BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------
NGÔ THỊ KIM NGUYÊN
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI TÌNH YÊU
CỦA PHẠM THỊ HOÀI, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, PHAN THỊ VÀNG ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------
NGÔ THỊ KIM NGUYÊN
NGHÊ THUẬT TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI TÌNH YÊU
CỦA PHẠM THỊ HOÀI, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, PHAN THỊ VÀNG ANH
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số
:
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .......................................................................................... 3
MỤC LỤC ................................................................................................ 4
DẪN NHẬP .............................................................................................. 6
1.Lí do chọn đề tài ................................................................................................... 6
2. Lịch sử vấn đề ...................................................................................................... 7
3. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................ 12
4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................. 13
5. Những đóng góp của luận văn.......................................................................... 14
6. Kết cấu của luận văn ......................................................................................... 14
CHƯƠNG 1: CHỦ THỂ TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
VIẾT VỀ ĐỀ TÀI TÌNH YÊU CỦA PHẠM THỊ HOÀI, NGUYỄN
THỊ THU HUỆ, PHAN THỊ VÀNG ANH ......................................... 16
1.1. Chủ thể trần thuật và các hình thức xuất hiện chủ thể trần thuật trong tác
phẩm tự sự ............................................................................................................. 16
1.1.1. Khái niệm chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự ....................................... 16
1.1.2. Các hình thức xuất hiện của chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự........ 19
1.2. Chủ thể trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị
Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh.............................................. 24
1.2.1. Chủ thể trần thuật ngôi thứ ba – khách quan - chủ quan hóa trong truyện
ngắn viết về đề tài tình yêu của ba nhà văn .............................................................. 27
1.2.2. Chủ thể trần thuật ngôi thứ nhất xưng “tôi” – chủ quan hóa trong truyện
ngắn viết về đề tài tình yêu của ba nhà văn .............................................................. 47
CHƯƠNG 2: KẾT CẤU NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
VIẾT VỀ ĐỀ TÀI TÌNH YÊU CỦA PHẠM THỊ HOÀI, NGUYỄN
THỊ THU HUỆ, PHAN THỊ VÀNG ANH ......................................... 62
1.Lí do chọn đề tài
Sau Đại hội Đảng lần VI (tháng 12/1986), đất nước Việt Nam đã có một cuộc đổi mới
toàn diện từ văn hóa đến xã hội. Văn học Việt Nam thực sự có những bước chuyển mình
mạnh mẽ ngày càng phù hợp với yêu cầu mới của lịch sử. Ở giai đoạn này, theo giới
nghiên cứu phê bình văn học, truyện ngắn được xem là thể loại phát triển rực rỡ nhất
trong văn học sau 1975. Đó là một nền văn học chưa được xem là hình thành, nếu trong
đó truyện ngắn không chiếm một vị trí xứng đáng. [55; tr 34]
Có thế nói, văn học giai đoạn sau 1975 không chỉ phát triển về số lượng mà còn về
chất lượng. Truyện ngắn mấy năm gần đây đang được mùa, có nhiều giọng điệu khác
nhau, nhiều thể nghiệm rất mới, rất khác nhau… [55; tr 34] Sự thức tỉnh ý thức cá nhân
trên cơ sở tinh thần nhân bản là nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo, bao trùm toàn
bộ tác phẩm văn học. Từ đó, văn học giai đoạn này nở rộ nhiều đề tài, chủ đề mới, làm
thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người: con người được phản ánh không còn phiến
diện, một chiều mà biên độ ngày càng được mở rộng, đa dạng, nhiều chiều, nhiều góc
cạnh; cảm hứng nghệ thuật và thi pháp có những đổi mới độc đáo, mới lạ. Trong dòng
chảy đó, có sự đóng góp lớn của ba nhà văn nữ: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và
Phan Thị Vàng Anh.
Đề tài tình yêu, hôn nhân và gia đình là một trong những vấn đề xuất hiện trong văn
học sau 1975 với nhiều sắc màu cùng những chiêm nghiệm mới lạ, khác biệt so với văn
học giai đoạn trước.
