nghệ thuật dựng truyện trong tiểu thuyết orhan pamuk - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thị Quỳnh Loan NGHỆ THUẬT DỰNG TRUYỆN
TRONG TIỂU THUYẾT ORHAN PAMUK LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC


Mã số: 60 22 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ THUẬN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trần Thị Thuận, người thầy kính mến đã
hết lòng hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô trong Khoa Văn học nước ngoài – Trường Đại
học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh cùng các bạn trong lớp Cao học VHNN K.19 đã nhiệt tình
giúp đỡ tôi trong suốt khóa học vừa qua.
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những
đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
Những lời cảm ơn sau cùng, tôi trân trọng gửi đến gia đình – những người luôn hết

5T3.1.2 Kết cấu lồng ghép5T 55
5T3.25T 5TNhân vật5T 61
5T3.2.1 Kiểu nhân vật trong tiểu thuyết của Orhan Pamuk5T 61
5T3.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật5T 70
5T3.35T 5TKhông gian và thời gian5T 79
5T3.3.15T 5TKhông gian5T 80
5T3.3.25T 5TThời gian5T 87
5T3.45T 5TGiọng điệu trần thuật :5T 93
5T3.4.15T 5TChất triết luận5T 93
5T3.4.25T 5TTính đa thanh5T 96
5TCHƯƠNG 4 : ORHAN PAMUK VỚI NHỮNG ĐÓNG GÓP CHO TIỂU THUYẾT VÀ
NHỮNG TRẢI NGHIỆM NHÂN SINH
5T 103
5T4.15T 5TNhững đóng góp cho tiểu thuyết5T 103
5T4.1.1 Mô hình tiểu thuyết pha trộn5T 103
5T4.1.25T 5TNghệ thuật của sự đan dệt [50]5T 107
5T4.25T 5TNhững trải nghiệm nhân sinh5T 112
5T4.2.1 Hành trình sáng tạo nghệ thuật5T 112
5T4.2.2 Huzun - hành trình của một nỗi niềm5T 117
5TKẾT LUẬN5T 122
5TTHƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO5T 125
5TPHỤ LỤC5T 131
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Orhan Pamuk tại Việt Nam hiện nay chỉ giới hạn ở một số bài viết, bài giới thiệu, bài cảm
nhận…đăng rải rác trên các tạp chí (chủ yếu qua internet). Trong đó, có một số bài viết có giá trị,
thể hiện sự am hiểu sâu sắc cũng như những cảm nhận tinh tế về những tác phẩm tiêu biểu của Orhan Pamuk (đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản tại Việt Nam). Trước hết, có thể kể đến bài
viết Orhan Pamuk, nhà văn của những nhịp cầu của Đỗ Tuyết Khanh.: “Người dân Thổ hâm mộ
sách của Pamuk không phải chỉ vì cốt truyện hấp dẫn, đầy tình tiết và tình huống quyến rũ, lời văn
sống động và cấu trúc độc đáo, mà còn vì họ tìm thấy ở đấy nhịp tim của chính họ, những ray rứt họ
chia sẻ trước những mâu thuẫn và giằng xé của đất nước.” ; tác phẩm của Pamuk “nêu lên vấn đề
bản sắc, cá nhân và dân tộc, là trực diện với những mâu thuẫn giữa các giá trị Đông và Tây, giữa
những gò bó và truyền thống phong kiến của văn hóa hồi giáo và những thách đố đặt ra cho một xã
hội muốn vươn lên thành một nước phát triển và hội nhập Liên hiệp châu Âu.” ; “Sách của Pamuk
có chiều kích triết lý, nhiều ẩn dụ sâu sắc, vang vọng âm hưởng của văn học thế giới, đem nhiều
thích thú cho người trí thức, nhưng cũng dễ đọc, hấp dẫn đối với độc giả "bình dân", gần gũi với
tâm tư của họ. Pamuk là gạch nối giữa người dân các thành phố Âu hoá của thời đại Internet và
những nông dân ở các vùng quê xa xôi của đất Thổ Nhĩ Kỳ” [64]
Nhà nghiên cứu Phan Nhật Chiêu : Orhan Pamuk – nghệ thuật không có trung tâm viết :
