Phong cách nghệ thuật văn xuôi Lý Biên Cương (Qua truyện vừa và tiểu thuyết) - Pdf 23


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU TRẦM LỆ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI LÝ BIÊN CƢƠNG
(QUA TRUYỆN VỪA VÀ TIỂU THUYẾT)

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI LÝ BIÊN CƢƠNG
(QUA TRUYỆN VỪA VÀ TIỂU THUYẾT) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện


Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là sự nỗ lực hết mình của tôi
trong quá trình nghiên cứu. Những tư liệu thống kê hoàn toàn do tôi tự nghiên
cứu. Tôi xin chịu trách nhiệm về Luận văn của mình.
Xác nhận
của Người hướng dẫn khoa học
Đã chỉnh sửa theo yêu cầu của hội
đồng khoa học
PGS-TS Nguyễn Ngọc Thiện Tác giả Luận văn
NGUYỄN THỊ THU TRẦM LỆ
2.2.1. Yếu tố ngoại hình và tên gọi. 57
2.3.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Lý Biên Cương và các cây
bút khác viết về người thợ mỏ 69

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
Chƣơng 3. ĐẶC SẮC TRONG NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN VÀ SỬ
DỤNG NGÔN NGỮ 74
3.1. Xử lý cốt truyện 74
3.1.1. Cốt truyện – dòng tâm trạng 74
3.1.2. Cốt truyện được xây dựng trong mối quan hệ đối chiếu, tương
phản giữa các nhân vật 78
3.2. Kết cấu 80
3.2.1. Kết cấu giản dị tự nhiên 80
3.2.2. Kết cấu truyện lồng truyện 82
3.3. Giọng điệu trữ tình giàu biểu cảm. 85
3.3.1. Giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, nhẹ nhàng 86
3.3.2. Từ ngợi ca đến thâm trầm, triết lý 89
3.3.3. Giọng điệu trữ tình bàng bạc chất thơ 93
3.4. Ngôn ngữ 96
3.4.1. Ngôn ngữ trong trẻo, giàu chất thơ. 97
3.4.2. Ngôn ngữ nghệ thuật dung dị, tự nhiên như hơi thở của cuộc sống. 99
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Quảng, 1961 – 1964), báo Quảng Ninh (1964 – 1986), từng là phó chủ tịch hội
Văn học nghệ thuật Quảng Ninh, phó tổng biên tập báo Hạ Long. Là một tên
tuổi có vị trí vững vàng trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, hơn 50 năm cầm bút, nhà
văn đã để lại một khối lượng tác phẩm lớn với gần bốn mươi đầu sách ở nhiều thể loại
khác nhau như: thơ, tản văn, tiểu thuyết, truyện ngắn. Ông đã nhận được nhiều giải
thưởng cao quý từ Trung ương đến địa phương như:
Giải thưởng các cuộc thi truyện ngắn tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn
Việt Nam): Truyện Khoảng không của đất – giải ba, 1972; Truyện Đêm ấy
vùng than ai thức – giải nhì, 1975.
Giải thưởng cuộc thi truyện vừa tạp chí Tác phẩm mới 1996 –
1998(Hội Nhà văn Việt Nam): truyện Ngƣời đàn bà đi ngang đời tôi – giải
chính thức.
Tặng thưởng truyện xuất sắc 1974 (Tạp chí Văn nghệ Quân đội): truyện
Mắt và sóng.
Giải thưởng văn học công nhân lần thứ nhất 1969 – 1972 (Tổng Công
đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam): Ba truyện Đêm mưa, Bố con người thợ hàn
và Than – giải chính thức.
Giải thưởng hàng năm (Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp Văn học Nghệ
thuật Việt Nam): Tiểu thuyết Những kiếp phù du NXB Hội Nhà văn – giải B
(Không có giải A), 1993; Tập truyện: Thu cảm – NXB Công an Nhân dân –
giải B (Không có giải A), 1994: Tập truyện Những khoảnh khắc rủi may – NXB.
Công an nhân dân – giải B (không có giải A), 1998.
Giải thưởng truyện phim xuất sắc năm 1987 – Hãng phim truyện Việt Nam:
Truyện Sóng cửa sông.
Với những đóng góp của Lý Biên Cương, ông được nhà nước phong
tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật lần thứ 3 (2012).
1.3. Văn xuôi Lý Biên Cương hấp dẫn người đọc, bởi lẽ đọc truyện của

việc giảng dạy, nhận diện tổng quan về văn xuôi văn học Việt Nam hiện đại.
Chính vì lý do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề “Phong cách nghệ thuật
văn xuôi Lý Biên Cƣơng” (Qua truyện vừa và tiểu thuyết) làm đề tài nghiên
cứu. Hơn nữa đây là một đề tài mới, còn rất ít người để ý nghiên cứu và cho