Gia đình là đơn vị xã hội, là tế bào xã hội, là nơi con người được sinh ra, trưởng thành
và hoàn thiện với đầy đủ ý nghĩa nhân văn của nó. Mối quan hệ giữa con người với con
người, giữa con người với xã hội, cộng đồng là mối quan hệ gắn bó, khắng khít hữu cơ,
mối quan hệ này sẽ bộc lộ toàn bộ tính chất của xã hội, chất lượng của đời sống và quan
niệm của cả một thời đại, một thế hệ. Trước những biến động của nền kinh tế thị trường,
con người trước tiên chịu ảnh hưởng và chi phối nhiều nhất – có những đổi thay tích cực
và ngược lại cũng có những cái tiêu cực nhất thời, đôi khi đưa con người đến nhiều bi
kịch trong đời sống (tình yêu – hôn nhân) và bế tắc, tuyệt vọng trước áp lực xã hội, gia
đình.
Viết về đề tài tình yêu, gia đình, truyện ngắn của ba nhà văn nữ Phạm Thị Hoài,
Truyện ngắn giai đoạn sau 1975, đặc biệt từ năm 1986 đến nay đã thu hút và tạo được
dấu ấn cho độc giả nhờ vào phong cách nghệ thuật độc đáo và xoáy sâu vào vấn đề của
xã hội và con người, đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu, đồng thời kích thích được tầm đón
đợi nơi người đọc. Những ý kiến của giới phê bình, nghiên cứu văn học giai đoạn này là
hết sức đa dạng và phong phú.
Nhìn chung, đề tài tình yêu trong truyện ngắn của các tác giả nữ được các nhà nghiên
cứu đề cập đến chỉ là cái nhìn tóm lược, những nhận định khái quát trong hệ thống đề tài
hoặc bài viết, chưa thực sự đi sâu vào phân tích nội dung và nghệ thuật trong những
7
truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị
Vàng Anh.
Sau đây là một số ý kiến tiêu biểu:
Ý kiến về đề tài tình yêu và sáng tác của các nhà văn nữ nói chung
Xuất phát từ thực tế phát triển ngày càng mạnh mẽ và đông đảo của tác giả văn xuôi
nhất là ở thể loại truyện ngắn, tạp chí Văn nghệ quân đội số 5/1993, Phương Lựu nêu một
vài suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ. Bài viết bày tỏ thiết thực sự quan tâm của các nhà
lí luận văn học tới sáng tác nữ, đặt ra những thế mạnh và hạn chế của giới trong sáng tác:
Chúng tôi muốn nói đã đến lúc trên bình diện lý thuyết phải đặt vấn đề tìm hiểu những
đặc điểm của nữ văn sĩ với tất cả mọi mặt mạnh, mặt yếu của nó, để góp phần thúc đẩy
việc bồi dưỡng và phát triển lực lượng sáng tác của nửa phần dân tộc và nhân loại. [51;
tr 25]
Cuộc trao đổi ý kiến với chủ đề Phụ nữ và sáng tác văn chương đặt những vấn đề bức
xúc trong sáng tác nữ. Đặng Anh Đào, Vương Tâm, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân,…
tìm hiểu vai trò người nghệ sĩ trong sáng tác của họ, thế mạnh và hạn chế, có những cây
bút nào đang nổi lên, đóng góp của từng người. Đặng Anh Đào nhận xét: Tốt, dịu dàng,
rộng lượng thì không ai bằng mà nhỏ nhen, chấp nhặt cũng không ai bằng… Họ mạnh ở
chỗ đưa tất cả cuộc đời mình vào trang sách của họ, họ mang vào một cái gì rất hấp
tới sáng tác nữ. Văn học nước nhà sang thế kỉ XXI sẽ mang gương mặt phụ nữ khoan
dung, trắc ẩn và đắm đuối [70; tr 18] là một dự cảm, một niềm tin xuất phát từ tiến trình
phát triển ngày nay của truyện ngắn nữ.
Những ý kiến về truyện ngắn của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan
Thị Vàng Anh
Hiện nay, có rất nhiều bài viết đề cập đến sáng tác của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị
Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh.
