Đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn viết về thiếu nhi của Ma Văn Kháng - Pdf 29


1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2


NGUYỄN THU HÒA

ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN VIẾT THIẾU
NHI CỦA MA VĂN KHÁNG

CHUYÊN NGÀNH : LÍ LUẬN VĂN HỌC
Mã số : 60 22 0

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa hoc:
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC THIỆN
HÀ NỘI, 2012

2

LỜI CẢM ƠN



Nguyễn Thu Hòa

4

MỤC LỤCTrang
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
6. Phương pháp nghiên cứu 7
7. Đóng góp của luận văn 7
8. Cấu trúc luận văn 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HỌC THIẾU NHI
THỜI KỲ ĐỔI MỚI 8
1.1. Thiếu nhi 8
1.1.1. Quan niệm về thiếu nhi 8
1.1.2. Đặc trưng lứa tuổi thiếu nhi. 9
1.2. Sự phát triển của văn học thiếu nhi thời kỳ đổi mới 15
1.3. Quan niệm của Ma Văn Kháng về văn học nói chung và văn học
thiếu nhi nói riêng 22
CHƯƠNG 2. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG
TRUYỆN VIẾT VỀ THIẾU NHI CỦA MA VĂN KHÁNG 26
2.1. Khái niệm về nhân vật 26
6

MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tài
1.1. Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn có công đầu tiên mở
đường cho sự nghiệp đổi mới văn học. Vào những những năm đầu 80 của thế
kỷ XX, nhiều sáng tác của Ma Văn Kháng “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự
thật” từ đó tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn văn học.
Ông cũng là một trong số các nhà văn Việt Nam hiện đại sáng tác thành công
ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Qua từng tiểu thuyết, truyện
ngắn, Ma Văn Kháng không ngừng tìm kiếm những cách thể hiện mới. Thời
gian và kinh nghiệm nghệ thuật đã tôi luyện ngòi bút Ma Văn Kháng khiến
ông luôn gặt hái được những thành tựu đáng kể.
Ma Văn Kháng là nhà văn viết nhiều và viết khỏe. Từ truyện ngăn đầu
tay Phố cụt đăng trên báo văn nghệ năm 1961, cho đến nay Ma Văn Kháng
có đến 20 tập truyện ngắn, 15 cuốn tiểu thuyết và 4 truyện viết cho thiếu nhi.
Những tập truyện ngắn viết về đề tài miền núi như: Xa Phủ (1969), Bài ca
trăng sáng (1972), Góc rừng xinh xắn (1972), Người con trai họ Hạng
(1972), Mùa mận hậu (1972), Cái móng ngựa (1973) đã khẳng định tài năng,
tâm huyết của nhà văn và góp phần làm cho bức tranh hiện thực được phản
ánh trong nền văn học hiện đại Việt Nam trở nên phong phú, đa dạng.
Không chỉ thành công ở truyện ngắn, Ma Văn Kháng còn rất thành
công ở thể loại tiểu thuyết. Từ Gió rừng (1976), Đồng bạc trắng hoa xòe
(1978), Mùa lá rụng trong vườn ( 1982), Vùng biên ải (1983) đến Đám cưới
không có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989), Bóng đêm
(2011), Bến bờ (2012) … tên tuổi của Ma Văn Kháng càng được đông đảo

ngũ viết cho các em đã được hình thành và ngày càng được bổ sung thêm
nhiều cây bút tâm huyết, do đó, số lượng tác phẩm cũng như đề tài phản ánh
ngày càng phong phú, đa dạng. Dấu hiệu đáng mừng là nhiều tác phẩm đã thể
hiện cái nhìn mới mẻ trong sáng tác văn học dành cho thiếu nhi, lứa tuổi đang
cần sự chăm sóc nuôi dưỡng về tình cảm, trí tuệ và tinh thần. Văn học là cái
nôi phát triển nhân cách sâu sắc, hiệu quả qua từng lời văn nghệ thuật. Đối với

8

bất kỳ ai, tuổi thơ đi qua đều tìm thấy trong lời thơ câu văn những bài học đầu
đời. Nhà văn Ma Văn Kháng có nhiều tác phẩm viết về thiếu nhi từ những câu
chuyện hàng ngày, truyền thống gia đình đến yêu nước chống giặc…Tác giả
đã dành nhiều thời gian viết nên những tác phẩm hay về thiếu nhi.