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
đến nay vẫn còn là mảnh đất màu mỡ cho những ai tìm đến khai mở công việc
nghiên cứu và khám phá.
2. Lịch sử vấn đề
Đã có rất nhiều bài báo, bài viết khái quát về quá trình sáng tác cũng
như những bài viết khái quát về những đặc điểm đặc sắc về phương diện nội
dung và nghệ thuật trong văn xuôi Lý Biên Cương như:
Nhà văn Lý Biên Cương được một số nhà nghiên cứu, phê bình đánh
giá cao như Tôn Phương Lan trong cuốn Văn học về đề tài công nhân đã
khẳng định: “Cuối những năm sáu mươi bạn đọc đã bắt đầu quen dần với Lý
Biên Cương trong những truyện ngắn viết về Quảng Ninh. Từ bấy đến nay
dòng viết Lý Biên Cương là một dòng chảy liên tục, tuy có chỗ nông, chỗ sâu,
có chỗ lặng tờ nhưng có cả những vùng gợn sóng” [20,158-159]. Tác giả
cũng nhận định “tuy vậy, vẫn có cảm giác có phần nhẹ tay khi gập trang sách
lại – cuộc sống trong sáng tác Lý Biên Cương còn quá hiền lành, thiếu cái dữ
dội của cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa cái đúng và cái sai trong
quan hệ sản xuất, trong quan hệ giữa các nhân vật” [20,158]. Tuy nhiên, bài viết
mới chỉ dừng lại ở mức khái quát về các tác phẩm của ông cho đến năm 1983,
nên ý kiến đưa ra chưa được đầy đủ các giai đoạn sáng tác của nhà văn, đặc biệt
là ở giai đoạn sáng tác về sau với những chuyển biến sâu sắc của ngòi bút.
Tiếp đến là bài viết của Hữu Tuân “Lý Biên Cƣơng gƣơng mặt văn xuôi
Quảng Ninh” đăng trên tạp chí Nhà văn, tháng 11 năm 2003. tác giả nhận
định khá đầy đủ, chi tiết, xác đáng về giá trị văn xuôi của ông về mặt nội dung

Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội, năm 2011 và của Hoàng Thị Khuyên “
Nghệ thuật tự sự trong tuyển truyện viết về than của Lý Biên Cƣơng”, Trường
Đại học Sư phạm 2 Hà Nội, năm 2011. Đã nghiên cứu một cách đầy đủ, chi
tiết về nghệ thuật tự sự trong những sáng tác của ông.
Từ nhiều bài viết khác nhau, song các tác giả cùng có chung nhận xét:
“Cái nhìn về nhà văn Lý Biên Cương phải đứng từ góc tối để nhìn ra phía
sáng mới tường tận được – và phải nhìn với tấm lòng nhân ái mới thấu đáo.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Và phải đặt mình là người trong cuộc mới thấm thía lẽ đời” [16, 189]. Đọc
văn ông giống như đang được chiêm ngưỡng một công trình được tạo tác rất
tài hoa. “Văn ông đẹp, thoáng đãng lại mượt mà, sự giàu có về ngôn ngữ văn
chương của ông như trời ban vậy. Sự bề bộn, khẩn trương của nhịp sống công
nghiệp vùng mỏ đi vào văn chương ông cũng sâu lắng hơn, sự mạnh mẽ, dữ
dội trong tình yêu, trong đời sống người vùng biển qua văn ông cũng êm ả,
nhuần nhị đi nhiều” [33,5].
Tuy vậy, hiện nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
tập trung, có hệ thống những sáng tác của ông xứng đáng với những cống
hiến đặc sắc của ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài đã chọn Luận văn chúng tôi nhằm:
- Làm rõ những đặc sắc về phong cách nghệ thuật của Lý Biên Cương
qua truyện vừa và tiểu thuyết.
- Nhận diện văn xuôi Lý Biên Cương.
- Luận văn góp phần khẳng định tài năng, vị trí của nhà văn trong nền
văn xuôi Việt Nam hiện đại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
5.1. Phương pháp hệ thống tổng hợp
Làm nổi bật phong cách nghệ thuật Lý Biên Cương qua truyện vừa và
tiểu thuyết. Luận văn xem xét các yếu tố tạo nên cấu trúc một chỉnh thể, tìm
ra nguyên tắc chi phối sự hình thành của chúng. Trên cơ sở đó, chúng tôi rút
ra những kết luận về nguyên tắc chi phối và hình thành tác phẩm.
5.2. Phương pháp phân tích tác phẩm
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích là chủ yếu. Phương pháp này
giúp người viết khám phá những đặc sắc của tác phẩm ở cả hai phương diện
nội dung và nghệ thuật, từ đó góp phần soi sáng luận điểm trong Luận văn.
5.3. Phương pháp phân loại, thống kê