Phạm Thị Hoài được xem như một hiện tượng văn học tiêu biểu trong giai đoạn sau
1975. Quan niệm nghệ thuật về con người, ngôn ngữ, giọng điệu trong truyện ngắn Phạm
Thị Hoài mở ra cho người đọc cái nhìn khác so với truyện ngắn giai đoạn trước. Khi đọc
Phạm Thị Hoài, Đỗ Đức Hiểu phát biểu: Văn bản nhà văn nữ phát triển trên nhiều kênh,
nó hấp dẫn một số người đọc vì tiếp nối nhiều giọng của nó, không phải thông tin một
chiều hoặc thông tin đường thẳng. Suy nghĩ nhà văn thoát ra ngoài những băng từ muốn
quấn chặt lấy nó, áp đảo nó. Nó tự do bay bổng, nó dằn vặt, nó đánh nhau vật lộn với
ngôn từ. Truyện của Phạm Thị Hoài về một phương diện (phương diện rất quan trọng) là
cuộc đánh vật nhà văn với ngôn ngữ…. Người đọc Phạm Thị Hoài có thể ngạc nhiên lại
một nhà văn đi chệch quỹ đạo của truyện truyền thống Việt Nam trong gần nửa thế kỉ
nay! Lại một nhà văn tiếp tục cuộc hành trình vô tận của loài người đi tìm cái đẹp! Lại
một nhà văn tôn thờ ngôn ngữ văn chương. Người đọc có thể đặt nhiều câu hỏi: Nhà xã
hội học đâu là ý nghĩa giai cấp – chính trị của tác phẩm? Nhà triết học có phải chủ
9
nghĩa hoài nghi. Tác giả là một học trò Frớt ra đời muộn màng ở Việt Nam cuối thế kỉ
XX này? Tác phẩm dành riêng cho người đọc được lựa chọn. [31; tr 10]
Phạm Thị Hoài là một tác giả tạo ra nhiều tranh cãi gay gắt vì truyện ngắn của bà quá
dung tục, lai căng và sex. Với Thiện Minh, ông cho rằng: Văn chương trong truyện ngắn
của Phạm Thị Hoài có từ vú, mông, đùi, bẹn… Tác giả đã dùng ngọn bút mình bới tung
lên mọi tởm lợm, nhàm chán, giả dối, ti tiện ở đời. Phải chẳng cuộc đời này nhân tính chỉ
Lời nhận xét táo bạo của Văn Chinh trong bài viết Văn nữ thế kỉ XX, một tuyển tập
đáng quí đang trên báo Nông nghiệp số 138/2001: Đầu thập kỉ 80 khi các nhà văn nam
đang cảm thấy mệt mỏi bế tắc ở lối viết từng đưa họ thành công từ trước và sau 1975
(thật khó có công cụ nào dùng mãi không cùn) thì sự xuất hiện của Lý Lan, Phạm Thị
Minh Thư, Dạ Ngân muộn hơn một chút là Phạm Thị Hoài, Y Ban… quả đã mang đến
cho văn xuôi sự tươi tắn trẻ trung có vẻ như do nữ tính của họ phát tiết và được nhìn
dưới ánh sáng của trí tuệ thời đại. Đặc điểm này vẫn tiếp tục đến khi xuất hiện các nhà
văn Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thanh Hà, Nguyễn Ngọc Tư… [15;
tr 12]
Khảo sát truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 – 1996 (Luận án Thạc sĩ của
Hồ Thị Liễu, 2002, Trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn). Luận án khảo sát
các truyện ngắn của một số nhà văn nữ (Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị
Hảo…) về cả nội dung và nghệ thuật: Về nội dung, tác giả nghiên cứu các đề tài như đề
tài chiến tranh, cuộc sống đời thường, khát vọng tình yêu và hạnh phúc được thể hiện
trong truyện ngắn của các nhà văn. Về nghệ thuật, tác giả tìm hiểu các đặc điểm về nhân
vật, kết cấu và ngôn ngữ.
