MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI 3
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 6
3. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN 11
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 11
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 11
B. PHẦN NỘI DUNG 13
Chương 1. HÀNH TRÌNH NGHỆ THUẬT VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ CON NGƯỜI CỦA NHÀ VĂN NGUYÊN HỒNG 13
1.1. HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN HỒNG 13
1.1.1. Vài nét về Nguyên Hồng và hành trình sáng tác của nhà văn 13
1.1.2. Truyện ngắn Nguyên Hồng trƣớc cách mạng tháng Tám 16
1.2. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƢỜI 19
1.2.1. Quan điểm nghệ thuật của Nguyên Hồng 19
1.2.2. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời 24
Chương 2. CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
NGUYÊN HỒNG TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945. 31
2.1. NHÂN VẬT CAM CHỊU 34
2.1.1. Những phu phen thợ thuyền cam chịu 34
2.1.2.Những ngƣời phụ nữ cam chịu 36
2.1.3.Những trẻ em nghèo 39
2.2. NHÂN VẬT VƢỢT LÊN HOÀN CẢNH 42
2.2.1. Những ngƣời lao động nghèo 43
2.2.2. Những tri thức tiểu tƣ sản nghèo 45
2.3. NHÂN VẬT VỊ THA, GIÀU ĐỨC HY SINH 47
trang viết để viết về những con người cùng khổ và dựng nên một bức tranh hiện
thực về sự nghiệp cách mạng trọng đại của dân tộc.Ngòi bút của Nguyên Hồng
cũng góp phần vào không khí sôi động và sự phát triển liên tục của hành trình văn
học Việt Nam trong thế kỉ XX.Với ý nghĩa đó, sự nghiệp văn học của nhà văn
xứng đáng được chúng ta giữ gìn, ngợi ca và trân trọng.
Nguyên Hồng, ngay từ những trang viết đầu tay, ông đã tự vạch cho mình
một con đường nghệ thuật riêng: nhà văn của những người cùng khổ. Cả cuộc đời
cầm bút, ông gắn bó sâu sắc, máu thịt với những con người nhỏ bé, những lớp
người dưới đáy của xã hội thành thị. Sự nghiệp văn học của Nguyên Hồng có nét
gần gũi với nhà văn Nga Mácxim Gorki – trong mỗi trang viết của ông nồng nàn
hơi thở của đời sống cần lao. Nguyên Hồng luôn khả năng nhìn thấy một vẻ đẹp
đầy chất thơ trong đời sống cần lao, trong những cái bình thường, thậm chí tầm
thường, xô bồ, bề bộn của cuộc sống, trong cảnh lầm than, lam lũ, khốn khổ, cơ
cực của con người . Và ông đã say sưa miêu tả những sâu kín, thánh thiện ấy với
một thái độ đầy nâng niu, trân trọng, và với một niềm tin mãnh liệt. Không ít nhà
văn hiện thực cùng thời với ông nhìn cuộc sống một cách bi quan. Không có thái
độ bi quan về con người và xã hội đương thời như Nguyễn Công Hoan hay Vũ
Trọng Phụng, Nguyên Hồng, dù cả cuộc đời sống trong cơ cực lao khổ, vẫn luôn
nhìn cuộc đời bằng con mắt tin yêu, lạc quan tin tưởng và với một tấm lòng nhân
đạo cao cả.
Nguyên Hồng bước vào nghề văn do sự thôi thúc nội tâm , muốn nói lên nỗi
thống khổ khôn cùng của con người, trước hết là người lao động để bênh vực
họ.Đó là ý thức nghệ thuật đã trở thành nguồn cảm hứng, cuốn hút sự say mê, sang
tạo của ông trong suốt cuộc đời cầm bút.
