trong số đó
có một số ngời không chịu nổi cảnh tợng khổ cực đó đành phải bỏ quê hơng kéo
nhau ra thành thị để kiếm sống. Một số kiếm đợc việc làm thì làm công nhân cho
các nhà máy hầm mỏ, còn phần lớn trở thành anh lái xe con sen, vú em và trong
số đó có những ngời trở thành gái điếm những kẻ lu manh tha hóa,
Xã hội Việt Nam chuyển mình một cách đau đớn nhục nhã sang hớng T
sản. Ngời dân Việt Nam Bàng hoàng ngơ ngác trớc sự đổi thay đó. Nhng cái
mới vẩn thâm nhập nó làm thay đổi sự suy nghĩ của con ngời tác động đến tâm lý
xã hội, cuộc sống tràn ra khỏi luân thờng đạo lý nhân tình thế thái.
Trong đời sống tinh thần của ngời Việt Nam một khát vọng và một nổi đau
đớn xuất hiện. Mỗi con ngời có thể phải đợc sống nh một cá nhân có cá tính. Nhng đất nớc đã dơi vào tay giặc làm ngẹt thở cả dân tộc.
Lúc này dòng văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 ra đời với những
cây bút có tên tuổi nh Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trong Phụng, Nam
Cao, Nguyên Hồng. Cũng trên văn đàn lúc bấy giờ đã xuất hiện một dòng văn
học của nhóm Tự lực văn đoàn ngời đứng đầu là Nhất Linh, Khái Hng, Hoàng
Đạo dòng văn học Tự lực văn đoàn chủ yếu đi vào ngợi ca tình yêu nam nữ và
thói ăn chơi của đám dân thành thị mặc dù dòng văn học này cũng nhìn thấy đợc
cái tù túng cái lạc hậu của xã hội lúc bấy giờ nhng họ tìm một hớng giải quyết là
xây dựng một nền văn hóa hiện đại đặt căn bản trên những cá nhân tự do. Còn
các nhà văn hiện thực phê phán họ lại có một cái nhìn và quan điểm t tởng khác,
có thể nói là xát thực với đời sống xã hội Việt Nam lúc bấy giờ hơn. Các nhà văn
này phần lớn là có xuất thân từ tầng lớp dân nghèo cũng có ngời xuất thân trong

17


18


phẩm (Láng) mặc dù cô có thể sẳn sàng có đợc một cuộc sống sung sớng nếu cô
đồng ý lấy con nhà bà Bá nhng cô đã không làm nh vậy cô đã chọn cuộc sống
đạm bạc để yêu Tỵ có cùng cảnh nh cô để rồi lại còn lo cho các em của cô có
một cuộc sống hạnh phúc. Nhân vật của Nguyên Hồng dù có cuộc sống khó khăn
đến đâu nhng họ không bao giời để cho cuộc đời mình bị vẩn đục bị xã hội lôi
kéo, mà họ luôn có một tâm hồn thanh khiết, sống hớng tới ngày mai tốt đẹp hơn
tin ở tơng lai tin ở chính bản thân mình. Phải chăng đó cũng chính là niềm tin vào
tơng lai tin vào cuộc sống của chính Nguyên Hồng niềm tin ấy ông gữi vào trong
những nhân vật của mình. Hay qua cuộc đời đau khổ của Tám Bính Nguyên
Hồng đã tìm ra một chuỗi những nguyên nhân xã hội đã đẩy Tám Bính vào con
đờng h hỏng tha hóa. Đó là làng quê Bính với những định kiến cổ hủ lâu đời xem
tội chữa hoang là tội tày đình xấu xa phải chịu sự phỉ báng của ngời đời và hình
phạt hạng nề nhất mà không chịu đợc hình phạt nặng nề đó là bỏ làng ra đi và
Bính đã ra đi bỏ lại làng quê với bao nhiêu hủ tục lạc hậu. Đằng sau làng quê với
những định kiến lâu đời kia là bản chất lang sói của bọn cờng hào rồi thói vô lơng tâm của bọn cảnh sát chỉ tin vào một lời vu oan của một mụ đàn bà mà cho
Bính là hạng Theo trai rồi tấn Bính vào Lục xì rồi kể từ đó Bính đã trợt dài
trên con đờng tha hóa, làm gái điếm làm đời chạy võ vớ Năm Sài Gòn nh ng tất
nhiên nguyên nhân làm cho Bính tha hóa nh vậy là do xã hội đa đẩy và một phần
là do tính cách của cô gây nên đó là đức tính thuỷ chung và cả tin nhất là lòng vị
tha của một ngời phụ nữ. Mặc dù trợt dài trên con đờng tha hóa nhng từ trong sâu
thẳm trái tim của mình Bính lúc nào cũng mong có ngày hoàn lơng và luôn nghĩ
về cha mẹ và nhất là đứa con của mình nhng cuộc đời đã không để cho Bính một
con đờng quay về và cuối cùng nàng đã bị bắt có thể nói khi để cho Tám Bính dơi
vào cảnh cùng đờng nh vậy Nguyên Hồng rất đau đớn trớc số phận nhân vật của
mình vì ông luôn tin lòng hớng thiện của con ngời. Mỗi lần Bính xa ngã là mỗi
lần Nguyên Hồng rất đau đớn cho nhân vật của mình ông tỏ ra cảm thông chia sẽ
đồng cảm với họ nhiều hơn Bính dơi vào con đờng tha hóa là do nguyên nhân xã