1.3. Lâu nay đã có khá nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về Ma
Văn Kháng và các tác phẩm của ông. Nhưng hầu hết là các đánh giá, nhận
định chung về từng tác phẩm cụ thể, về hình tượng nghệ thuật, thậm chí là
khen chê một tác phẩm hoặc một khía cạnh nào đó của tác phẩm viết cho
người lớn ngay khi nó mới ra đời. Với các công trình nghiên cứu công phu
như các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ tuy đã hướng vào những khía cạnh
chuyên biệt như: Kiểu nhân vật, đặc trưng thể loại, cảm hứng nghệ thuật
hoặc những dấu hiệu đổi mới văn học qua sáng tác của ông và một số nhà
văn tiêu biểu cùng thời, nhưng việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá
đặc sắc nghệ thuật trong truyện viết về thiếu nhi thì vẫn còn bỏ ngỏ.
Với những lí do trên
,
chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu
khoa học: “Đặc sắc nghệ thuật trong truyện viết về thiếu nhi của Ma Văn
Kháng”
.

của Ma Văn Kháng, 2006; luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Huệ - Những dấu
hiệu đổi mới trong văn xuôi của Việt Nam từ 1980 đến 1986 - Qua bốn tác
giả: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn,
2000; luận văn của Phạm Mai Anh - Đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng,
1997; Lê Thanh Ngọc - Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Ma Văn
Kháng sau 1975, 2004; Đỗ Phương Thảo - Nghệ thuật tự sự trong sáng tác
của Ma Văn Kháng, 2006…
2.2. Những công trình nghiên cứu về tác phẩm viết về thiếu nhi của Ma
Văn Kháng
Về thể tài văn học thiếu nhi của Ma Văn Kháng cho đến nay cũng chỉ
thấy thưa thớt vài bài đánh giá phê bình trên các báo hoặc trang Web.
Trong bài viết Một vài suy nghĩ khi đọc Côi cút giữa cảnh đời của Ma
Văn Kháng, tác giả Vũ Thị Oanh đã cho rằng: Côi cút giữa cảnh đời - cuốn
sách viết theo đề nghị cho lứa tuổi sắp vào đời ,không đề cương, không hợp
đồng, được xuất bản bởi sự hợp tác của Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà
xuất bản Văn học là một cuốn sách như thế… Đặc biệt viết cho lứa tuổi sắp

10
vào đời nhưng tác giả không hề né tránh cái xấu, cái ác; những yếu tố tồn
tại khách quan làm rõ thêm bức tranh cuộc sống với những cuộc đấu tranh
thể hiện ở nhiều bình diện, sắc thái khác nhau. Đó là cuộc đấu tranh giữa
cái thiện và cái ác…Tất cả được thể hiện bằng ngòi bút mềm mại, uyển
chuyển, ngôn ngữ hóm hỉnh, phong phú sắc màu, kết cấu có hậu kiểu truyện
cổ dân gian của tác giả Ma Văn Kháng
Giáo sư Phong Lê trong cuốn Vẫn chuyện Văn và Người - Nhà xuất
bản Văn hóa thông tin năm 1989 cho rằng: Côi cút giữa cảnh đời - viết cho
lứa tuổi thiếu nhi,cuốn sách đã vục vào cái sự thật tối tăm oan khổ đó như
nhiều cuốn sách khác. Nó thật lạ, anh lại đưa con người vào quĩ đạo những
tình cảm nhân hậu tốt lành. Có thể nói đó là hiệu quả thanh lọc này vốn
dành cho nghệ thuật và dường như cũng chỉ có nghệ thuật đích thực, nghệ