Sáng tác là niềm đam mê lớn nhất trong cuộc đời Nguyên Hồng.Viết văn đối
với ông là để “giải thốt những xâu xé, những dào dạt trong lòng. Để phơi bày
những ý tưởng rạo rực tâm hồn (…), viết còn để tìm cho mình một đời sống lâu dài
trong tâm hồn mọi người và được yêu thương lại một cách nồng nàn với những
mối tình thắm thiết mênh mông”[26,75]. Ngòi bút ông đã hòa nhập vào đời sống
cần lao của những con người dưới đáy xã hội, vào cát bụi lầm than, vào những
ông luôn giành được những tình cảm yêu thương đằm thắm trong lòng bạn bè và
bạn đọc nhiều thế hệ. Nguyên Hồng là một trong số ít những nghệ sĩ mà ngay trong
những sáng tác đầu tay đã có được vị trí vững chắc trên văn đàn nghệ thuật và trở
thành nguồn cảm hứng và cho nhiều nhà nghiên cứu và những người yêu thơ văn.
Cảm hứng đó được trải dài từ những năm trước 1945 cho đến nay a. Tình hình nghiên cứu Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám 1945
Nguyên Hồng lần đầu tiên xuất hiện trên văn đàn bằng truyện ngắn Linh
hồn được in trên Tiểu thuyết thứ bảy vào năm 1936.Đó là thời gian Nguyên
Hồng vừa chuyển đến sống ở Hải Phòng, ban ngày ông là một thầy giáo tư dạy học
cho lũ trẻ con nhà nghèo trong xóm Cấm, ban đêm ông lại cặm cụi viết văn dưới
ánh đèn leo lét, viết một cách đau khổ và đầy say mê.Nhà văn trẻ ấy đã bước vào
nghề văn bằng sự trình bày thống thiết nỗi khổ ê chề của những con người nhỏ bé
dưới đáy xã hội vốn hằng ngày sống xung quanh mình.Nhưng phải đến cuốn tiểu
thuyết Bỉ vỏ-tác phẩm được nhận giải thưởng của Tự lực Văn đoàn năm 1937 thì
cái tên Nguyên Hồng mới thực sự đến gần với bạn đọc.
Ngay từ tiểu thuyết đầu tay ấy,Nguyên Hồng đã bộc lộ được tư tưởng nhân
đạo của một nhà văn hiện thực. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, trong cuốn Nhà văn
hiện đại (1942) đã nhận xét:
“ Tập văn đầu tiên của ông là tập Bỉ vỏ…Nhưng cái tư tưởng thâm trầm nó
bao quát cả cuốn tiểu thuyết Nguyên Hồng là cái tư tưởng : Tuy đã sa chân vào
chốn trụy lạc, người ta vẫn có thể mang một tâm hồn trong sạch được.” Bỉ vỏ là
cuộc sống thực và cũng chính là máu thịt cuộc đời Nguyên Hồng.
“ Bỉ vỏ của Nguyên Hồng là một cuốn tiểu thuyết chứa chan tinh thần nhân
đạo,nó làm cho ta thương xót đến cả những kẻ đầy tội lỗi, nhưng Bỉ vỏ lại xây
dựng một khuôn luân lí rất cao, nên dù ta thương xót họ cũng không thể không ghê
tởm về hành vi của họ”.
Tuy nhiên trong tiểu thuyết đầu tay này, Nguyên Hồng không tránh khỏi
những nhược điểm của người mới cầm bút “Tính cách nhân vật đôi khi bị đơn
Khảo sát tình hình nghiên cứu Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám
1945, có thể thấy các nhà nghiên cứu phê bình đều đánh giá cao tài năng của
Nguyên Hồng và khẳng định ông là nhà văn hiện thực mang tinh thần nhân đạo cao
cả. Tuy nhiên các bài phê bình đánh giá thường tập trung nhiều vào mặt nội dung
tư tưởng của tiểu thuyết Bỉ vỏ và Những ngày thơ ấu.Truyện ngắn của Nguyên
Hồng vẫn chưa được nghiên cứu chuyên sâu trong giai đoạn này.
b.Tình hình nghiên cứu Nguyên Hồng từ sau Cách mạng tháng Tám 1945
đến nay
Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyên Hồng tiếp tục cho ra đời nhiều tác
phẩm có quy mô đồ sộ .Đặc biệt ánh sáng của quan niệm giai cấp và những nhận
thức về chính trị đã nâng cao chất lượng nhiều truyện ngắn của Nguyên Hồng.
