Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LÊ VĂN GIANG
PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT NGUYỄN KHẢI
TRONG TIỂU THUYẾT SAU 1980
(QUA BA TIỂU THUYẾT: THỜI GIAN CỦA NGƯỜI, MỘT CÕI
NHÂN GIAN BÉ TÍ, THƯỢNG ĐẾ THÌ CƯỜI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. TRỊNH BÁ ĐĨNH
Thái Nguyên - Năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS-TS. Trịmh Bá Đĩnh
Người thầy đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, khoa Sau
đại học trường ĐHSP Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên em
trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình,
2.3. Triết luận về các chủ đề “vĩnh cửu” 41
2.3.1 Khái niệm chủ đề 41
2.3.2. Thời gian cuộc đời mỗi người 42
2.3.3. Tôn giáo với chính trị 49
2.3.4. Cá nhân và dân tộc 52
2.4. Nhân vật tư tưởng trong tiểu thuyết Nguyễn Khải sau 1980 54
2.4.1 Nhân vật tư tưởng 54
2.4.2. Nhân vật “tôi” trong tiểu thuyết Nguyễn Khải sau 1980 59
Chƣơng 3. NGƢỜI KỂ CHUYỆN TƢỜNG MINH, NGÔN NGỮ CHỦ THỂ VÀ
GIỌNG VĂN TRIẾT LÍ 69
3.1. Nghệ thuật kể chuyện 69
3.1.1. Người kể chuyện 69
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ii
3.1.2. Điểm nhìn nghệ thuật 82
3.2. Ngôn ngữ chủ thể 91
3.2.1. Ngôn ngữ đối thoại nội tâm 91
3.2.2. Ngôn ngữ độc thoại 94
3.3. Giọng văn triết lí 100
PHẦN KẾT LUẬN 108
THƢ MỤC THAM KHẢO 111 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
DANH MỤ C CÁ C CHƢ̃ VIẾ T TẮ T
như: Truyện, tiểu thuyết, kịch, kí, tạp văn … Trong các tác phẩm của Nguyễn
Khải, người đọc nhận thy một mảng hiện thực rộng lớn có ý nghĩa tiêu biểu
cho đời sống cách mạng của đt nước. Đánh giá về Nguyễn Khải với các sáng
tác sau 1980 với những tìm tòi thể nghiệm, trăn trở và cảm hứng “tinh thần dân
chủ và nhân bản” các nhà nghiên cứu luôn đặt Nguyễn Khải ở vị trí hàng đầu.
Nguyễn Khải tự nhận mình là “giọt nắng nhạt”, những trang viết của
ông luôn đậm nồng hơi thở cuộc sống, kịp thời đem đến cho người đọc nhiều
lí giải đúng đắn và khêu gợi suy nghĩ về những vn đề xã hội đang đặt ra
trong cuộc sống. Vương Trí Nhàn viết: “Ông là một trong những nhà văn dẫn
đầu của thời đại (…). Muốn tìm hiểu con người và thời đại trong tất cả cái
hay cái dở của họ, nhất là muốn hiểu ý nghĩ của họ, đời sống tinh thần của
họ, phải đọc Nguyễn Khải”.