“Orhan, dù được so sánh với hầu hết những khổng lồ văn chương hiện đại từ William Faulkner,
Thomas Mann, Virginia Woolf, James Joyce, Franz Kafka, đến Borges, Calvino và Eco… vẫn là
Orhan, một thanh điệu độc đáo trong thế giới đa thanh này. […] Giọng điệu của Orhan là giọng
điệu của đa thanh. Ông đem vào tiểu thuyết cái đa thanh như ta vẫn thấy trong cuộc sống, vốn là
bản chất của cuộc sống.” Nhà nghiên cứu khẳng định rằng sức hấp dẫn tiểu thuyết của Orhan
Pamuk chính là do nhà văn đã “không chọn Đông hay Tây làm trung tâm cho cái nhìn của mình.” ;
và rằng : “Ông không nói với ta về một chân lý tuyệt đối.” mà “trong thế giới của Orhan, mỗi cá
thể sẽ tìm ra chân lý của mình.” [50]
Trong bài viết “Tên tôi là Đỏ” – bản đại luận về nghệ thuật, Mai Sơn đã thể hiện những cảm
nhận sâu sắc : “một cuộc đại nghị luận “chí tử” và mang tính triết lý về nghệ thuật, ở đây là nền hội
họa của Thổ Nhĩ Kỳ cuối thế kỷ 16” mà qua đó, nhà văn đã tập trung khắc họa chân dung những
người nghệ sĩ – “mỗi người là một thế giới bí ẩn mênh mông, nhưng thế giới đó cũng thật nhỏ bé

Quân, chính điểm này đã khiến cho tiểu thuyết Tuyết của Pamuk mang tính chính trị rất rõ nét, đồng
thời thể hiện “trong con người nhà văn của Orhan Pamuk có sự can đảm của một nhà nhân đạo chủ
nghĩa” khi ông dám đề cập đến “những chuyện khó chịu” (Lời tựa trên trang đầu cuốn Tuyết của
Orhan Pamuk – người viết chú thích) trên trang sách của mình. [86]
Nguyễn Thị Hải Hà trong bài phê bình mang tựa đề Đọc tác phẩm Snow (Tuyết) của Orhan
Pamuk : “sự xung đột Đông Tây trong cá nhân, trong quốc gia, và trên thế giới. Đứng về hàng ngũ
Tây phương là châu Âu, Frankfurt, Istanbul phần nằm trên địa phận châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ, và
Ka (nhân vật Ka - nhà thơ lưu vong – người viết chú thích). Đứng về hàng ngũ Đông phương là
phần lớn còn lại của Thổ Nhĩ Kỳ thuộc về châu Á, Kars, và tất cả những người dân, đa số là Hồi
giáo và người thiểu số Kurd ở trong Kars”.Theo bài phê bình trên, nhà văn Pamuk “có tham vọng
thay đổi quan điểm của châu Âu về những người Hồi Giáo và Thổ Nhĩ Kỳ, qua cách ông thể hiện
những nhân vật sống ở Kars, ở một thành phố hẻo lánh nghèo nàn thuộc về châu Á. Pamuk cho
rằng các quốc gia Hồi giáo, trong đó có Thổ Nhĩ Kỳ, đã bị hiểu lầm nghiêm trọng. Một thiểu số người Hồi giáo, trẻ và nông nổi, chủ trương dùng bạo động để bảo vệ danh dự Hồi giáo, thật ra chỉ
là một nhóm người trẻ tuổi, dễ bị lừa dối và lung lạc. Họ gây rối loạn bởi vì nhàm chán do dư thì
giờ nhưng thiếu phương tiện để tự xây dựng đời sống và hạnh phúc của riêng họ.”Nguyễn Thị Hải
Hà, qua bài viết trên, tin tưởng rằng tác phẩm Tuyết sẽ “giữ một vai trò quan trọng trong việc
khuyến khích Đông Tây tìm hiểu lẫn nhau để giữ hòa bình trên thế giới khi mà cuộc chiến giữa Tây
phương và các quốc gia Hồi giáo như Afghanistan và Iraq vẫn còn đang tiếp diễn.” [55]
Nói chung, tiến hành nghiên cứu về một hiện tượng văn học đương thời như Orhan Pamuk có
nhiều thuận lợi, song khó khăn cũng không ít. Các tài liệu, bài viết về tác phẩm của nhà văn đương
đại Thổ Nhĩ Kỳ mà chúng tôi vừa điểm qua đa phần chỉ mới dừng lại ở một số nhận định mang tính
khái quát. Chúng tôi hiện vẫn chưa tìm được nguồn tài liệu, công trình khoa học chuyên sâu nào về
tác giả - tác phẩm để làm nền tảng.