Ngòi bút của ông với vẫn hướng tình cảm của mình về phía nhân dân lao động
đồng thời ca ngợi cuộc đấu tranh kiên trì và tất thắng của họ.
Phan Cự Đệ trong bài viết "Những bước tiến mới về tiểu thuyết Nguyên
Hồng sau Cách mạng Tháng Tám" đã đưa ra những nhận định khái quát nhất về sự
nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng :
" Lò lửa và địa ngục là một cái mốc quan trọng trên con đường sáng tạo
của Nguyên Hồng. Tuy về căn bản nó vẫn là những tác phẩm hiện thực phê phán
nhưng cái ánh sáng chiếu rọi vào thì lại là của một thế giới quan đã bắt đầu đổi
mới"
"Bỉ vỏ và Sóng gầm là hai mốc về tiểu thuyết của Nguyên Hồng. Hai tác
phẩm cách nhau một phần tư thế kỷ và cũng là hai thời kì khác nhau trên con
đường nghệ thuật của Nguyên Hồng. Bỉ vỏ là những tình cảm yêu thương dào dạt,
là khát vọng ngây thơ, trong trắng hồn nhiên của buổi ban đầu. Sóng gầm, Cơn
bão đã đến ra đời lúc cây bút Nguyên Hồng đã trưởng thành, luôn luôn day dứt
suy nghĩ về những vấn đề nghệ thuật và đời sống".
Có thể nói từ sau năm 1945, tình hình nghiên cứu về Nguyên Hồng cũng có
nhiều chuyển biến mới mẻ. Đặc biệt, mảng truyện ngắn của ông đã được các nhà
phê bình, các bạn văn quan tâm và bước đầu đưa ra những nhận định, những ý
kiến đánh giá khách quan.
Tiếp cận đề tài từ góc độ văn học sử, trong cuốn sách Phong cách nghệ
thuật Nguyên Hồng, tác giả Bạch Văn Hợp đã trình bày một cách hệ thống những
nét độc đáo, tiêu biểu, có ý nghĩa thẩm mỹ cao và những biến chuyển nhất quán
của phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng, từ đó góp phần khẳng định những cống
hiến và vị trí của nhà văn trong lịch sử phát triển văn học Việt Nam hiện đại.Trong
đó, truyện ngắn của Nguyên Hồng là đối tượng chính được tác giả tập trung khảo
sát.
Nhà nghiên cứu trẻ Lê Hồng My với công trình " Lời văn nghệ thuật
Nguyên Hồng", đã chọn cách tiếp cận sáng tác của nhà văn từ góc độ "lời văn
nghệ thuật" để " khám phá các phương thức tổ chức, đặc điểm và đặc sắc của lời
văn; khám phá mối quan hệ giữa tư tưởng nghệ thuật và lời văn nghệ thuật; xác
định vai trò của lời văn nghệ thuật đới với thế giới nghệ thuật và phong cách nghệ
thuật Nguyên Hồng "(Lời văn nghệ thuật Nguyên Hồng- Lê Hồng My)
Tác giả Nguyễn Thu Hà với đề tài luận văn " Tìm hiểu những đặc điểm
nghệ thuật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyên Hồng trƣớc Cách
mạng", đã khảo sát những sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyên Hồng
trước năm 1945 để làm sáng tỏ những đặc điểm nghệ thuật của Nguyên Hồng.
Qua những bài viết và công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều mặt trong
sáng tác của Nguyên Hồng, các tác giả đã có những nhận định khách quan và chính
xác về thế giới nghệ thuật, phong cách nghệ thuật trong các tác phẩm tiểu thuyết và
truyện ngắn của nhà văn.
Tuy nhiên,chúng tôi nhận thấy những ý kiến phê bình đánh giá
về truyện ngắn của Nguyên Hồng trước Cách mạng vẫn chưa được trình bày trong
những công trình chuyên sâu, mang tính hệ thống. Những bài viết nêu trên đã
giúp chúng tôi có những gợi ý quan trọng và có hướng giải quyết những vấn đề cần
đi sâu, tìm hiểu trong luận văn này.
3. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Tiếp thu các ý kiến đánh giá về truyện ngắn Nguyên Hồng của những người
đi trước, luận văn đặt ra nhiệm vụ là tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện ngắn
Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám 1945 một cách có hệ thống dưới góc
Chƣơng 2: Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng
trước Cách mạng tháng Tám 1945
Chƣơng 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của
Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám 1945
Cuối cùng là phần Thƣ mục Tài liệu tham khảo B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1.
HÀNH TRÌNH NGHỆ THUẬT VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ
CON NGƢỜI CỦA NHÀ VĂN NGUYÊN HỒNG
1.1. HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN HỒNG
1.1.1. Vài nét về Nguyên Hồng và hành trình sáng tác của nhà văn
Nguyên Hồng tên thật là Nguyễn Nguyên Hồng, sinh ngày 5-11-1918 tại
phố Hàng Cau , thành phố Nam Định trong một gia đình công giáo đang trong thời
kì sa sút. Mười hai tuổi,cậu bé Nguyên Hồng mồ côi cha, người mẹ trẻ nghèo khổ
phải vào Vinh đi ở vú đầm, rồi mấy năm sau thì đi bước nữa. Mười lăm tuổi, vừa
mới học xong tiểu học, ông đã bị đày đọa trong các nhà lao trải dài từ Nam Định
đến Hà Nội và cuối cùng bị giải đi Phúc Yên. Đến năm mười sáu tuổi, hết hạn tù
được tha, Nguyên Hồng từ giã quê hương-thành phố Nam Định để cùng mẹ và bố
dượng ra sinh sống ở xóm Cấm -Hải Phòng. Tại cái xóm nghèo ấy, Nguyên Hồng
đã trở thành thầy giáo tư của con em những người lao động nghèo khổ.
Cũng chính tại Hải Phòng, vào năm 1935, nhà văn của chúng ta đã được gặp
gỡ Thế Lữ-" nhà thơ ngõ Nghè", chủ soái của phong trào Thơ Mới.Chính từ cuộc
gặp gỡ này, Nguyên Hồng đã bắt đầu ước vọng đi vào con đường văn chương, coi
văn chương là lẽ sống cao cả của cuộc đời mình.
Năm 1936, Linh hồn -truyện ngắn đầu tay của Nguyên Hồng được in trên
tờ Tiểu thuyết thứ bảy càng làm củng cố thêm quyết tâm này của nhà văn. Chính
trong những căn nhà ổ chuột tối tăm, bẩn thỉu của khu lao động xóm Cấm- Hải
Phòng, những trang viết đầu tiên của tiểu thuyết Bỉ vỏ và Hồi ký Những ngày thơ
Văn nghệ của Hội và phụ trách Trƣờng văn nghệ nhân dân Trung ƣơng từ
nhũng khóa học đầu tiên.
Năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông cùng gia đình chuyển về sống ở
Hà Nội, được phân công công tác tại Hội nhà văn Việt Nam và làm thư kí tòa
soạn cho tuần báo Văn của Hội do nhà văn Nguyễn Công Hoan làm chủ
nhiệm.Sau đợt đấu tranh chống lại nhóm Nhân văn -giai phẩm, Nguyên Hồng
chuyển về tham gia lao động tại nhà máy xi măng Hải Phòng. Cũng tại nơi đây,
ông bắt đầu nhen nhóm ý tưởng và bắt tay vào viết Cửa biển- bộ tiểu thuyết sử thi
dài bốn tập, một tác phẩm tâm huyết của cả cuộc đời cầm bút của Nguyên Hồng.
Từ năm 1962, ông sống cùng gia đình tại ấp Cầu Đen, Yên Thế( Bắc Giang).
Có thể nói sau Hải Phòng, mảnh đất này chính là quê hương thứ hai của Nguyên
Hồng, là nơi mà ông đã gắn bó lâu dài và cũng là nơi ông xây dựng bộ tiểu thuyết
dài hơi còn dở dang của đời mình. Bộ tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế dự định gồm
ba tập, đang hoàn thành tập 2 thì ông đột ngột qua đời (2/5/1982).