cảm thông để chia sẽ với nhân vật của mình thì Nguyên Hồng thì đứng ngay
trong tầng lớp mình để cảm thông để chia sẽ cuộc sống nghèo khó của ngời dân

20


nghèo. Với một tuổi thơ đầy cay đắng và một thời thanh niên làm đủ nghề để
kiếm sống và ở phơng diện này làm cho Nguyên Hồng xây dựng nhân vật của
mình một cách sắc nét hơn.
Xét về khuynh hớng xã hội điểm khác biệt giữa Nguyên Hồng với các cây
bút chủ chốt của dòng văn học hiện thực phê phán là ở điểm ông mong muốn xã
hội tốt đẹp hơn và con ngời hảy làm điều thiện và lòng tin ở con ngời. Điểm tựa
đó là lòng tin đó là lơng tri là tính thiện là sự biết điều, là phẩm chất ngời. Nh vậy
bằng cách riêng của mình Nguyên Hồng cũng bắt tay vào việc vận động xây
dựng một nền văn hóa ngày càng văn hóa hơn - Đây là một nhân tố quan trọng
làm cơ sở cho nhân quyền.
Nguyên Hồng là ngời luôn quan niệm rằng văn không những là chữ mà
còn là hồn là ý tứ là ngôn ngữ là bản sắc là phong cách, văn phải đích thực là đứa
con của mình với quan niệm nh thế Nguyên Hồng đã đến với bàn viết thận trọng
và thành kính nh một tín đồ đến với bàn thờ chúa. Khi viết tập Cửa biển sau này
Nguyên Hồng kể Tôi bỏ hẳn tập bản thảo đầu với hơn 150 trang khổ rộng, giấy
màu hồng nọ. Tôi viết bản thảo thứ hai, bản thảo thứ ba, nhà tôi chép lại, tôi lại
sữa và cha đăng báo mấy chơng đánh máy, đăng báo rồi tôi lại sữa đa nhà xuất
bản đánh máy duyệt in, vẩn sữa. Nhà in sắp chữ máy chọn vẹn cũng vẩn sữa. Vẫn
sợ nhạt loảng, vẫn lo sự giả tạo vẫn phải sao thật tĩnh táo với mình nếu có chút gì
gian dối. [8;61]
Trong thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng, thấy sự chi phối rỏ nét của
một lối nhìn riêng của nhà văn đối với hiện thực, một tấm lăng kính có độ chiết
quan riêng, cấu tạo bởi nhiều yếu tố t tởng văn hóa khác nhau. Đó là tinh thần lạc
quan của ngời dân lao động, là triết lý không thành văn của họ về cuộc đời, là