Củng cố kiến thức lí luận, có cơ hội rèn luyện kỹ năng, phương pháp
nghiên cứu tác giả.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu ở một số phương diện: Nghệ thuật xây dựng nhân vật,
ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật trong một số cuốn tiểu thuyết của Ma
Văn Kháng
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài luận văn của chúng tôi có tên: Đặc sắc nghệ thuật trong
truyện viết về thiếu nhi của Ma Văn Kháng, nên đối tượng nghiên cứu của
luận văn tập trung vào một số cuốn tiểu thuyết tiêu biểu: Côi cút giữa cảnh
đời, Chó Bi đời lưu lạc để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu tìm hiểu một số vấn đề chính: Thế giới nhân vật, ngôn
ngữ nghệ thuật và giọng điệu nghệ thuật trong sáng tác viết về thiếu nhi của
Ma Văn Kháng. Hy vọng luận văn sẽ đóng góp một cái nhìn toàn diện về
những cống hiến của ông đối với dòng văn học đương đại Việt Nam

12
6. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp:
6.1. Phương pháp hệ thống
6.2. Phương pháp phân tích tổng hợp
6.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng thêm các
phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp nghiên cứu xã hội học,
phương pháp nghiên cứu tiểu sử…
7. Đóng góp của luận văn

đồng” [39,tr.944], đó là những em nhỏ đang ở lứa tuổi sống trong sự dìu dắt
nâng niu của gia đình và xã hội. Lứa tuổi này còn có nhiều tên gọi khác nữa
như: “mục đồng”, “các em”, “tuổi thơ”, “măng non”, “tuổi nhi đồng” hay
“lớp công dân nhỏ tuổi” (Tố Hữu). Trong các tên gọi trên, khái niệm thiếu
nhi được sử dụng nhiều, được dùng nhiều trong giao tiếp hàng ngày, dùng
rộng rãi trong các văn bản liên quan đến trẻ em và trong các sáng tác thơ văn
dành cho lứa tuổi này.
Trong sáng tác của mình, Bác gọi các em bằng những tên gọi trìu mến
thân thương như: trẻ em ( Trẻ em là búp trên cành / Biết ăn biết ngủ biết học
hành là ngoan ), nhi đồng ( Đêm nay trăng sáng như gương / Bác Hồ ngắm
cảnh nhớ thương nhi đồng ) hay thiếu nhi ( Lời kêu gọi thiếu nhi ), trẻ chăn
trâu ( Trẻ chăn trâu ).
Tìm hiểu về khái niệm thiếu nhi, có thể hiểu “trẻ em” theo nhiều cách
khác nhau. Một đứa trẻ có nhiều đặc điểm không giống với người lớn, chẳng
hạn như về: cơ thể, tư tưởng, tình cảm… Vì sự khác biệt này mà có quan
niệm cho rằng: trẻ em là người lớn thu nhỏ, nghĩa là trẻ chỉ khác người lớn ở
tầm cỡ kích thước. Tuy nhiên từ thế kỷ XVIII nhà giáo dục học lỗi lạc G.G.
Rutxo (1772 -1778 ) đã đưa ra ý kiến khác về trẻ em là trẻ em có những cách
nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận của riêng nó. Ông cho răng trẻ em không
phải là người lớn thu nhỏ lại, và người lớn không phai lúc nào cũng có thể
thấu hiểu được nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ thơ.

14
Theo những nhà nghiên cứu tâm lý học thuộc trường phái duy vật biện
chứng thì: “trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại. Sự khác nhau giữa
trẻ em và người lớn là sự khác nhau về chất. Trẻ em là trẻ em, nó vận động
và phát triển theo quy luật của trẻ em. Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời,
đứa trẻ đã là một con người, một thành viên của xã hội” [11,tr.9].
Ý nghĩa và tầm quan trọng khi một đứa trẻ đến với thế giới này thực
sự là điều kì diệu. Lịch sử loài người đã phát triển qua một chặng đường dài,