Tri ân cho những cống hiến của ông cho nền văn học nước nhà, Nguyên
Hồng đã được Chính phủ truy tặng Huân chương độc lập hạng ba và giải thưởng
Hồ Chí Minh đợt 1.Ông không chỉ là một nhà văn lớn mà còn là người thầy dìu dắt
nhiều thế hệ nhà văn trẻ đi vào con đường sáng tác văn chương.
Với 46 năm miệt mài sáng tạo nghệ thuật, Nguyên Hồng đã để lại cho chúng
ta nhiều tác phẩm có giá trị trên các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, hồi kí,
bút ki- tiểu luận. Một số tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp văn chương của
Nguyên Hồng:
- Tập truyện ngắn: Bảy Hựu (1940), Hai dòng sữa (1943), Địa ngục và lò
lửa (1946) Giữ thóc (1956)
- Tiểu thuyết: Bỉ vỏ (1938), Quán Nải (1942), Hơi thở tàn (1944), Cửa
biển-3 tập (1961-1973), Thù nhà nợ nƣớc (1981), Núi rừng Yên Thế- tập 1
(1983)
- Thơ: Trời xanh (1960)
- Hồi kí- bút kí: Những ngày thơ ấu (1940), Đất nƣớc yêu dấu (1949),
Bƣớc đƣờng viết văn (1971), Một tuổi thơ văn (1973), Những nhân vật ấy đã
"; và có một Nguyên Hồng với bút pháp viết truyện vừa hiện thực vừa lãng mạn.
Trong sự nghiệp sáng tác dồi dào của Nguyên Hồng, truyện ngắn có một vị
trí quan trọng không thua kém gì so với các tác phẩm tiểu thuyết của ông. Gần nửa
thế kỉ sáng tạo nghệ thuật, ông đã cho ra đời 7 tập truyện ngắn: Bảy Hựu (1940),
Hai dòng sữa (1943), Miếng bánh (1945), Ngọn lửa (1945), Địa ngục và lò lửa
(1946), Giữ thóc (1956) và Tuyển tập truyện ngắn 1983-1985. Trong đó, những
truyện ngắn được viết trước năm 1945 được bạn đọc yêu mến và được giới nghiên
cứu phê bình đánh giá cao.
Truyện ngắn Nguyên Hồng trước Cách mạng có sự kết hợp hài hòa giữa chất
hiện thực và lãng mạn , thể hiện tấm lòng thương cảm của nhà văn đối với những
kiếp người cùng khổ và niềm tin mãnh liệt vào những phâm chất tốt đẹp của con
người lao động chân chính.Trong từng trang viết của ông, người đọc vừa có thể
nhận thức được hiện thực cuộc sống của người dân Hải Phòng trước Cách mạng,
lại vừa dễ dàng nhận ra tình cảm dạt dào sôi nổi của nhà văn đối với cuộc sống cần
lao và những nhân vật dưới đáy xã hội. Nhiều truyện ngắn của Nguyên Hồng được
viết với một bút pháp hiện thực tỉnh táo. Đọc các truyện: Đây bóng tối, Láng, Vực
thẳm, Ngƣời con gái chúng ta có thể cảm nhận được cuộc sống bi thảm, tối tăm
của những kiếp người cùng khổ trong xã hội cũ. Ngòi bút nhà văn không ngần ngại
vạch trần những chi tiết tỉ mỉ, trần trụi của đời sống cần lao. Cũng có khi tác giả
giấu mình đi, sử dụng một lối văn trần thuật khách quan để người đọc tự cảm nhận
và đưa ra những nhận định riêng về nhân vật và tác phẩm.
Một số truyện như Những mầm sống, Cuộc sống tràn đầy âm hưởng trữ
tình lãng mạn nhưng không phải là thứ lãng mạn thoát li tiêu cực như một số tác
phẩm của Tự lực Văn đoàn, mà đó là chất thơ toát ra từ đời sống lao động, một chủ
nghĩa lãng mạn cách mạng bắt nguồn từ một niềm tin lí tưởng- niềm tin đối với
con người và cuộc sống.