yêu cuộc sống của ông và lòng tin vào con ngời nh con chiên tin vào chúa. Điều
này do ảnh hởng của Nguyên Hồng theo đạo thiên chúa. Điều đặc biệt là Nguyên
Hồng có một niềm tin ở ngời lao động và tâm hồn đẹp đẽ của họ.
Nguyên Hồng trãi hồn mình trên những trang giấy với những con ngời
cùng khỗ để hiểu họ yêu họ nh chính bản thân mình , mợn hình tợng của nhà thơ
pháp A.MyTxê, có thể nói Nguyên Hồng nh con chim bồ nông mẹ đã rút duột

22


mình để nuôi một đàn con đói. Quan niệm nhà văn tìm thấy tâm hồn mọi ngời
qua chính bản thân mình đã đa thế giới tâm hồn của Nguyên Hồng và văn phẩm
của ông đến chổ bất tử.

23


Chơng 2
Vẽ ĐẹP CủA NGƯời phụ nữ trong truyện ngắn
nguyên hồng trớc cách mạng tháng 8 - 1945
Nhân vật phụ nữ chiếm 2/3 trong thế giới nhân vật của Nguyên Hồng trong
mảng truyện ngắn trớc cách mạng. Nhân vật ngời phụ nữ đã trở thành tâm huyết
củ nhà văn. Trả lời giáo s Nguyễn Đăng Mạnh về nhân vật ngời phụ nữ trong tác
phẩm của ông - Nguyên Hồng đã nói có lẽ vì tôi chú ý đến những con ng ời cực
khổ đáng thơng nhất trong xã hội cũ nên tự nhiên viết nhiều về ngời phụ nữ đấy
thôi [10; 171 ] nghĩa là xuất phát điểm không phải là ý định viết về ngời phụ nữ
mà là khát vọng muốn nói lên những nỗi đau khổ của những ngời phụ nữ sống
trong xã hội cũ, họ phải chịu biết bao nhiêu là tầng áp bức bóc lột mà Nguyên
Hồng đã nhìn thấy và có phần cảm thông sâu sắc với họ. Đó là điều hiển nhiên vì
sao trong các truyện ngắn thời kỳ đầu của Nguyên Hồng số phận ngời phụ nữ lại

thoại giữa Mũn và ngời vú già để hiểu thêm những cực khỗ của nàng.
- Hôm nay, nó lại dám nặng vé hay sao mà mợ ăn qua quýt vài hạt cơm
thế?
Mợ nhĩ, nó ức hiếp mợ thật, nếu thêm vài cân bánh chực chốn vé, nó bắt đợc, nó tha phạt mợ, nhng lại lấy chỗ bánh thừa ây đi và đẻo thêm dăm su thì
cũng quá tội.
- Hay mợ để tôi đội đi bán, chứ nó đuổi, xô xé đạp dập cả chân Mợ, sớt cả
mặt mày Mợ thì mợ đi chợ sao đợc? [5;85]
Và rôì chính trong sự lần hồi buôn bán vất vã cực nhọc ấy với bao nhiêu ức hiếp
tàn ác đó Mũn đã chết. Nàng chết trong lúc tranh nhau bán bánh ở bến tàu thật
tội nghiệp! Chính cái số phận của Mũn đó cũng là số phận của bao ngời phụ nữ
khác làm cái nghề buôn bán nhỏ nhặt đó. Đó là Mợ Du trong tác phẩm cùng tên.
Mợ Du cũng chết trong cái cảnh thảm thơng, chết ở nhà ngời khác trong khi đó
lại không có một ai thân thích, chết mà không biết đợc con mình bây gìơ ở đâu

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status