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
Đối với từng khía cạnh, cấp độ của phong cách nghệ thuật, khi cần thiết
chúng tôi thực hiện việc khảo sát, phân loại và thống kê bằng những số liệu cụ thể.
5.4. Phương pháp so sánh
Để khẳng định những nét đặc sắc, riêng biệt của phong cách nghệ
thuật Lý Biên Cương, Luận văn sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh
với sáng tác của một số nhà văn khác. Phương pháp này được sử dụng có
tính chất bổ trợ.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo Luận văn được
triển khai trong ba chương chính
Chƣơng 1: Khái niệm phong cách nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật
của Lý Biên Cƣơng
Chƣơng 2: Đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Lý Biên Cƣơng
Chƣơng 3: Đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện và sử dụng ngôn ngữ
7. Dự kiến đóng góp mới

năng khiếu văn chương từ thủa nhỏ. Ông hiểu các luật thơ cổ từ rất sớm cũng
“rung đùi, cũng đắc ý khi tìm được những câu hay, chữ đắt, “cụ non” chẳng
kém ai” [7,192]. Ông góp nhặt cho mình vốn kiến thức thơ văn từ rất sớm
“mỗi đứa đóng một quyển luyện văn cỏn con, đi đâu cũng cầm khư khư, gặp
đoạn thơ văn nào đắc ý liền chép vội. Thành thử những câu: “Rừng phong thu
đã nhuốm màu quan san”, “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi” hoặc “Lá vàng
trƣớc gió khẽ đƣa vèo” cứ ngấm dần vào mình, câu thơ hay đền nỗi không thể
tán hết nhẽ và trở thành gia sản, thành bạn đường cho cuộc hành trình văn học dài
dằng dặc” [7,193].
Có câu bảo: văn là người, với Lý Biên Cương thì đúng là thế. Ông có
lối viết chân phương, mềm mại, rất thu hút, lôi cuốn. Và con người ông cũng
thế, sống thật lòng, tình nghĩa trước sau, nhân ái và độ lượng với mọi người,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
thích dĩ hòa vi quý, không bới lông tìm vết. Ông có lối chuyện trò nhỏ nhẹ,
chậm rãi, khiêm nhường, có sức thuyết phục người nghe. Đọc văn ông, dường
như không thấy khoảng cách giữa văn và người. Cũng một lối văn êm êm, dìu
dịu, mượt mà và một lối dẫn chuyện đưa đẩy, lớp lang, chậm rãi, ngay ở
những truyện nếu vào người khác cũng khá ly kỳ, giật gân như "Ngƣời đàn bà
ngang qua đời tôi", "Vƣờn hoang" nhưng với Lý Biên Cương thì vẫn là
truyện êm ái, dịu dàng mà ngẫm kỹ không kém phần đắng đót, ý vị.
Ông ít xuất hiện ở những cuộc quá ư ồn ào nhưng lại rất coi trọng các
sự kiện giàu ý nghĩa của đời sống văn chương Quảng Ninh. Hội thảo nhân 80
năm ngày sinh, 10 năm ngày mất của nhà văn Võ Huy Tâm, ông đến dự, phát
biểu ý kiến ngắn gọn thôi, nhưng thể hiện sự am hiểu sâu sắc về cái tầm, về
giá trị văn chương gia tài văn học Võ Huy Tâm của một người chịu đọc, đọc
nhiều tác phẩm của bạn văn.
Lý Biên Cương xông xáo, ông lao vào việc một cách cẩn trọng và trách