Người phụ nữ hiện đại qua cái nhìn của một số nhà văn nữ (Luận án Thạc sĩ của Trần
Thị Thúy An); Từ lý thuyết nữ quyền nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác
gia nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay (Luận án Thạc sĩ của Hồ Khánh Vân) đã cung cấp
cho luận văn của chúng tôi những tư liệu và nhận xét, đánh giá thiết thực.
Văn xuôi nghệ thuật sau 1975 không chỉ dừng lại ở hiện thực khách quan mà đã
chuyển dần sang hiện thực trừu tượng – đó là thế giới bên trong của con người, là hiện
thực tâm hồn, hiện thực tâm linh. Trong Yếu tố huyền ảo trong văn xuôi nghệ thuật Việt
Nam sau 1975 (Đề tài nghiên cứu Khoa học và Công nghệ cấp bộ năm 2009), Hoàng Thị
Văn nhận định cụ thể, sâu sắc về vai trò, hiệu quả nghệ thuật của yếu tố kì ảo trong
những truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của các nhà văn nữ giai đoạn sau 1975: Đề tài
tình yêu lứa đôi và hạnh phúc riêng tư của con người dường như đến văn xuôi nghệ thuật
sau 1975 mới được đề cập đến với nhiều sắc màu. Bản chất của tình yêu lứa đôi là sự
giao cảm hòa hợp giữa hai người khác giới cả về tâm hồn lẫn thể xác. Để đến với nhau
trong sự giao cảm, hòa hợp, đồng điệu – dấu hiệu của Hạnh phúc lứa đôi – người ta luôn
mục đích học hỏi và làm nguồn tư liệu trong quá trình học tập, giảng dạy.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khoa học mà luận văn đề cập đến là Nghệ thuật trần thuật trong truyện
ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng
Anh.
Phạm vi khảo sát giới hạn cho luận văn chủ yếu là tập trung vào mảng truyện ngắn viết
về đề tài tình yêu của ba nhà văn nữ:
12
Phạm Thị Hoài với 13 truyện trong tập truyện ngắn Mê lộ: Trong cơn mưa, Người đàn
bà với hai con chó nhỏ, Mê lộ, Năm ngày, Vệt son, Người suy tư, Hành trình của những
con số, Hoa sữa, Khách, Một cái gì, Hai mươi năm sau, Bảy nổi ba chìm, Chín bỏ làm
mười.
Nguyễn Thị Thu Huệ với 30 truyện ngắn in trong tập truyện ngắn 37 truyện ngắn của
Nguyễn Thị Thu Huệ: Tân cảng, Huyền thoại, Xin hãy tin em, Nước mắt đàn ông, Còn lại
một vầng trăng, Dĩ vãng, Thiếu phụ chưa chồng, Rượu cúc, Tình yêu ơi, ở đâu?, Biển ấm,
Một trăm linh tám cây bằng lăng, Người đàn bà ám khói, Phù thủy, Người đi tìm giấc
mơ, Sơri đắng, Thành phố không mùa đông, Lời thì thầm của mùa xuân, Cầu thang,
Người xưa, Những đêm thắp sáng, Đôi giày đỏ, Hình bóng cuộc đời, Đêm dịu dàng, Giai
nhân, Mùa thu vàng rực rỡ, Một nửa cuộc đời, Cát đợi, Hậu thiên đường, Cõi mê, Nào,
ta cùng lãng quên.
Phan Thị Vàng Anh với 9 truyện trong tập truyện ngắn Khi người ta trẻ: Cuộc du
ngoạn ngắn ngủi, Truyện trẻ con, Khi người ta trẻ, Si tình, Mười ngày, Trò dối, Một
ngày, Nghỉ hè, Kịch câm.
Với phạm vi nghiên cứu đã nêu, người viết tập trung tìm hiểu nghệ thuật trần thuật
trong các truyện ngắn trên, giải thích được chủ thể trần thuật xuất hiện trong các truyện
ngắn, và khẳng định vị thế của mỗi tác giả trên diễn đàn văn xuôi hiện đại Việt Nam.
Với luận văn này, người viết muốn góp phần tìm hiểu cách tiếp cận và thể hiện đề tài
tình yêu trong truyện ngắn của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng
Anh:
+ Tình yêu của con người là một điều thiêng liêng, rất cần sự cảm thức đầy tinh tế.