• Giai đoạn tuổi đi học:
+ Tuổi học Tiểu học: Từ 6 đến 11 tuổi.
+ Tuổi học Trung học cơ sở: Từ 11 đến 15 tuổi.
+ Tuổi học trung học phổ thông: Từ 15 đến 18 tuổi.
Nhìn vào lứa tuổi phát triển của các em, chúng ta có thể hiểu rằng: Ở
mỗi thời kỳ lứa tuổi thiếu nhi đều có những điểm khác nhau về thể chất, tâm
lý. Những điều đó là cơ sở hình thành nên sở thích, nhận thức cho các em.
Thiếu nhi là lứa tuổi cần sự chở che, bao bọc của gia đình và xã hội.
lứa tuổi bé bỏng, thơ ngây nên trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà
tâm lý học, giáo dục học. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, tác giả Đạm
Phương đã có những nghiên cứu về tâm lý của trẻ. Bà đã say mê nghiên cứu
những thay đổi về thể chất và tâm hồn trẻ em mà theo bà, việc làm này ở
Việt Nam bắt đầu thế là muộn. Một thế hệ trẻ khỏe mạnh, thông minh kế tục
sự nghiệp xây dựng đất nước là mong muốn của tất cả mọi người, điều đó
càng chứng tỏ nghiên cứu tâm lý lứa tuổi là việc làm cần thiết. Hiểu rõ về trẻ
em, nghĩa là có thể tiếp cận tâm hồn và suy nghĩ của các em một cách khoa
học. Trong cuốn sách Giáo dục nhi đồng, bà Đạm Phương cho rằng: “Thân
thể và tâm hồn trẻ thơ có một tính chất tạm thời chờ một sự phát triển, chờ
một sự chuyển biến, một sự đào luyện. Thân thể trẻ em có sự mong manh,
tạm thời giống như mầm non mới chớm nở, dễ héo tàn. Muốn gây dựng cái
mầm non ấy cần phải săn sóc rất công kỹ chuyên cần” [34,tr.24]. Như vậy
tác giả Đạm Phương đã đề cập đến sự mong manh non nớt của trẻ thơ. Đặc
điểm của các em là không chỉ ngây thơ về trí tuệ, mà còn bé bỏng về cơ thể .

16
Điều dễ nhận thấy ở trẻ em là các em không thể sống tách rời người lớn, các
em rất cần sự chăm sóc của gia đình và xã hội.
Tâm hồn và thể chất của trẻ gắn bó với nhau chặt chẽ. Các em cần
được nuôi dưỡng bằng những bữa ăn đầy đủ dưỡng chất, đồng thời cũng cần
được sửa ấm tâm hồn bằng những lời ru, bằng những câu chuyện bổ ích lí

tưởng tượng, phân biệt cái Thiện, cái Ác. Đối với các em ở lứa tuổi phổ
thông trung học, ngưỡng thiếu niên trôi qua. Các em không còn là cậu bé, mà
đã trở thành những chàng trai cô gái khôn lớn trưởng thành.
Với những đặc thù riêng của thể loại truyện viết về thiếu nhi, phạm vi
luận văn này xin nêu lên những đặc điểm tâm lý của lứa tuổi thiếu niên nhi
đồng. Đây là lứa tuổi có những biểu hiện tâm lý rất nhậy cảm, là thời kỳ hình
thành c ác em nhiều sở thích, tình cảm và suy nghĩ. Tác phẩm văn học vì thế
mà có sự tác động mạnh mẽ vào lứa tuổi này.
Tâm - sinh lý nhi đồng là những trẻ em ở thời kỳ từ 3 đến 11 tuổi. Ở
lứa tuổi này, các em đã có thói quen thích quan sát cuộc sống. các em thích
đưa ra nhiều câu hỏi, câu này nối tiếp câu kia. Sự giải thích của người lớn có
ý nghĩa quan trọng, bởi các em sẽ nhớ, sẽ mang theo ngay cả khi đã trưởng
thành. Có hai điều cần lưu ý khi tìm hiểu về tâm lý các em nhi đồng. Thứ
nhất là ý thức không liên tiếp, thứ hai là trí tưởng tượng rất mạnh mẽ. Khả
năng quan sát của các em thường không xuyên suốt một vấn đề, khi các em
đang tập trung một vấn đề nào đó mà bỗng có sự xuất hiện một vấn đề khác,
lập tức thu hút các em ngay. Biểu hiện này thường thấy ở trẻ nhỏ lứa tuổi
mầm non. Quan sát trẻ đang vui chơi, có thể nhận thấy bé không bao giờ
chơi một thứ đồ chơi trong khoảng thời gian dài. Trí tưởng tượng mạnh là
tâm lý thường thấy ở trẻ lứa tuổi nhi đồng. Bởi các em luôn được nghe kể
nhiều câu chuyện cổ tích vào thời kì này. Dường như sau mỗi câu chuyện,
các em như cảm nhận được ông Bụt hiền từ, cô Tiên xinh đẹp đang ở đâu
đây, thật gần….
Theo Phạm Minh Lăng: “Các câu chuyện cổ tích thường có ý nghĩa
và có rất nhiều vấn đề nảy sinh trong tâm hồn trẻ thơ. Cứ được nghe đi nghe