3. Nguyễn Khải cố gắng nhập cuộc thật sự như một con người có suy
nghĩ, đi vào dòng đời với ý định “qua sự việc hàng ngày” dày đặc, bề bộn,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
phức tạp mà nhìn thy cái chân lí ở bề sâu đời sống. Dưới ngòi bút của nhà
văn, cuộc đời không hiện ra đơn điệu, phẳng lặng, dịu dàng, êm đẹp. Ông
muốn đi sâu vào cuộc sống thực với tt cả sự phong phú, sinh động, với tt cả
mộc mạc thô nhám, sù sì của nó. Ông không né tránh, ngược lại, nhiều khi
chủ động xông vào những hiện thực gai góc. Nguyễn Khải muốn đào xới,
phanh phui để từ đó tìm ra sự thật. Ông thâm nhập những mũi nhọn của cuộc
sống, nơi đang diễn ra những đu tranh gay gắt. Hiện thực trong tác phẩm của
Nguyễn Khải là hiện thực luôn “có vấn đề” là những “mảnh đất nóng” đang
sôi sục những sự kiện, hiện tượng phức tạp và đó là cuộc đu tranh trong con
người. Những mâu thuẫn xung đột trong tâm tư tình cảm, trong những mâu
thuẫn dằng dịt của xã hội. Tiểu thuyết Nguyễn Khải luôn có những “xung
đột” có “chiến trường” mặt trận tư tưởng giăng trải khắp nơi, ở đâu cũng có
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nghiên cứu về Nguyễn Khải và các sáng tác của Nguyễn Khải từ trước
đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu quan trọng. Chúng ta có thể kể
một số nhà nghiên cứu và phê bình quen thuộc như: Lại Nguyên Ân, Hà Minh
Đức, Phan Cự Đệ, Đào Thuỷ Nguyên, Nguyễn Văn Hạnh, Đoàn Trọng Huy,
Vương Trí Nhàn, Trần Đình Sử, Bích Thu, Chu Nga, Huỳnh Như Phương…
Tuy Nhiên các tác giả trên mới chủ yếu đi sâu vào vn đề Nguyễn Khải với
con người và các chặng đường sáng tác văn học gắn với dân tộc và thời đại,
cùng phong cách Nguyễn Khải và sức chinh phục sáng tác của Nguyễn Khải
đối với bạn đọc cũng như chuyện văn chuyện đời của ông.
Hầu như cho đến nay, chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu
về phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải trong tiểu thuyết sau 1980. Nếu có chỉ
là những ý kiến riêng lẻ, những nhận xét khái quát, lẻ tẻ hay các bài viết về
phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải.
Công trình đầu tiên có tính “tổng quát” về tác gia Nguyễn Khải là:
“Đặc điểm của ngòi bút hiện thực Nguyễn Khải” của Chu Nga in trong tạp
chí văn học số 2 năm 1974. Sau đó là bài “Đặc điểm sáng tác Nguyễn Khải”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
in trong cuốn “Tác gia văn xuôi Việt Nam hiện đại sau 1975”, Chu Nga đã
đánh giá một số đặc điểm sáng tác của Nguyễn Khải nhưng mới chỉ mang tính
nhận diện ban đầu.
Năm 1983, công trình nghiên cứu về tác gia Nguyễn Khải in trong cuốn
“Nhà văn hiện đại 1945-1975, tập 2” nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ khẳng
định: “Nguyễn Khải là cây bút trí tuệ luôn luôn suy nghĩ sâu lắng về những
vấn đề cuộc sống đặt ra và cố gắng tìm một lời giải đáp thuyết phục theo
cách riêng của mình. Cho nên trong tác phẩm của nhà văn, thông qua những
sự kiện xã hội, chính trị có tính chất thời sự nóng hổi, bao giờ cũng nổi lên
người, triết lí sống” (Nguyễn Văn Lưu); “Nguyễn Khải và Thời gian của
người” (Vũ Quần Phương) Đặc biệt trong những năm gần đây, nhiều luận
văn thạc sĩ và các luận án tiến sĩ khoa học ngữ văn đã chọn Nguyễn Khải làm
đối tượng nghiên cứu.
Nhìn chung những công trình và bài viết về Nguyễn Khải chỉ tập trung
vào quan điểm sáng tác, phong cách nghệ thuật, hướng tiếp cận, nhân vật
trong sáng tác của Nguyễn Khải. Hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào
nghiên cứu riêng về phong cách tiểu thuyết Nguyễn Khải sau 1980. Tuy
nhiên, những công trình nghiên cứu trên là những gợi ý quý báu cho chúng tôi
trong việc nghiên cứu và xác định một khuynh hướng tiếp cận mới với đề tài
“Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải trong tiểu thuyết sau 1980”. Với hướng
tiếp cận này, chúng tôi muốn góp một tiếng nói vào sự khẳng định tài năng
nghệ thuật của Nguyễn Khải trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Với đề tài “Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải trong tiểu thuyết sau
1980”,chung tôi tập trung vào tiểu thuyết Nguyễn Khải sau 1980 (Thời gian
của người, Một cõi nhân gian bé tí, Thượng đế thì cười). Nghiên cứu làm rõ
phong cách tiểu thuyết mang đậm phong cách thông tn, mang tính hiện thực
và gần gũi với cuộc sống hàng ngày, nhưng vẫn đề xã hội bức xúc đang đặt ra
trong cuộc sông. Đúng như nhà văn đã tuyên bố “Tôi thích cái hôm nay, cái
hôm nay ngổn ngang bề bộn bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
dãy những biến động, những bất ngờ mới là mảnh đát phì nhiều cho các cay
bút thả sức khai vỡ”(Gặp gỡ cuối năm).
4. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu và các vn đề phong cách nghệ thuật qua ba tiểu
thuyết sau 1980 của Nguyễn Khải, (Thời gian của ngƣời, Một cõi nhân gian
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn sẽ được
triển khai trong ba chương:
Chương 1: Phong cách nghệ thuật và sự thay đổi đề tài trong tiểu
thuyết Nguyễn Khải.
Chương 2: Xu hƣớng triết luận trong tiểu thuyết Nguyễn Khải sau 1980.
Chương 3: Ngƣời kể chuyện tƣờng minh, ngôn ngữ chủ thể và giọng
văn triết lí.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ SỰ THAY ĐỔI ĐỀ TÀI
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI
1.1. QUAN NIỆM VỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT
Phong cách là khái niệm đã từ rt lâu trong sáng tác và nghiên cứu văn
học nghệ thuật. Ngay từ thời cổ đại, người Hi lạp đã dùng từ “style”, người
La Mã dùng từ “Stylus”, đến người Pháp dùng chữ “Style” chỉ dụng cụ để
viết (một đầu nhọn dùng để viết, đầu tù để xóa chữ viết trên một tm bảng).
Sau này “Style” được dùng chỉ nét bút, cách viết, và phong cách như nghĩa
của Buy phông mà Mác đã có lần nhắc tới “phong cách là người”.
Hiện nay phong cách là một khái niệm được sử dụng rộng rãi ở nhiều
lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó có hoạt động sáng tác và nghiên
cứu văn học nghệ thuật. khái niệm về phong cách nghệ thuật được hiểu theo
nhiều cách khác nhau. Một số nhà nghiên cứu cứ xem phong cách như là hệ
thống những đặc điểm về mặt hình thức tạo nên tính độc đáo của tác phẩm
những đặc điểm của cá tính sáng tạo của nhà văn, sự hoàn chỉnh của nhận
thức nhà văn và cuộc sống và cái nhìn của nhà văn đối với thế giới. Với quan
niệm như vậy yêu cầu nhà văn thực sự có tài năng khi xây dựng tác phẩm của
mình phải đi tìm những biện pháp và phương tiện độc đáo để thể hiện những
tư tưởng và hình tượng nghệ thuật. Vì lẽ đó làm cho tư tưởng và hình tượng
nghệ thuật của nhà văn trở nên độc đáo, hp dẫn, lôi cuốn, gần gũi với đọc
giả. Điều đó đồng nghĩa với việc nhà văn đã tạo ra một phong cách riêng của
mình. Theo ông có thể định nghĩa ngắn gọn thì phong cách: “như thủ pháp
biểu hiện cách khai thác hình tượng đối với cuộc sống, như thủ pháp thuyết
phục và thu hút độc giả” [51,154]. Về vn đề thống nht hai mặt nội dung và
hình thức tạo nên phong cách nghệ thuật nhà văn, ông khẳng định: “Trong sự
xây dựng phong cách của tác phẩm nghệ thuật không chỉ thể hiện về đặc thù
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
của hình thức mà còn thể hiện cả về đặc thù của những mặt nhất định của nội
dung”. Quan điểm này được các nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam đồng tình.
Vn đề phong cách nghệ thuật là tổng hợp nhiều yếu tố cu thành tác phẩm chứ
không chỉ một vài yếu tố đơn lẻ, vụn vặt. Tính độc đáo của sự sáng tạo văn học
và sự cảm thụ tinh nhạy, năng động của nhà văn đã hun đúc thành phong cách
nghệ thuật. Các yếu tố thế giới quan, cảm hứng sáng tạo, ngôn ngữ, giọng điệu,
sự độc đáo trong xây dựng hình tượng nghệ thuật đều tạo nên sự riêng biệt của
phong cách nghệ thuật nhà văn và những yếu tố đó là căn cứ để phân biệt phong
cách nhà văn này với phong cách nhà văn khác.