Trong truyện, nhiều màn kịch tình yêu hiện ra như chính màn kịch cuộc đời, tạo tâm thế
cho con người đón nhận và chấp nhận tình yêu trong mọi hoàn cảnh, tình huống. Qua đó,
chúng ta thấy được ba nhà văn nữ đã góp phần tạo nên và hòa nhập vào xu hướng chung
của văn học thời đại: trao quyền chọn lựa và dự đoán cho người đọc, thể hiện được mối
quan hệ bình đẳng, cởi mở trong văn học.
+ Khẳng định sự tiếp nối và cách tân trong nghệ thuật trần thuật của Phạm Thị Hoài,
Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng Anh. Đây được xem là một trong những yếu tố
tạo nên phong cách riêng biệt, độc đáo của ba nhà văn nữ.
Qua những đóng góp của ba nhà văn, người đọc nhận định được sự đa dạng trong đề
tài và linh hoạt trong nghệ thuật trần thuật của truyện ngắn nói riêng và văn học sau 1975
nói chung.
6. Kết cấu của luận văn
Khảo sát đề tài: Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của
Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng Anh, người viết tìm hiểu từ chủ
thể trần thuật đến cách tổ chức kết cấu tác phẩm; tìm nhận lời văn và giọng điệu kể của
chủ thể trần thuật.
Vì vậy, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:
14
Chương 1: Chủ thể trần thuật trong truyện ngắn viết về đề tài tình yêu của Phạm Thị
Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh nói riêng và truyện ngắn nói chung là
nhân tố đầu tiên để tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn, và là yếu tố cần
thiết, chủ yếu để hình thành, chi phối và qui định cách thức tổ chức kết cấu tác phẩm.
khả năng kích thích người đọc đồng sáng tạo. Mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm –
người đọc là mối quan hệ khắng khít, gắn bó hữu cơ. Vấn đề tiếp nhận văn học hôm nay
hay việc khảo sát hai nhân tố tác giả - người đọc trong đời sống văn học đã được các nhà
lý luận phương Tây chú ý quan tâm nhiều từ khoảng thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX.
Để xác lập giá trị của tác phẩm tự sự, nguyên tắc khách quan được xem là nguyên tắc
đặc thù trong việc tái hiện và chiếm lĩnh hiện thực. Trong cấu trúc văn bản tự sự, phương
diện chủ thể trần thuật là yếu tố giữ vai trò trung tâm. Phương diện này mãi đến khi
ngành nghiên cứu tự sự học ra đời mới được giới nghiên cứu chú trọng và xác lập lý
thuyết một cách có hệ thống và toàn diện.
1.1.1. Khái niệm chủ thể trần thuật trong tác phẩm tự sự
Chủ thể trần thuật là một thuật ngữ phổ biến trong tác phẩm tự sự, ngoài ra nó còn
được gọi bằng những thuật ngữ tương đương như: chủ thể kể chuyện, người kể chuyện,
người trần thuật… Chủ thể trần thuật là nhân vật trong tác phẩm, là sản phẩm sáng tạo
của nhà văn, thông qua nhân vật này, nhà văn bộc lộ quan điểm nghệ thuật của mình.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, có định nghĩa: Người trần thuật là một nhân vật hư
cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành (…) nó
bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác phẩm tự sự.
[26; tr 221]
16
Chúng ta cần phân biệt giữa chủ thể trần thuật và bản thân tác giả. Nhà nghiên cứu Lê
Ngọc Trà viết: Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò chủ thể của lời kể
chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học [83; tr 89], nhà nghiên cứu nhấn
mạnh: Người kể chuyện và tác giả không phải là một. Không nên đồng nhất người kể
chuyện với tác giả, ngay cả khi tác giả xưng “tôi” đứng ra trần thuật câu chuyện và hoàn
toàn đứng ngoài sự vận động của các sự kiện, các tình tiết [83; tr 89]. Như vậy, chủ thể
trần thuật hay người kể chuyện hoàn toàn là nhân vật do nhà văn hư cấu. Đôi khi tác giả
hòa nhập vào chủ thể trần thuật để kể chuyện, lúc này cũng không thể xem chủ thể trần
cấu tác phẩm. Chủ thể trần thuật có thể tổ chức các quan hệ nhân vật theo hình thức đối
lập, đối chiếu, tương phản… và tổ chức sự kiện, liên kết chúng tạo thành truyện (với các
dạng cốt truyện khác nhau: cốt truyện tuyến tính, cốt truyện tâm lí, cốt truyện “truyện
lồng truyện”… Timofeev nhấn mạnh vai trò của chủ thể trần thuật hết sức to lớn. Cách
đánh giá các nhân vật và các biến cố đều xuất phát từ cá nhân người kể chuyện.