nhớ mong của ông đôi khi chỉ vu vơ thôi, nhưng vẫn bị giằng xé, bị dằn vặt,
bị ức chế, bị săm soi, bị oán hờn. Nhìn góc này thì vời vợi sáng ngời, nhìn góc
kia lại tối tăm Nhiều lần ông thành thật "Tớ biết, tớ là thằng đàn ông mắc tội
lăng nhăng " [31,8]. Ông dám thành thật, dũng cảm dám nhận lỗi lầm với vợ
với con. Ông đã dám đánh đổi cả công danh sự nghiệp để không phải là người
giả dối. Cuộc tình ngang trái của Lý Biên Cương, giới văn sỹ cả nước đã biết,
nhưng chưa chắc ai đã thấu đáo nỗi lòng của ông. Với Lý Biên Cương, ông đã
dám đối mặt với lỗi lầm của mình. Ông muốn gánh trách nhiệm về mình -
dám làm dám chịu - cộng với cái tình trong ông mách bảo, cộng với bổn phận
trách nhiêm của một người cha. Năm 2001, vì lâm trọng bệnh, “trí sĩ tại gia”
đã nói như một lời chiêm nghiệm cho cuộc đời mình: “khi con người ta đau
yếu, khi con người ta về già, mới thấy sợ điều này không phải ai muốn
nhưng mình vẫn phải trải qua, chỉ có điều, mình là nhà văn, phải hiểu cho
thấu đáo mà viết, để mà sống. Tình người là quý nhất” [47]. Ta có thể nhận
thấy được điều này từ chính cuộc đời, từ chính những trang văn buồn nhưng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
ấm áp tình người của ông. Văn chương hay, thường chắt chiu từ những nỗi
đau và từ những bi kịch của cuộc đời.
Nhưng thành công trong văn chương bao nhiêu, được người đời yêu
mến bao nhiêu thì cuộc đời ông là cả một chuỗi dài bất như ý. Cho tận tới
phút tàn hơi, nhà văn vẫn là một kẻ độc hành. Bên cạnh ông vẫn thiếu vắng
người bạn đời tri kỉ đúng như tâm nguyện. Khi nghiên cứu tác phẩm Lý Biên
Cương, chúng tôi đồng cảm hơn với những nỗi niềm sâu kín của nhà văn.
Dường như, văn đàn là nơi ông giãi bày bao tấm lòng riêng u uẩn, bao tâm
trạng mà ông không biết chia sẻ cùng ai, chỉ biết gửi vào tác phẩm của mình.
1.1.2. Sự nghiệp của nhà văn Lý Biên Cương
70 năm với 40 đầu sách, trên hành trình sáng tạo không ngừng nghỉ, Lý

quen thuộc, lối dắt truyện còn đơn điệu và kết thúc truyện theo hướng trữ tình,
có hậu.
Phải chăng, vì thế mà văn chương ông trong thời kì nay hiếm khi có
tiếng ồn ào, hỗn độn, xô bồ của vùng công nghiệp tập trung. Truyện của ông
ít thấy gai góc băm bổ, ngoắt nghéo, làm “sốc” người đọc mà thường nhuần
nhị, thanh thoát, dịu dàng như tranh lụa. Qua đó, ông gửi nhiều chiêm nghiệm
sâu xa về cuộc đời, về mình, về người, về những gì ông chứng kiến. Bởi thế
tác phẩm của ông, dù rất nhẹ nhàng, bình dị nhưng luôn có sức lan tỏa, vọng
vang đến bến bờ. Cho hay sự nổi tiếng trong thiên hạ là một chuyện, sự tinh tế
của ngòi bút khi lách vào những nỗi niềm riêng của con người lại là chuyện
khác, và văn chương muôn đời phải chăng là mượn chuyện đời mà thấu tỏ
niềm riêng, mà ưu ái cảm thông với mọi điều trắc ẩn?
Sau ngày đất nước thống nhất, bước vào thời kì tái thiết đất nước, hàn
gắn vết thương chiến tranh, hiện thực cuộc sống được Lý Biên Cương tái hiện
mở rộng hơn, sâu hơn và nhịp điệu cũng dồn dập hơn. Biên độ ngòi bút của
ông cũng vươn xa hơn. Trong thời kì bao cấp những năm đầu của thời kì đất
nước mở cửa, ông có truyện làng quê đang chuyển mình như: Đất quê; Giai
điệu thành thị, một thế hệ trẻ trong công cuộc tái thiết đất nước như: Ngày ấy
còn rừng rậm; Câu chuyện ngắn về con đƣờng dài…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Đọc tác phẩm của ông trong thời kì này, có thể ghi nhận tác phẩm Đất
quê được ông khai sinh năm 1986 là tác phẩm tiêu biểu hơn cả. Nó như một
bước chuyển mình về dung lượng hiện thực, về phương pháp xây dựng nhân
vật và mang đậm tính nhân văn sâu sắc, cũng như một kết thúc cho cách viết
thời bao cấp và mở ra khuynh hướng tìm tòi mới.
Từ những năm cuối thập niên tám mươi trở lại đây, theo sát bước đổi
thay của thời đại mới, truyện của Lý Biên Cương không chỉ bó hẹp đúng, sai