2.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của Orhan Pamuk trên thế giới
Tuy Orhan Pamuk là một hiện tượng nổi bật trong nền văn học đương đại, nhưng hiện nay,
các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của ông đa phần được giới hạn ở một số bài cảm nhận, phê
bình, hoặc một số bài giới thiệu ở mục “điểm sách”… xuất hiện trên các tạp chí tại Mỹ, Anh,

2TPháo đài trắng2T” tuyệt vời không phải bởi nó đã tái hiện một thời đại, mà vì nó đã khám phá bí
mật cá nhân con người và trên hết vì Pamuk đã gói gọn những suy tư đó trong một câu chuyện đơn
giản đến nhường ấy.” [38]
Với tạp chí
2TIndependent :
“Cuốn tiểu thuyết xuất sắc của Orhan Pamuk về những ảnh hưởng ngoại lai… đã đem đến cho
chúng ta một cái nhìn điềm tĩnh và thành kiến một cách tao nhã vào kết quả của phát tán văn hoá.
Tác phẩm phảng phất âm hưởng của Calvino, nhưng cách viết và thế giới quan của tác giả lại gần
hơn với Kazuo Ishiguro.” [38]
Nhận xét về cuốn tiểu thuyết thứ sáu của Orhan Pamuk : Tên tôi là Đỏ, S.B.Kelly - tạp chí
Scotland on Sunday khen ngợi : “một hỗn hợp sắc bén giữa truyện vụ án, ngụ ngôn hậu hiện đại và
tiểu thuyết lãng mạn lịch sử “Tên tôi là Đỏ”, với những câu chuyện lồng trong chuyện, tư biện
triết học và những nhân vật phức tạp, là một minh chứng tuyệt vời về những gì tiểu thuyết có thể
làm được ”. [39]
John Updike - tạp chí The New Yorker nhận định :
“Pamuk đã chứng tỏ sự kiên nhẫn và khả năng xây dựng của những người kể chuyện thế kỷ 19 và
các truyền nhân của họ, Proust và Mann… và năng lực tưởng tượng của ông được gắn kèm với một
cảm quan sâu xa về bí ẩn và song nghĩa.” [39]
Philip Hensher - tạp chí Spectator, viết :
“Huyền hoặc, điên đầu, kích thích…Khác hoàn toàn so với thể loại thriller lịch sử truyền thống
phương Tây…Đây là một cuốn tiểu thuyết tuyệt diệu, mơ màng, nồng nàn và tráng lệ, mang chất
phương xa một cách độc đáo và lôi cuốn nhất.” [39] Cũng tại trang web 5T ở bài viết Snow (Tuyết), Mary
Whipple đã dành cho Tên tôi là Đỏ những lời khen ngợi nồng nhiệt : “Many-leveled, beautifully
wrought, and complex in its themes, this is a novel which thoughtful western readers will want to
explore, a haunting novel rich with insights which should not be ignored.” [69]
(Tạm dịch : “Nhiều tầng bậc, ngôn từ đẹp đẽ, và phức tạp trong các chủ đề của nó, đây là một cuốn
tiểu thuyết mà độc giả phương Tây thâm trầm sẽ muốn khám phá, một cuốn tiểu thuyết ám ảnh chứa

và Chandler.”)