Do đó, vấn đề tiếp nhận văn học có thành công hay thất bại đều qui về mối quan hệ
giữa tác giả - tác phẩm – người đọc, trong đó, chủ thể trần thuật được xem là yếu tố trung
gian gắn kết ba nhân tố trên. Nếu không có chủ thể trần thuật, tác phẩm chỉ dừng lại ở
mức độ bình thường, thô ráp. Câu chuyện có đủ sức thuyết phục, lôi cuốn và hấp dẫn
người đọc là nhờ vào chủ thể trần thuật, bởi nó là nhân vật đặc biệt về vai trò, ý nghĩa do
nhà văn hư cấu nên. Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học chỉ rõ: Trần thuật tự sự
được dẫn dắt bởi một ngôi kể được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái
được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích những gì đã xảy
ra. [6; tr 360]
Ngoài thái độ chủ quan được thừa hưởng của tác giả, chủ thể trần thuật mang trong
mình cả phần nội dung khách quan của thế giới được phản ảnh vào tác phẩm; phần nội
dung đó thường thể hiện một loại hình thái độ phản ứng với thực tại điển hình cho thời
đại của nhà văn được nhà văn tái hiện và miêu tả lại trong tác phẩm của mình. Một mặt
chủ thể trần thuật kéo người đọc đến gần hơn với những quan điểm của tác giả về hiện
thực, về nhân sinh, một mặt có khi chủ thể trần thuật còn đối thoại, tranh luận với người
đọc để cùng nhau khám phá chân lí và chiếm lĩnh cuộc sống. Chủ thể trần thuật lúc này
không còn là người kể chuyện toàn tri và trở nên bình đẳng với nhân vật, người đọc của
mình.
Chủ thể trần thuật là công cụ giúp nhà văn thực hiện ý đồ nghệ thuật của mình nhưng
chủ thể trần thuật có đời sống riêng của nó. Nhà văn chỉ qui định, lựa chọn các hình thức
xuất hiện của chủ thể trần thuật sao cho tác phẩm trở nên khách quan, có sức thuyết phục
cao, tranh thủ sự đồng tình cùng người đọc, còn chủ thể trần thuật sẽ vận động theo đúng
với đặc điểm, tính chất của bản thân nó từ lời văn đến giọng điệu trần thuật. Tác giả thực
sự xuất hiện chỉ như người ghi, người sao lục lời kể, hoặc là người nghe trộm người kể.
Chọn góc nhìn trao cho ngôi thứ ba, nhà văn đã tạo nên cái nhìn khách quan trong tác
phẩm và hướng cái nhìn ấy đến bạn đọc. Tạo độ tin cậy cao nơi tác phẩm, tranh thủ sự
đồng tình nơi người đọc, tránh được sự cảm nhận chủ quan của người đọc từ tác phẩm,
giàu tính thuyết phục, góc nhìn rộng, bao quát được các vấn đề được kể là ưu thế nổi bật
của phương thức trần thuật này.
19
Tuy trần thuật ở ngôi thứ ba vô nhân xưng nhưng khoảng cách giữa tác giả và chủ thể
trần thuật cũng như giữa chủ thể trần thuật và sự việc được trần thuật luôn hiện hữu. Câu
chuyện được kể trở nên khách quan hơn vì nó được kể ở ngôi thứ ba, đối tượng được trần
thuật là “chuyện về người, việc của làng”, không liên quan trực tiếp đến chủ thể trần
thuật, tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để chủ thể trần thuật, đằng sau là tác giả tự do,
thoải mái, tự nhiên thuật lại theo đúng với diễn biến của cốt truyện. Lời bình luận, nhận
định, đánh giá, nhận xét của chủ thể trần thuật hầu như không có, tất cả đều trao vào lời
đối thoại của các nhân vật xuất hiện trong truyện. Vì thế, mặc nhiên truyện được trần
thuật trở nên khách quan hơn.