18
lại mỗi chiều tối các em còn thấy được những khó khăn cần vượt qua”
[22,tr.139]. Lời khẳng định của nhà tâm lý học Phạm Minh Lăng cho thấy
khả năng độc lập của các em bắt đầu hình thành. Qua những truyện kể về

tuổi thiếu niên, tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, các em biết
lập luận giải quyết vấn đề một cách có căn cứ. Các em không dễ tin như lúc
nhỏ mà nhiều khi đòi hỏi phải chứng minh có căn cứ rồi mới tiếp thu”
[11,tr.37].
Điều quan trọng là các em nghĩ mình đã lớn “Cảm giác về sự trưởng
thành của bản thân là nét đặc trưng trong nhân cách thiếu niên, vì nó biểu
hiện lập trường sống mới của thiếu niên đối với mọi người và thế giới xung
quanh” [8,tr.38]. Các em thấy được sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể và sức
lực của mình, các em thấy tầm hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo của mình được mở
rộng. Từ đó các em bắt đầu hình thành những sở thích và suy nghĩ độc lập.
Nghiên cứu về lứa tuổi này, chúng tôi hiểu “Đặc trưng của tuổi thiếu
niên là tinh thần phiêu lưu” [11,tr.294]. Các em muốn khẳng định bản thân,
trong gia đình và trong lớp học… Với các em, cảm thấy mình đã lớn thật sự
là điều có ý nghĩa. Hiện tượng dậy thì là dấu hiệu đặc trưng của lứa tuổi này.
Nhà tâm lý học Nguyễn Ánh Tuyết nhận định khi tìm hiểu tâm lý trẻ
em “Có lẽ trên thế gian này có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu các tính.
Trẻ em cũng vậy, mỗi em bé là một con người riêng biệt. Mỗi em bé sẽ lớn
lên thành người theo một con người riêng và sống một cuộc đời riêng của
mình với những đặc điểm mà chỉ riêng mình mới có” [41,tr.69]. Đó là điều
làm nên sự phong phú trong thế giới trẻ thơ, vì vậy để hiểu và nắm bắt tâm lý
trẻ là quá trình không đơn giản. sáng tác văn học cho các em cũng thế. Người
viết truyện cho thiếu nhi bên cạnh tài năng văn chương, còn phải gần gũi và
hiểu những đặc điểm lứa tuổi của các em.
Theo Hà Vỹ “Dù muốn hay không không muốn tính giáo dục của văn
chương đối với trẻ em cũng có quy luật của nó như tất cả các sự vật quanh
ta. Đó là quy luật thăm dò, khai thác cái tiềm năng tâm lý - mà cái tiềm năng
cũng do thời đại tạo ra nó - của trẻ biến nó thành hiện thực: ra hoa, kết trái