Trong bài viết sắc sảo có nhan đề Giết chóc và niềm vui (Murder and joy), khi nhận định về
văn phong cũng như sự am hiểu của Orhan Pamuk về lịch sử truyền thống hội họa mang dấu ấn thời
Ottoman, Dick Davis đã không dấu sự khâm phục khi ông viết: “Pamuk has written a book that is
over 400 pages long, and which has all the exuberance and richly descriptive density of a
nineteenth-century European novel. He can sound like Stendhal (on love), or Dostoevsky (on guilt
and sin), or Dickens (in his sudden homing in on the memorable detail that brings a moment alive
before the reader's eyes), or Balzac (in the marvellous plethora of evocative particulars with which
he can describe a scene). His use of the Eastern tradition is equally virtuosic (…) His knowledge of
the details of life in sixteenth-century Istanbul is clearly extensive and used to often ravishing effect.”
[52]
(Tạm dịch : “Pamuk đã viết một cuốn sách hơn 400 trang, với lối viết hoa mỹ và cầu kỳ của một
cuốn tiểu thuyết châu Âu thế kỷ XIX. Tác phẩm của ông có âm hưởng của Stendhal (về tình yêu),
hoặc Dostoevsky (về lỗi lầm và tội ác), hoặc Dickens (về những hồi ức đột ngột tái hiện sống động
trước mắt người đọc), hay Balzac (ở những liên tưởng phong phú kỳ diệu khi miêu tả cảnh quan).
Việc vận dụng những truyền thuyết phương Đông của ông cũng rất lão luyện (…) Những hiểu biết
của ông về các chi tiết của cuộc sống ở Istanbul thế kỷ XVI rõ ràng là phong phú và được sử dụng
rất hiệu quả.” ).
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
3.1 Đối tượng nghiên cứu :
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu khảo sát 3 tiểu thuyết đã được dịch ở Việt Nam :
1. Pháo đài trắng (2008), (Nguyễn Thị Kim Hiền dịch), NXB Trẻ, TP.HCM
2. Tên tôi là Đỏ (2008), (Phạm Viêm Phương và Huỳnh Kim Anh dịch), NXB Văn học, Hà Nội
3. Tuyết (2008), (Lê Quang dịch), NXB Văn học, Hà Nội
Bên cạnh đó, chúng tôi có tham khảo thêm Istanbul, hồi ức và thành phố (2010), (Nguyễn Quốc Trụ
dịch), NXB Văn học, Hà Nội cùng một số bài viết của Pamuk trên các tạp chí nước ngoài.
3.2 Phạm vi nghiên cứu : Với đề tài : “Nghệ thuật dựng truyện trong tiểu thuyết của Orhan Pamuk”, chúng tôi sẽ


UChương 1U : Tiểu thuyết Orhan Pamuk và những tiền đề sáng tạo
Ở chương này, chúng tôi sẽ triển khai một số vấn đề khái quát về nền văn học Thổ Nhĩ Kỳ và những
nét đặc trưng về đời sống văn hóa – tinh thần của dân tộc Thổ. Qua đó, chúng tôi sẽ làm rõ chân
dung văn học của Orhan Pamuk, cùng những dấu ấn của nền văn học truyền thống, của đời sống văn
hóa – tinh thần dân tộc đã được phản ảnh trong những sáng tác của ông.