Lí luận văn học đưa ra định nghĩa về phong cách “phong cách là chỗ
độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ thể hiện
trong sáng tác của những nhà văn ưu tú”. Tính độc đáo của tác phẩm văn học
được đề cao ở đây đó là vẻ riêng, cái ít thy ở các nhà văn khác nhưng lại xut
hiện thường xuyên trong nhà văn và có tính cht bền vững nht quán. Phong
có những đặc điểm về tư tưởng và nghệ thuật khác nhau. Những đặc điểm này
biểu hiện sự lựa chọn và đánh giá những sự việc và nhân vật miêu tả ở bản
thân sự miêu tả, ở cách kết cấu tình tiết, khắc họa tính cách , vận dụng ngôn
ngữ thể tài tất cả những đặc điểm ấy tổng hợp lại thành phong cách của nhà
văn”. Ông khẳng định thêm: “phong cách của mỗi nhà văn là hiện tượng cố
định nó luôn phát triển và cải tiến, trở nên phong phú hơn với sự trưởng
thành về vốn sống tư tưởng nghệ thuật của nhà văn” [75].
Tôn Thảo Miên trong “Về khái niệm phong cách cá nhân của nhà văn”
thừa nhận: “phong cách là một hệ thống mà tất cả các yếu tố nằm lẫn nhau
trong sự thống nhất. Sự thống nhất của nội dung và hình thức là đặc trưng cơ
bản của phong cách”.
Như vậy, phong cách luôn là vn đề thời sự trong phê bình và được các
nhà văn, nhà nghiên cứu văn học rt mực quan tâm đến. Phong cách có thể
được hiểu theo nhiều cách tùy theo đặc điểm và hướng nghiên cứu của mỗi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
nhà nghiên cứu. Nó có thể được hiểu theo sự quan hệ với phương pháp sáng
tác và thế giới quan của nhà văn, có thể được hiểu thêm về yếu tố hình thức
cu tạo nên tác phẩm văn học, hoặc là sự kết hợp, thống nht hai yếu tố nội
dung và hình thức nghệ thuật. Quan điểm phong cách là sự kết hợp hai yếu tố
nội dung và hình thức nghệ thuật có sức thuyết phục và được nhiều nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước tán đồng hơn cả. Bởi vì nói đến phong cách
là nói đến khả năng chinh phục bạn đọc của nhà văn. Trong khi để tạo nên
một tác phẩm văn học có giá trị thực tế thì cần đến sự kết hợp, thống nht của
nhiều yếu tố chứ đâu chỉ cực đoan một vài yếu tố riêng lẻ, vụn vặt. Chính vì
vậy các nhà nghiên cứu đều thống nht phong cách là quy luật thống nht các
yếu tố của chỉnh thể nghệ thuật, là một biểu hiện của tính nghệ thuật.Trong
luận văn này cúng tôi xem xét văn học theo quan điểm lí thuyết này. Bên cạnh
Tiểu thuyết Xung đột được viết từ tháng 3 năm 1957 đến tháng 4 năm
1961, đó là thời điểm đời sống xã hội có những xáo trộn phức tạp. Xung đột đã
đưa ra được nhiều vn đề có ý nghĩa. Đó là vn đề mê tín dị đoan và niềm tin
tôn giáo trong người nông dân bị lợi dụng. Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính
trị, con đường mà tôn giáo chân chính và chủ nghĩa xã hội phải đi qua. Một vn
đề được đặt ra là lực lượng nào sẽ đứng lên chi phối xã hội? Nông thôn sẽ đi về
đâu? Tiếp tục đi theo con đường đã đi trong kháng chiến hay trở lại con đường
u tối do thực dân và các thế lực tôn giáo phản động khống chế? Đó là tt cả
những vn đề được Nguyễn Khải đặt ra trong tác phẩm này.