Truyện ngắn của Nguyên Hồng còn thể hiện tính chiến đấu, được biểu hiện
qua những thủ pháp nghệ thuật tương phản, trong việc xây dựng kết cấu và hệ
thống hình tượng nghệ thuật.Đó là sự đối lập giữa hai kiểu người, hai lối sống, một
bên là lòng nhân hậu, sự thủy chung và một bên là sự hưởng thủ ích kỉ, thói độc ác
vừa độc đáo vừa gần gũi với đời sống tinh thần, tình cảm của nhân dân lao động.
1.2. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƢỜI
1.2.1. Quan điểm nghệ thuật của Nguyên Hồng
“Quan niệm nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật học, nó gắn bó với quan
niệm thế giới quan, triết học, xã hội học về con người và thế giới nói chung, nhưng
tự bản thân nó đã là một “ý thức hệ” đặc biệt gắn liền với miêu tả nghệ
thuật” (Phan Cự Đệ). Như vậy, cái thúc đẩy sức sáng tạo nghệ thuật chính là quan
niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người thể hiện sự thống nhất giữa hiện thực
được phản ánh và năng lực cắt nghĩa, lý giải nghệ thuật của nhà văn. Ứng với một
quan niệm về cuộc đời và con người là một thế giới nghệ thuật tồn tại ngay trong
khám phá của nhà văn. Trên cơ sở quan niệm nghệ thuật đã hình thành trước trong
tư duy, trong cảm xúc, tác giả có thể lựa chọn và xây dựng những hình tượng nghệ
thuật khác nhau. Và mỗi hình tượng nghệ thuật như vậy trong những tác phẩm
khác nhau của cùng một tác giả lại gặp nhau ở cùng một điểm dưới sự chỉ đạo của
quan niệm nghệ thuật của tác giả. Mỗi nhà văn lớn đều có một quan niệm về nghệ
thuật và cuộc đời của riêng mình. Chính điều này chi phối quá trình thai nghén tác
phẩm và phong cách nghệ thuật của nhà văn, đồng thời giúp độc giả xác định được
mức độ chiếm lĩnh con người của hình tượng văn học và sự đóng góp tích cực của
hiện tượng văn học đó vào lịch sử văn học cũng như vào sự phát triển nhân cách
con người.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình công giáo đang trong thời kì sa sút,
Nguyên Hồng không có điều kiện để theo học lên những bậc cao. Nhưng bù lại,
ông đã sớm bắt rễ được vào cuộc đời của những con người nghèo khổ. Thời thơ ấu
lam lũ và cực khổ đã dạy cho Nguyên Hồng biết yêu thương những con người
cùng cảnh ngộ. Cúng chính vì họ mà Nguyên Hồng đã sớm cầm bút để viết nên
những trang văn ca ngợi và bênh vực cho những con người lao động chân chính.
Nguyên Hồng viết văn trước hết là để khẳng định sự tồn tại của mình với
cuộc đời. Ông tự ý thức:
"Cần thiết đối với tôi là tôi phải viết, viết ra thành chữ tất cả những gì chứa
đựng, nung nấu, quằn quại, đau xót, và bay bổng, và bát ngát của tâm hồn, của suy
hiện thực đã có sự gặp gỡ kết hợp với tinh thần nhân đạo tha thiết. Tấm lòng yêu
thương những con người nghèo khổ trong xã hội cũ như đám thợ thuyền, phu phen,
những người phụ nữ góa bụa, những kẻ lưu manh tội lỗi, đám trẻ mồ côi lang thang
đã thôi thúc ông cầm bút viết về họ bằng một tình cảm da diết, mãnh liệt và thường
trực của tâm hồn.
Quan điểm nghệ thuật tiến bộ của Nguyên Hồng có sự gặp gỡ với các nhà
văn cùng thời . Thạch Lam, một nhà văn trong Tự Lục văn đoàn, là nhà văn lãng
mạn, nhưng quan điểm của ông về vai trò tác dụng của văn chương đối với con
người và xã hội lại rất tích cực. Quan điểm sau đây có thể coi là tuyên ngôn nghệ
thuật của ông:
“Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự
thoát li hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực
mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi 1 cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm
cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”.