UChương 2U : Tiểu thuyết Orhan Pamuk: những câu chuyện thế sự
Qua việc khảo sát 3 tiểu thuyết tiêu biểu : Pháo đài trắng, Tên tôi là Đỏ, Tuyết, chúng tôi sẽ đi sâu
khám phá các chủ đề quen thuộc thường xuyên tái xuất hiện trong các sáng tác của Orhan Pamuk,
nhằm làm sáng tỏ thế giới quan của nhà văn - điều đã làm nên phong cách sáng tác riêng biệt của
ông.
UChương 3U : Tiểu thuyết Orhan Pamuk : một số phương diện sáng tạo
Ở chương này, thông qua việc nghiên cứu kết cấu, nhân vật, không gian - thời gian, giọng điệu trần
thuật trong tiểu thuyết của Orhan Pamuk, chúng tôi sẽ làm rõ những sáng tạo của ông.
UChương 4U : Orhan Pamuk với những đóng góp cho tiểu thuyết và những trải nghiệm
nhân sinh
Ở chương này, chúng tôi sẽ tập trung chỉ ra những đóng góp quan trọng của Orhan Pamuk – với tư
cách là một tiểu thuyết gia đương đại - trên con đường đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết. Đồng thời,
chúng tôi sẽ khái quát những đóng góp của Orhan Pamuk – với tư cách là một con người thời đại –
trên con đường tìm kiếm những giải pháp cho sự hòa hợp – cảm thông – chia sẻ giữa các nền văn
hóa, các tôn giáo, các dân tộc.

kỷ 20. Và đến năm 1923, cuộc chiến giành độc lập thắng lợi đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ thống
trị của đế chế Ottoman, mở ra một thời kỳ đổi mới hoàn toàn cho đất nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại,
dưới sự lãnh đạo của Mustafa Kemal Ataturk – vị tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ.
Trải qua những năm tháng lịch sử đầy biến động đó, Thổ Nhĩ Kỳ đã lần lượt đón nhận những
luồng gió mới từ cả hai nền văn hóa phương Tây và phương Đông, để rồi theo thời gian, một quốc
gia đa văn hóa - nơi tụ họp của những nền văn minh lớn thế giới, nơi có sự kết hợp kỳ lạ giữa truyền
thống và hiện đại… được hình thành. Nền văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ với những nét giao thoa độc đáo ấy biểu hiện ở mọi khía cạnh : từ
khía cạnh tinh thần như ngôn ngữ, tư tưởng… đến khía cạnh vật chất như kiến trúc, trang phục…
Nếu có một lần đến với Thổ Nhĩ Kỳ, chắc hẳn chúng ta sẽ có được những cảm nhận sâu sắc
về nền văn hóa độc đáo, được hiện thân ở vẻ đẹp cổ kính của những công trình kiến trúc có lịch sử
hình thành dưới thời đế chế La Mã, đế chế Ottoman : những cung điện mái vòm tráng lệ, những đền
thờ Hồi giáo hùng vĩ vẫn đứng vững với mưa nắng, với thời gian. Tiêu biểu là thánh đường Hagia
Sophia (tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “trí tuệ thần thánh”, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là Ayasofya ) - ngôi thánh
đường lớn thứ 4 thế giới, lúc đầu do Hoàng đế Justinian thuộc triều đại Byzantine xây dựng năm
537 sau công nguyên, sau đó trở thành nhà thờ hồi giáo Ottoman, và nay trở thành bảo tàng lớn của
TP. Istanbul. Qua nhiều biến đổi, kiến trúc của Hagia Sophia hiện nay là sự kết hợp tuyệt mỹ của
những hình ảnh và hoa văn được trang trí bằng nghệ thuật Mosaic độc đáo (nghệ thuật ghép mảnh)
trên tường và trần, cùng với những hàng tháp nhọn xung quanh. Một sự kết hợp hài hòa đến kỳ lạ
giữa kiến trúc đặc trưng của nhà thờ Chính thống giáo La Mã và kiến trúc đặc trưng của đền thờ Hồi
giáo. Có thể nói, đây chính là một bằng chứng thật sống động cho sự giao thoa văn hóa – tôn giáo
đã diễn ra trong nhiều thế kỷ lịch sử của Thổ Nhĩ Kỳ.