Đảm nhận vai trò là người dẫn truyện, dẫn dắt người đọc tham gia vào tình tiết của
truyện, chủ thể trần thuật hướng cái nhìn và nhận định đến với người đọc. Đây là kiểu
người kể luôn luôn tách mình ra khỏi diễn biến của câu chuyện, tạo một khoảng cách
nhất định đối với câu chuyện đang kể. Chủ thể trần thuật luôn hướng sự quan tâm của
người đọc đến những sự kiện cùng các tính chất của chúng mà không bày tỏ thái độ của
mình [42; tr 165]. Độc giả có thể đồng tình hay phản bác, có thể yêu hay ghét, thích hay
không thích là do cảm nhận chủ quan của họ. Trong các truyện trần thuật theo kiểu trần
thuật này, người đọc hầu như không nhận thấy thái độ của chủ thể trần thuật. Người kể
chuyện đã tách mình ra khỏi câu chuyện để cho nhân vật tự bộc lộ tính cách qua ngôn
ngữ và hành động. Tuy nhiên, thông qua chủ thể kể chuyện, người đọc vẫn nhận thấy
được thái độ, tư tưởng, tình cảm của tác giả thể hiện ở các mức độ đậm nhạt khác nhau.
Bên cạnh đó, trong các truyện tổ chức trần thuật theo kiểu này, câu chuyện không phải
nội không trực tiếp bình luận biến cố, sự việc xoay quanh nhân vật chính trong truyện mà
trao quyền phán xét cho các nhân vật đó, anh chỉ làm công việc của một người trung gian
truyền đạt và kết nối câu chuyện với bạn đọc. Sự hòa mình của tác giả - chủ thể trần thuật
vào nhân vật thường được biểu hiện ở hình thức lời nói nửa trực tiếp. Với sự rút ngắn
khoảng cách giữa chủ thể kể chuyện và câu chuyện, tác giả tạo cho người đọc cảm giác
như đang sống cùng đời sống nội tâm của nhân vật và làm cho cách kể trở nên sinh động.
Do đó, chủ thể trần thuật ở ngôi thứ ba vô nhân xưng dù điểm nhìn hướng ngoại hay
hướng nội vẫn tạo được độ tin cậy khách quan cho độc giả và vẫn giữ được độ linh hoạt
trong quá trình trần thuật.
Ở một số truyện, người đọc còn nhận ra sự hòa nhập giữa lời kể, lời thuyết mình của
tác giả với lời độc thoại nội tâm nhân vật, hình thức lời nói nửa trực tiếp được sử dụng.
Điều này thường dẫn đến sự pha trộn quan điểm của chủ thể trần thuật và nhân vật trong
truyện.
Chủ thể trần thuật ở ngôi thứ ba vô nhân xưng chi phối toàn bộ tác phẩm từ lời dẫn
chuyện, cách kể, cách tả đến cả lời trữ tình ngoại đề. Hình thức tạo khoảng cách giữa tác
giả và mạch trần thuật qua chủ thể trần thuật giúp tác giả có thể thể hiện hình tượng trong
21
tác phẩm, đồng thời vừa gián cách vừa hướng đạo được cho người đọc. Thực chất, tạo
khoảng cách như vậy lại rút ngắn khoảng cách giữa tác giả - tác phẩm – người đọc.
Chủ thể trần thuật đặc biệt quan trọng trong một tác phẩm tự sự.
1.1.2.2. Chủ thể trần thuật ngôi thứ nhất xưng “tôi” với phương thức trần thuật chủ
quan hóa
Khi bàn về vấn đề ngôi kể trong cấu trúc tự sự, G. Genette khẳng định ngôi kể gắn liền
với biểu hiện của hình tượng người kể chuyện – chủ thể trần thuật: Việc thay đổi ngôi,
thực sự là sự thay đổi quan hệ giữa người kể chuyện và câu chuyện của anh ta – nói cụ
thể hơn, nó còn có nghĩa là sự thay đổi người kể chuyện.