Năm 1958 - 1960, đề tài xây dựng quê hương mới và hàn gắn vết
thương chiến tranh, với lời kêu gọi của Đảng “xây dựng Tây Bắc thành một
hòn ngọc giàu đẹp của tổ quốc”. Nguyễn Khải cũng đã có mặt ở nông trường
Điện Biên vào những ngày y, và chính nơi từng là bãi chiến trường đẫm máu,
ngòi bút nhạy cảm của Nguyễn Khải đã cho ra đời những tác phẩm: Mùa lạc,
Đứa con nuôi, Ngƣời tổ trƣởng máy kéo… Trong những truyện này, Nguyễn
Khải phản ánh cuộc sống của những con người ở nông trường Điện Biên. Đó là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
những hình ảnh mới nht, điển hình nht của miền Bắc nước ta thời kì y. Tại
đây, những con người đã vượt lên trên mọi gian khổ khó khăn, hi sinh, nay lại
chung sức xây dựng cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa. Những người chiến sĩ
cách mạng năm xưa cùng hàng ngàn hàng vạn thanh niên miền xuôi đang ra
sức xây dựng một xã hội mới bình đẳng, thân thiện. Những mối quan hệ tốt đẹp
giữa người với người đang từng ngày nảy nở hồi sinh.
Tầm nhìn xa lại là một vn đề khác nữa trong phong trào Cách mạng
xã hội chủ nghĩa được Nguyễn khải thể hiện kịp thời. Cốt truyện giản dị xoay
quanh công việc của đội ngũ lãnh đạo xã Đồng Tiến trong khoảng thời gian
thật ngắn ngủi từ khi công trường xây dựng hoàn thành. Thông qua nhận thức
hình là Đồng Tiến tỉnh Phú Thọ. Đó là mặt trận Cồn Cỏ năm 1965, nơi rát lửa
chiến tranh. Nói chung Nguyễn Khải đã tới tt cả những điểm nóng nht của
đt nước để tìm hiểu thực tế và để viết. Những trang viết của ông đã đáp ứng
yêu cầu của đời sống và hình như ở mỗi nơi ông đến đều để lại những trang
sách có giá trị. Có thể nói chặng đường sáng tác trước 1975 của ông đã cơ bản
đáp ứng được yêu cầu của thời đại một nền văn học phục vụ chính trị, cổ vũ
chiến đu, một nền văn học hướng về đại chúng, một nền văn học mang tính
dân tộc, tính nhân dân sâu sắc và tràn đầy cảm hứng lạc quan.
1.3. SÁNG TÁC NGUYỄN KHẢI SAU 1975: “CẢM HỨNG THẾ SỰ
- ĐỜI TƢ”
Sau 1975, chiến tranh kết thúc, hòa bình, độc lập, được thực hiện trên
cả nước . Nhưng cuộc sống vốn không thuận chiều. Cả một dân tộc vốn quen
sống trong bao cp nay đứng trước một nền kinh tế mở với quy luật thị trường
khắc nghiệt nên không tránh được những khó khăn thách thức. Đã có lúc sự
khó khăn về kinh tế, sự mở của hội nhập vội vàng đã làm cho đời sống đt
nước có những thay đổi. Đã có lúc kinh tế và đồng tiền đã làm mt đi những
chân lí của một thời, những chuẩn mực đạo đức trong gia đình bị đảo lộn,
thuần phong mĩ tục bị phá vỡ… Cùng với những thay đổi lớn lao của đời sống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
chính trị, kinh tế và xã hội của đt nước, lịch sử văn học bước sang một giai
đoạn mới. Khi nghiên cứu tiến trình vận động của văn học Việt Nam từ sau
1975, nhà nghiên cứu văn học La Khắc Hòa trong bài “Nhìn lại các bước đi,
lắng nghe những tiếng nói” cho rằng: “Có thể tạm chia các cuộc vận động đổi
mới của văn học Việt Nam sau 1975 thành ba chặng: 1975-1985, 1986-1991
và 1992 đến nay”. Và ở mỗi chặng đường, văn học lại có những đặc điểm riêng
mang đậm du n lịch sử.