Một công trình kiến trúc vĩ đại khác nữa là đền thờ Hồi giáo Sultan Ahmed (The Blue
Mosque) được xây dựng vào đầu thế kỷ XVII, là đền thờ Hồi giáo đẹp và lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ, và
được xem là biểu tượng của thành phố Istanbul. Các tín đồ hành hương gọi Sultan Ahmed là “Đền
thờ Xanh” (The Blue Mosque) vì các bức tường bên trong đền thờ được phủ gạch trang trí màu xanh
mô phỏng các dòng suối và các khu vườn thực vật rực rỡ. Có hơn 20 ngàn viên gạch men được làm
theo cách thủ công dùng để trang hoàng bên trong thánh đường, trên các viên gạch là hình ảnh của

đại ở nơi này còn thể hiện ở khu đô thị với những tòa nhà chọc trời, những khu thương mại đồ sộ,
sân bay quốc tế, tàu điện ngầm tối tân … cùng chia sẻ không gian với những con phố ngoằn ngoèo
quanh co, những con đường mấp mô, những dãy nhà với kiến trúc bằng đá xưa cũ nhuộm một màu
xám xịt u buồn ngay trước Quảng trường Taksim cổ kính; ở tấm khăn trùm đầu kín đáo của những
phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ theo đạo Hồi và trang phục quần jean – váy ngắn trên những hè phố tấp nập …
Sự kết hợp lạ lùng nhưng thú vị ấy cũng là một trong những lý do khiến cho danh hiệu “Thủ đô văn
hóa của Âu Châu” đã được trân trọng trao về cho Istanbul - năm 2010.
1.1.2 Tiền đề tôn giáo
Hồi giáo (còn gọi là đạo Islam, nghĩa là “vâng mệnh, quy phục Thượng Đế”), là một
5Ttôn
giáo
5T 5Tđộc thần5T thuộc nhóm các 5Ttôn giáo Abraham5T, ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 7 tại bán đảo Ả Rập.
Đây là tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới, sau
5TKitô giáo5T, và là tôn giáo đang phát triển nhanh nhất,
với số
5Ttín đồ5T hiện nay là 1,3 tỷ. [59]
Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia Hồi giáo. Điều này phần nào được phản ánh qua biểu tượng trên
lá quốc kỳ của Thổ. Biểu tượng này trùng hợp hoàn toàn với biểu tượng của Hồi giáo : vành trăng
lưỡi liềm tượng trưng cho Âm lịch Hồi giáo (bắt đầu tính từ năm 622 sau Công Nguyên - năm
Muhammad và cộng đồng Hồi Giáo từ Mecca di cư về ốc đảo Medina), ngôi sao là biểu tượng cho sự tuân phục thánh ý Chúa, bởi kinh Koran có viết : “Thiên Chúa đã dựng nên các vì sao để hướng
dẫn con người tới cùng đích”
Hồi giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ đã sớm có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt trong đời sống con người
Thổ. Tư tưởng thần bí, triết lý của đạo Hồi đã để lại dấu ấn đậm nét trong thơ ca dân gian Thổ (bắt
đầu phát triển mạnh vào thế kỷ 13, với các nhà thơ nổi tiếng như Yunus Emre, Sultan Veled, và
Seyyad Hamza), và trong những áng thơ ca
Divan trác tuyệt thời đế chế Ottoman.
Tiêu biểu là một câu thơ của Hayati Efendi - nhà thơ Divan thế kỷ 18 :

mình những năm đầu thế kỷ 20. Bắt đầu bằng việc La tinh hóa chữ viết Thổ, cho đến những thay đổi
triệt để về giáo dục, văn hóa, xã hội…Ông là vị lãnh đạo đầu tiên thiết lập quyền bình đẳng nam nữ,
trao cho người phụ nữ quyền bầu cử, nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vai trò của người phụ nữ trong
xã hội.
Nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ thế tục - dưới bàn tay lãnh đạo của Mustafa Kemal – đã trở nên hoàn
toàn khác biệt với những quốc gia Hồi giáo khác ở khu vực Trung Đông như Ả rập
5TKuwait5T, 5TQatar5T,
Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất,
5TOman5T, 5TYemen5T, 5TBahrain5T, 5TIraq5T …[96]. Từ một đế quốc suy
tàn, bị xâu xé bởi quân đồng minh trong chiến tranh thế giới thứ nhất, trở thành một quốc gia tân
tiến ngày nay.
Tuy nhiên, những mâu thuẫn, xung đột giữa nhà nước thế tục Thổ và các tổ chức Hồi giáo,
như đã nói trên, ngày càng thêm trầm trọng bởi nhiều lý do. Năm 1980, lệnh cấm đội khăn trùm đầu
ở trường Đại học được ban hành tại Thổ Nhĩ Kỳ đã gây nên làn sóng phẫn nộ nơi cộng đồng Hồi
giáo, bởi lệnh cấm này đã tước mất cơ hội được học Đại học của nhiều nữ sinh Hồi giáo. Điều này
đã khơi dậy những mâu thuẫn vốn có giữa những tổ chức Hồi giáo và nhà nước thế tục. Đây cũng là
sự kiện đã được nhà văn Orhan Pamuk phản ánh trong cuốn tiểu thuyết thứ bảy của ông – cuốn
Tuyết – sự kiện này được nhà văn mô tả như một nguyên nhân dẫn đến những vụ tự tử hàng loạt của
các nữ sinh nhằm bảo vệ quyền được đội khăn trùm đầu, và trở nên hành động “châm ngòi” cho
hành vi khủng bố của những tổ chức Hồi giáo cực đoan nhắm vào các tổ chức lãnh đạo thế tục.
Trở lại vấn đề trên, năm 2008, trước khi Tổng thống Abdullah Guel phê chuẩn dự luật bãi bỏ
lệnh cấm đội khăn trùm đầu đối với nữ sinh tại các trường Đại học vào ngày 9/2, ông đã “vấp” phải
sự phản đối dữ dội của một bộ phận không nhỏ người dân Thổ thuộc đảng phái đối lập theo đường
lối thế tục triệt để. Hơn 100.000 người đã đổ về quảng trường của thủ đô Ankara ngày 3/2/2008 để
biểu tình phản đối dự luật này. [90] Bên cạnh đó, Đảng Nhân dân Cộng hòa Thổ ( đảng đối lập theo
đường lối thế tục triệt để ) cũng đã có lời đe dọa rằng họ sẽ kiện lên Tòa án Hiến pháp vì cho rằng
việc bỏ lệnh cấm đội khăn trùm đầu tại các trường đại học vi phạm nguyên tắc thế tục.
Như vậy, có thể thấy rằng, tôn giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ là một vấn đề có ảnh hưởng nhiều mặt
trong đời sống xã hội của đất nước này. Điều này chính là một thử thách lớn đối với những người
cầm quyền, làm sao để đưa Thổ Nhĩ Kỳ khi bước vào thế kỷ 21 sẽ có thể đạt được sự hòa hợp, bình

được hình thành như hiện nay với vùng đất của người Kurd sinh sống nằm trong biên giới Thổ. Các
vùng có người Kurd khác được giao cho Anh và Pháp kiểm soát để rồi trở thành các địa phương của
Iraq và Syria theo một số hiệp ước. Từ đó, tộc người Kurd mặc nhiên trở thành một bộ phận dân cư
thuộc quyền kiểm soát của Thổ Nhĩ Kỳ.