Quan niệm nghệ thuật của Nguyên Hồng có nhiều nét gần gũi với quan niệm
về văn chương nghệ thuật của Nam Cao, cả hai ông đều là những đại diện xuất sắc
của dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945.Cũng giống như Nguyên Hồng,
trong cuộc đời cầm bút của mình, Nam Cao luôn suy nghĩ về “sống và viết”. Lúc
đầu, ông chịu ảnh hưởng khá rõ văn học lãng mạn nhưng dần dần nhà văn nhận ra
thứ văn chương đó rất xa lạ với đời sống lầm than của đông đảo quần chúng nhân
dân và “những cái buồn thường sớm nhường chỗ cho những cái lo”. Hơn nữa,
Nam Cao không thích sự vuốt ve,mơn trớn: “nghệ thuật không phải là ánh trăng
lừa dối”. Đến với nghệ thuật hiện thực là cả một quá trình đấu tranh gian khổ
nhưng dứt khoát. Truyện ngắn Trăng sáng được xem là một tuyên ngôn nghệ
thuật của ông. Nó đánh dấu một bước chuyển biến trong nhận thức tư tưởng cũng
như quan điểm nghệ thuật của Nam Cao.
Trăng sáng đã thể hiện sinh động tâm trạng đấu tranh day dứt của một nhà
văn giữa hai con đường: mơ mộng và thực tế, lãng mạn và hiện thực, để rồi đi đến
khẳng định sức mạnh của văn học nghệ thuật chính là bắt nguồn từ đời sống và
phục vụ đời sống :
cái Tâm thì nhà văn đó không thể tái hiện được cuộc sống , con người và cuộc đời.
Trong cuộc đời viết văn đầy tin tưởng và say mê của mình, Nguyên Hồng
luôn tự nhắc nhở :
" không được bằng lòng với chính mình, không được cho phép mình gian dối
và phải không ngừng trau dồi vốn sống".
Cũng chính vì quan niệm nghệ thuật văn chương đúng đắn mà văn Nguyên
Hồng luôn" ngồn ngộn chất sống", ông chủ trương cho cuộc sống ùa vào trang viết
của mình một cách thật tự nhiên, chân thực với tất cả sự ồn ào, náo nhiệt và hỗn
độn như nó vốn có.Cũng chính vì vậy mà từ những truyện ngắn, tiểu thuyết đầu tay
như Linh hồn, Bỉ vỏ…cho đến bộ tiểu thuyết Cửa biến sau này,Nguyên Hồng
luôn có sự nhất quán về tư tưởng nghệ thuật, đó cũng chính là sự nhất quán trong
con đường nghệ thuật mà ông đã chọn: từ một nhà văn hiện thực trở thành một nhà
văn cách mạng.
1.2.2. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời
Quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố cơ bản nhất, then chốt nhất của
một chỉnh thể nghệ thuật chi phối toàn bộ tính độc đáo và hệ thống nghệ thuật của
chỉnh thể ấy. Quan niệm về con người giúp ta thâm nhập vào cơ chế tư duy của
văn học, khám phá quy luật vận động, phát triển của hình thức (thể loại, phong
cách) văn học. Đó chính là nội dung ẩn chứa bên trong mỗi tác phẩm biểu hiện.
Theo GS. Trần Đình Sử trong giáo trình Dẫn luận thi pháp học (1998) thì:
"Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lí giải, cảm thụ và miêu
tả con người trong nghệ thuật", là sự lí giải, cắt nghĩa, cảm thấy con người đã
được hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức biểu hiện
con người trong văn học tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho hình tượng
nhân vật trong đó. Nó mở ra một hướng khác, nó hướng người ta khám phá, phát
hiện cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể ngay cả khi miêu tả
con người giống hay không giống với đối tượng có thật. Nó cũng là sản phẩm của
văn hoá, tư tưởng. “Quan niệm con người là hình thức đặc thù nhất cho sự phản
ánh nghệ thuật, trong đó thể hiện sự tác động qua lại của nghệ thuật với hình thái
ý thức xã hội khác”.