thuyết cùng những bài viết phê bình sắc sảo. Tạp văn của ông cũng đã ghi
được những dấu ấn nhất định trong lòng người đọc. Tạp văn “Con ngƣời kể
cũng hay hay” của Lý Biên Cương cái mà nhà văn đề cập đến chính là cái ở
ngoài đời ai ai cũng thấy. Thấy nhưng chẳng mấy ai để tâm. Nhà văn đã quan
tâm đến khá nhiều vấn đề của đời sống xã hội hiện nay, trong đó có nhiều vấn
đề không chỉ quan tâm mà ông còn tỏ ra am hiểu khá sâu sắc và tường tận.
Từ tình cảm tươi mát với làng quê của người con đi xa mỗi khi heo may rải
đồng, cái vô cảm, thói hợm đời của kẻ mới có tí đồng tiền đã khoe mẽ, đến
những vấn đề có tầm xã hội, chiều sâu văn hóa, đạo đức, truyền thống như
việc làm nhà tình nghĩa, bồi dưỡng hiền tài, bệnh thành tích, hám chức và cả
những vấn đề đang là mối lo của nhiều người như giải phóng mặt bằng, đất
đai, xây dựng, môi trường đều được ông đề cập đến với ý thức công dân – nhà
văn, đầy xây dựng thẳng thắn, có lý, có tình. Có lẽ với ý thức ấy, nhà văn đã
chọn một cách thể hiện ý tưởng khá nhuần nhuyễn với lối viết ngắn gọn, sâu
sắc, trí tuệ mà vẫn đằm thắm tình cảm của người viết, trách nhiệm của nhà
văn như thể quyện vào từng trang viết. Ở một thể loại tương đối khó như tản
bút Lý Biên Cương vẫn phát huy được lối viết dẫn truyện, khắc họa tính cách,
hoàn cảnh với một mạch văn khá mượt mà, êm dịu đến ngọt ngào, mà có khi
lại là kiểu “mật ngọt chết ruồi” [24,4]. Tản bút “Con ngƣời kể cũng hay hay”
của nhà văn Lý Biên Cương như một trong số những nhà văn đi tiên phong
trong thể loại tản văn, tản bút ở nước ta thời kì đổi mới, công nghiệp hiện đại.
Tác giả Ngô Mai Phong đã phải thốt lên rằng: “Cuộc đời Lý Biên
Cương là nghiệp dĩ của kẻ làm vườn, chỉ buông cuốc khi đã tàn hơi, không

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
còn đủ sức đứng lên nữa” [33,5]. Và dường như văn đàn là nơi ông giãi bày
bao nỗi lòng riêng u uẩn, bao tâm trạng mà ông không biết chia sẻ cùng ai, chỉ
biết gửi vào trong tác phẩm.