Sự khác nhau thường có giữa những truyện kể ở “ngôi thứ nhất” và “ngôi thứ ba”
[42; tr 194]
Chủ thể trần thuật đóng vai trò dẫn dắt câu chuyện, chủ thể kể chuyện không tham gia
vào biến cố của truyện, giữa người trần thuật và câu chuyện luôn có một khoảng cách cần
thiết để tạo ấn tượng về sự khách quan. Người kể không được miêu tả cụ thể. Người kể
chỉ là một hình tượng giả định, được tác giả sử dụng làm một người trung gian tưởng
tượng ra giùm độc giả và cái được mô tả. [42; tr 182] Anh ta chỉ song song đồng hành
với nhân vật chính, cố giấu mình hết sức, ít bình luận, đôi khi nhập vào đời sống nhân vật
để suy tưởng…, lúc này câu chuyện được kể mang tính khách quan.
Chủ thể trần thuật xưng “tôi” kể lại một câu chuyện mà trong đó chủ thể kể chuyện
vừa là người dẫn chuyện vừa là nhân vật thì cái “tôi” của người kể có mức độ cá thể hoá
cao. Kiểu người xưng “tôi” này không được cá thể hóa sâu sắc bằng kiểu xưng “tôi” tự
kể chuyện mình. Nhưng so với kiểu xưng “tôi” đóng vai trò người dẫn chuyện, thì kiểu
này có mức độ cá thể hóa nhiều hơn, bởi vì người kể chuyện cũng đồng thời là một trong
những nhân vật của truyện. [42; tr 188] Chủ thể kể chuyện xuất hiện trực tiếp và tiến
hành trần thuật lại các sự kiện, biến cố theo cái nhìn và tình cảm chủ quan của mình. Tác
giả nhập vào chủ thể “tôi” với vai trò người dẫn, vừa đóng vai nhân vật xuất hiện cùng
với các nhân vật khác trong truyện, vừa tham gia nói chuyện với các nhân vật của truyện,
tạo được sức linh hoạt trong quá trình phản ánh và chiếm lĩnh hiện thực của nhà văn,
đồng thời trao quyền lựa chọn, suy nghĩ, phán đoán, đồng cảm nhận và cũng tham gia
nhận xét, bình luận với tác giả.
Với việc chuyển giao nhiệm vụ trần thuật cho nhân vật, khoảng cách giữa chủ thể trần
thuật và câu chuyện được thu hẹp tối đa. Người trần thuật không chỉ là chủ thể kể mà còn
là một nhân vật trong truyện. Đây là một đặc điểm để tạo cảm giác về sự chân thực về
câu chuyện được kể. Mặt khác, nó còn thể hiện rõ nét những dấu ấn chủ quan của người
kể qua việc biểu hiện thái độ, tình cảm.
Chủ thể kể chuyện ở ngôi thứ nhất xưng “tôi” là một yếu tố làm cho tác phẩm tự sự trở
nên đa thanh, giàu giọng điệu, vì lời văn trần thuật xuất hiện vừa có chiều sâu vừa linh
23
Điểm
nhìn
nhìn
Nhân
hướng
hướng
chứng
ngoại
nội
1
Trong cơn mưa
2
Người đàn bà với hai con chó nhỏ
x
3
Người suy tư
x
7
Hành trình của những con số
x
8
Hoa sữa
9
Khách
x
10
Một cái gì
x
11
Hai mươi năm sau
Tác phẩm
STT
Ngôi thứ I
Điểm
Điểm
nhìn
nhìn
Nhân
hướng
hướng
chứng
ngoại
nội
1
Tân cảng
x
9
Tình yêu ơi, ở đâu?
x
10
Biển ấm
11
Một trăm linh tám cây bằng lăng
12
Người đàn bà ám khói
13
Phù thủy
Nhân
vật
chính
Hỗn
hợp