Như trên đã trình bày, sáng tác của Nguyễn Khải giai đoạn trước
giọng độc thoại đầy tự tin như muốn “đi guốc vào bụng thiên hạ” sang giọng
đối thoại nhũn nhặn, khiêm nhường, một cách nói lp lửng dè dặt và hạ giọng
trước cuộc đời. Thế giới nhân vật của Nguyễn Khải thời kì này thật phong
phú đa dạng: từ già đến trẻ, từ thông minh tháo vt đến vụng về, lạc thời bế
tắc… ở đó những con người trẻ tuổi đầy nhiệt tình với lí tưởng mà mình tin
yêu như Bình Gặp gỡ cuối năm, như Giang, Duy Vòng sóng đến vô cùng;
những con người giỏi tính toán cho việc làm ăn của mình như Định (Cái thời
lãng mạn, Lộc Chúng tôi và bọn hắn, Hải, Châu Một cõi nhân gian bé tí),
những người có tuổi như Hợp Ngƣời kể chuyện thuê, ông Ba Hai ông già ở
Đồng Tháp Mƣời… và còn có những con người những số phận bt trắc trớ
trêu, những người phụ nữ “suốt đời chỉ làm thôi, làm không biết mệt nhọc, đến
ốm đau, đến nguy hiểm” như chị Vách Đời khổ, Như hai ông cháu Ông cháu,
như chị Phúc Chúng tôi và bọn hắn… Đến thời kì này nhân vật trong các sáng
tác của ông là những người bình thường xung quanh mình, những người trong
gia đình, bạn bè đồng nghiệp. Một bà cô suốt đời chăm lo giữ gìn gia phong
cho một dòng họ Nếp nhà, Bà cụ tầm thường mà cách ứng xử lại danh giá
ngƣời của ngày xƣa…
Cách mạng mùa xuân 1975, đt nước thống nht, sau thiên kí sự mang
tên Tháng ba ở Tây Nguyên, tác phẩm như sự tổng kết cho đề tài về cuộc
kháng chiến giải phóng dân tộc, Nguyễn Khải lại có mặt ở “Những phòng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
khách sang trọng ở thành phố Hồ Chí Minh”, đến với một hiện thực hoàn
toàn mới mẻ, đó là cuộc sống của miền Nam sau ngày giải phóng. Thắng lợi
của cuộc đu tranh ba mươi năm của dân tộc giờ đây không chỉ là chuyện Bắc
Nam xum họp, non sông thu về một mối, mà là đem lại sự đổi thay về mọi
phương diện đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và cả những thói quen trong
đời sống sinh hoạt hàng ngày. Sau những ngày hội non sông, sau cờ hoa của
cao đẹp của cách mạng và để họ tự nguyện xác nhận, sống chung và đóng góp
vào xây dựng cuộc sống mới.
Tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm, tiếp tục chủ đề lựa chọn trong kịch
Cách mạng. Ở đây là sự lựa chọn thái độ chính trị của những người đã từng
gắn bó quá sâu sắc với chế độ cũ. Có người gọi đó là cuộc đối thoại của
những người trí thức. Đúng, đây là cuộc đối thoại của những người vừa thông
minh vừa thạo đời, cùng hiểu biết về các vn đề của xã hội.
Bữa tiệc đêm cuối năm, do bà Hoàng tổ chức thật thịnh soạn, mà những
người khách được mời là những người rt khác nhau về lứa tuổi và khuynh
hướng chính trị. Chồng chị Hoàng - một giáo sư trường quốc gia hành chính;
Quý - một luật sư, viên chức Bộ ngoại giao trong chính quyền cũ; Chương -
viện trưởng đại học, Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, một thượng nghị sĩ; Quân-
một chiến sĩ tình báo cách mạng, Việt - một nhà văn cách mạng… Đó là thời
điểm năm năm sau ngày giải phóng, với những biến đổi của cả xã hội. Bà
Hoàng - một người đàn bà trong dư thừa no đủ, một người quen sống trong
rực rỡ và hào nhoáng của lời khen và sự tán tụng. Bây giờ, bà Hoàng phải
sống trong một xã hội mới không còn sự cưng chiều. Bao nhiêu dự định
không thành, người đàn bà quý phái đó đã đưa ra lời từ chối quyết liệt trước
trật tự mới, tuyên bố không nói chuyện chính trị, không hợp tác với chế độ,
không chp nhận chế độ mới: “Không một ai có thể sống nổi với tâm trạng bị
dồn thua mãi. Tôi đã quyết định đứng hẳn lại, đứng nguyên một chỗ không xê
dịch” [26;16].