20
cho đời quả ngọt trái thơm, bằng cách đem lại cho trẻ em những gì cao đẹp

truyện về tình người giữa con người với thiên nhiên và động vật đầy chất thơ
và ảm động với Người đi săn và và con sói lửa, Con báo vàng, Đồi sói hú,
người cứu hổ… Có những nhà văn lớp cũ hầu như cả đời chỉ viết cho người
lớn, bây giờ lại đến với các em. Chính vì thế, sáng tác đầu tay của họ dành
cho thiếu nhi lại là tác phẩm đáng giá. Đó là: Phùng Quán, Duy Khán… Tuy
nhiên, bên cạnh đó cũng có những người chững lại: Võ Quảng , Đoàn Giỏi…
Đặc biệt đầu những năm 1990, đội ngũ sáng tác cho các em được bổ
sung thêm nhiều cây bút trẻ như: Trần Thiên Hương, Lê Cảnh Nhạc, Nguyễn
Nhật Ánh, Nguyễn Trí Công, Hà Lâm Kỳ, Quách Liêu, Phan Hồn
Nhiên…(truyện) và Phùng Ngọc Hùng, Trương Hữu Lợi, Dương Thuấn, Mai
Văn Hai…(thơ). Tiếp nữa là những cây bút không chỉ “trẻ” tuổi nghề mà
còn rất “trẻ” tuổi đời như: Hoàng Dạ Thi, Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn
Thị Châu Giang, Thu Trân, Quế Hương, Nguyễn Thúy Loan; và quãng đầu
những năm 2000 là hiện tượng Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Lãm Thắng…
Lớp người viết trẻ này tuy chưa có nhiều sự từng trải và những tích lũy, kinh
nghiệm, nhưng bù lại, họ có cái mới mẻ, hiện đại, có cái táo bạo, mạnh rạn
trong sự tìm tòi. Chính họ đã đem đến cho truyện thiếu nhi những nét mới trẻ
trung, tươi tắn, đầy nhiệt huyết. Trong số đó có những người đã sớm hình
thành phong cách ngay từ đầu.
Một lực lượng nữa cũng góp phần làm phong phú thêm cho đội ngũ
sáng tác văn học thiếu nhi, đó là chính các em. Có thể thấy rõ điều này qua
các tác phẩm “Tuổi xanh”, tác phẩm trên các báo Tiền phong, thiếu niên Hoa
học trò, Mực tím, Văn tuổi thơ…
Nhìn chung, đội ngũ sáng tác truyện cho các em ở giai đoạn này đã có
sự phát triển khá hùng hậu. Nó chứng tỏ tính chuyên nghiệp của bộ phận
sáng tác cho các em. Và cũng vì vậy mà chưa bao giờ văn học thiếu nhi Việt
Nam lại phát triển phong phú như ở thời kì này. Sáng tác cho các em ngày
càng có sự mở rộng đề tài cũng như hướng tiếp cận đời sống, tiếp cận trẻ em
và khả năng khám phá con người.



23
Cảnh Nhạc, Ngày xưa của Trần Thiên Hương (truyện); Nhà không có bố của
Nguyễn Thị Mai (thơ) phản ánh.
Sinh hoạt của trẻ em thành phố được các nhà văn quan tâm ở hai
mảng hiện thực: cuộc sống của trẻ em các gia đình khá giả và cuộc sống của
những trẻ nhà nghèo, vừa học vừa phải lo toan kiếm sống, thậm chí “đi bụi”.
Các tác phẩm tiêu biểu ở đề tài này là Kính vạn hoa (Nguyễn Nhật Ánh),
Hoa trên đường phố (Thu Trân), Kiềng ba chân (Đoàn Lư), Ngày khai
trường trong mơ (Kim Hài), Tiếp đạm (Nguyễn Thị Ấm) trong đó Kính
vạn hoa được đánh giá là hiện tượng nổi bật nhất, một bộ sách được xếp
hạng kỷ lục, có số lượng xuất bản vào loại lớn nhất trong lịch sử ngành xuất
bản ở Việt Nam. So với các tác phẩm viết về sinh hoạt của trẻ em thành phố,
các tác phẩm viết về cuộc sống của trẻ em ở nông thôn ít hơn. Ở mảng hiện
thực này, những tác phẩm thơ thường thể hiện niềm vui trong sáng, giản dị
của trẻ em thôn quê như Quả thị đi chơi (Nguyễn Hoàng Sơn), Bờ ve ran
(Mai Văn Hai), Làng em có điện (Lê Bính), Làng em buổi sáng (Nguyễn
Đức Hậu), Ao làng (Nguyễn Thị Thanh), Con trâu (Thanh Thản), Nhà bác
trống tía (Nguyễn Ngọc Hưng) trong khi các tác phẩm văn xuôi lại đề cập
tới những số phận, những cảnh đời cụ thể, đượm buồn của con người sống ở
nông thôn, như Nước mắt ngày tựu trường và Thành hoàng quê ngoại của
Đào Hữu Phương, Tiếng nói người mẹ câm và Lời ru không bán của Lê
Cảnh Nhạc…
Đề tài miền núi ngày càng phát triển và ghi nhiều thành tựu. Trước năm
1975 đã từng có những tác phẩm viết về đề tài này như Kim Đồng, Vừ A Dính
của Tô Hoài, Hai làng Ta Pình và Động Hía của Bắc Thôn, Năm thứ nhất của
Minh Giang, Chim én của ma Văn Kháng… Có thể nói, viết về những sinh
hoạt của trẻ em miền núi trong cuộc sống mới, trong nhu cầu được phát triển,
hòa nhập với thiếu nhi cả nước là một đề tài thu hút nhiều cây bút trẻ với các
tác phẩm tiêu biểu: Y Leng (Đào Vũ), Kỷ vật cuối cùng (Hà Lâm Kỳ), Một lớp