Phong cách là một thuật ngữ không chỉ được dùng trong lĩnh vực văn
học nghệ thuật, mà còn được dùng trong nhiều ngành khoa học và đời sống xã
hội. Ngay trong giới nghiên cứu văn học, nhiều quan điểm, định nghĩa khác
nhau về phong cách cũng đang tồn tại. Chỉ ngay ở Liên Xô trong công trình
Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học đã thống kê gần 20
cách hiểu khác nhau về phong cách. Viện sĩ Nga D.X. Likhatsep định nghĩa:
phong cách “là một hệ thống hình thức và nội dung nhất định, là “nguyên tắc
thẩm mĩ để cấu trúc toàn bộ nội dung và toàn bộ hình thức” [19, 130]. Tác giả
đặc biệt nhấn mạnh sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố nội dung và hình thức
của tác phẩm nghệ thuật. Trong khi đó V. Đneprov lại cho rằng phong cách
được coi như là hình thức toàn vẹn có tính nội dung. Ông phát biểu “Phong
cách là mối liên hệ của những hình thức, mối liên hệ đó bộc lộ sự thống nhất
của nội dung nghệ thuật” [19, 133,]. Từ những quan điểm khác nhau về phong
cách của những nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn học Nga, Khrapchenco đã
đưa ra ý kiến của riêng mình với một số điểm đáng chú ý sau đây: Phong cách
là khả năng thể hiện sự chiếm lĩnh cuộc sống bằng hình tượng; phong cách
thực hiện vai trò trong sự hình thành cấu trúc bên trong của các hiện tượng
văn học; phong cách thể hiện trong ngữ điệu, giọng điệu, cảm hứng sáng tạo,
tính độc đáo trong sự miêu tả nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, thể hiện trong cấu
trúc tác phẩm, trong kết cấu, trong ngôn ngữ, trong thể loại, trong trường phái
… Ông cho rằng mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những
phương tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và hình tượng của mình,
những biện pháp và những phương tiện cho phép những tư tưởng, hình tượng
ấy trở nên hấp dẫn, dễ lôi cuốn, gần gũi với công chúng độc giả.
Như vậy, xung quanh khái niệm phong cách còn có những quan điểm
khác nhau. Tựu trung lại có hai ý kiến cơ bản: Một nhấn mạnh sự thống nhất
của những yếu tố nội dung và những yếu tố tạo thành hình thức của tác phẩm;
một cho rằng phong cách được coi như là hình thức toàn vẹn có tính nội dung.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

(hiểu theo nghĩa là các sáng tác của một nhà văn), cái riêng tạo nên sự thống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
nhất lặp lại ấy biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và ở
hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy” [30,89]. Thống
nhất với quan điểm đó, các tác giả cuốn Lý luận văn học (NXB Giáo
dục,1987) xác định: “Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng nghệ thuật có phẩm
chất thẩm mỹ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú” [11,482].
Sau khi tham khảo các quan niệm về phong cách, chúng tôi đưa ra quan
niệm của mình về phong cách.
Trước hết, chúng tôi hiểu phong cách nghệ thuật của nhà văn là cá tính
của chủ thể sáng tạo trong việc lựa chọn chất liệu và cách tiếp cận đối tượng
nghệ thuật, cách thức xây dựng tác phẩm, các thủ pháp và phương tiện biểu
đạt, nghệ thuật ngôn từ. Sự biểu hiện đó trước tiên và bao giờ cũng đòi hỏi
phải có sự độc đáo. Nói đến phong cách nghệ thuật là nói đến dấu ấn cá nhân
của người nghệ sĩ được in đậm lên tác phẩm. Trong đó tư tưởng nghệ thuật
như một tiêu chí quan trọng vừa có ý nghĩa mở đầu, vừa có tính chất chủ đạo.
Tìm hiểu phong cách nghệ thuật của một tác giả, chúng tôi không quan
niệm đơn thuần chỉ là nghiên cứu những yếu tố có tính chất hình thức. Ở đây,
nói đến phong cách chúng tôi hiểu là nói đến sự thống nhất giữa nội dung và
hình thức
Nghiên cứu các lý thuyết về phong cách và soi chiếu vào các văn bản
nghệ thuật cụ thể, chúng tôi hiểu rằng, phong cách được hình thành ngay từ
lúc nhà văn mới cầm bút, nhưng lại vận động, phát triển, chịu ảnh hưởng của
thế giới quan, môi trường sống Phong cách được hình thành trên cơ sở tài
năng nhưng quá trình mỗi người viết tạo nên được cho mình một phong cách
là quá trình đòi hỏi sự nỗ lực trong sáng tạo, là cuộc hành trình để khẳng định
cái bản ngã cá nhân trong nghệ thuật của người cầm bút.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status