hoa vàng trên cỏ xanh và Lá nằm trong lá…Nguyễn Nhật Ánh đã thể hiện
sức viết bền bỉ của mình

25
Một số tác phẩm được giải cao liên tiếp của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc
Thuần đã thu hút bạn đọc. Đó là Giăng giăng tơ nhện (giải ba cuộc vận động
Sáng tác văn học tuổi 20 năm 2000), Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (giải A
cuộc thi sáng tác văn học Vì tương lai đất nước lần thứ ba 2001-2002), Một
thiên nằm mộng (giải A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi 2001-2002).
Nguyễn Ngọc Thuần có lối viết không mới mà vẫn lạ. Anh lôi cuốn người đọc
ở giọng văn trong trẻo với cái nhìn hồn nhiên, đầy sự ngạc nhiên thơ trẻ. Thế
giới xung quanh rất quen thuộc qua con mắt của anh bỗng trở nên sống động,
tinh khôi, trong vắt và đầy yêu thương. Nguyễn Ngọc Thuần được coi là hiện
tượng của văn học thiếu nhi Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX
Nhà thơ trẻ Nguyễn Lãm Thắng với 1008 bài thơ thiếu nhi đã thực sự
chinh phục được bạn đọc. Đó là những vần thơ đầy tâm huyết dành riêng cho
con trẻ của anh. Tập thơ viết về nhiều đề tài nhưng tất cả đều gần gũi với trẻ
thơ. Có thể thấy trong thơ anh hình ảnh của một tuổi thơ êm đềm, giản dị.
Không cầu kì kiểu cách mà chân thật đơn sơ, mỗi vần thơ viết cho thiếu nhi
của anh là sự hòa quyện giữa tình yêu thương trìu mến và sự mộc mạc chân
thành. Trong trẻo và hồn nhiên, thơ thiếu nhi Nguyễn Lãm Thắng khiến
người đọc cảm nhận sự gần gũi, tựa như lời thơ ý thơ cứ đi thẳng từ tấm lòng
người viết mà giãi bày trên trang giấy. Trong thơ anh, sức mạnh của truyền
thống kết hợp với cách nhìn, cách cảm của trẻ thơ tạo ra một dấu ấn đặc biệt.
Có lẽ đó cũng là một lí do quan trọng để nhiều bài thơ thiếu nhi của anh (hơn
ba mươi lăm bài) đã được phổ nhạc, trở thành những bài hát với giai điệu vui
tươi, trong sáng dễ gần với tuổi thơ như Cháu vẽ, Mưa xuân, Mời bạn về
thăm xứ Huế, Chợ Xuân (Quỳnh Hợp phổ nhạc) và Cô tập em viết, Màu ước
mơ, Bài hát thầy dạy, Ông trăng ơi, Mẹ ơi con ngủ, Lồng đèn, Quạt bà quạt
bố, Mùa xuân đã về, Nơi tuổi thơ em ( Trương Pháp phổ nhạc)…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status