Không thể phủ nhận rằng Mustafa Kemal – vị tổng thống đầu tiên của Thổi Nhĩ Kỳ đã có
công lớn trong việc cải tổ chính trị, xã hội và văn hóa triệt để, đặt nền móng cho một đất nước tiến
bộ theo mô hình Tây phương. Song chính công cuộc cải tổ này, với mục tiêu hàng đầu là xây dựng
một đất nước Thổ Nhĩ Kỳ đồng nhất về chủng tộc, ngôn ngữ cũng như tôn giáo, với những biện
pháp quyết liệt, thậm chí hung bạo, cưỡng bức, đã gặp phải sự kháng cự của các tổ chức Hồi giáo và
dân tộc thiểu số, đặc biệt là Kurd và Armenia. Trong khi, theo CIA – The world factbook (một tổ
chức cung cấp thông tin về lịch sử, con người, chính phủ, nền kinh tế, địa lý và các vấn đề xuyên
quốc gia) thì số người Kurd hiện sống ở Thổ Nhĩ Kỳ là 13 triệu (trong tổng số 26 triệu người Kurd
định cư rải rác trên toàn thế giới), chiếm khoảng 20% dân số Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1924, lệnh cấm
dùng tiếng Kurd của chính quyền Kemal ban hành đã khơi dậy làn sóng phẫn nộ, rồi biến thành cuộc bạo loạn ở một bộ phận người Kurd. Cuộc nổi loạn này đã bị chính quyền Thổ đàn áp tàn nhẫn.
Từ đó các chính quyền Thổ và cộng đồng Kurd lâm vào vòng bạo lực, nổi dậy, đàn áp và khủng bố
tiếp nối nhau, kéo dài cho tới ngày nay, chủ yếu xoay quanh khát vọng đòi quyền độc lập – tự trị
của người Kurd tại Thổ.
Được thành lập vào những năm 1970, Đảng Công nhân người Kurd (PKK) đã phát động một
cuộc chiến tranh vũ trang chống lại chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1984, kêu gọi thành lập một nhà
nước Kurd tự trị tại Thổ Nhĩ Kỳ. Tổ chức PKK bị Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ và EU xem là nhóm khủng bố
và áp dụng những biện pháp đàn áp không khoan nhượng. Năm 2007, trước tình hình căng thẳng đó,
tổng thống Mỹ G.Bush đã cam kết sẽ giúp Thổ Nhĩ Kỳ đấu tranh với tổ chức PKK. [71]

Cuộc chiến triền miên giữa hai bên từ năm 1984 tới nay đã làm hơn 40.000 người chết,
nhưng vẫn chưa hề có dấu hiệu kết thúc. Gần đây, vào tháng 6 năm 2010, một cuộc đổ máu bị xem
là nặng nề nhất trong nhiều năm qua xảy ra giữa quân đội Thổ Nhĩ Kỳ và các du kích người Kurd,
khiến cho 11 binh sĩ chính phủ và 12 tay súng người Kurd thiệt mạng ở tỉnh Hakkari gần biên giới

5Tngười Kurd5T
cũng căm ghét người Armenia. Một số khác bị giam giữ và bỏ đói đến chết trong các trại tập trung ở
sa mạc. [46]
Những sự kiện từ năm 1915 tới năm 1918 được người Armenia và đại đa số các nhà sử học
phương Tây coi là những vụ thảm sát hàng loạt, với con số người chết lên đến hơn 1 triệu người
(Trong khi vào năm 1914 có khoảng 2 triệu người Armenia sống tại Thổ ) Vì lý do đó, cộng đồng
Do Thái Armenia đã từng vận động sự công nhận chính thức những sự kiện trên là vụ “diệt chủng”
từ hơn 30 năm nay. Tuy có nhiều nước, dưới sức ép của Thổ Nhĩ Kỳ, đã không chính thức thừa
nhận những cuộc thảm sát người Armenia là diệt chủng, nhiều nước đã thông qua luật chính thức
công nhận thực tế cuộc diệt chủng: Pháp, Nga, Canada, Italia, Thụy Sĩ, Thụy Điển
, Hà Lan, Bỉ, Hy
Lạp, Síp, Slovakia, Uruguay, Argentina, Ba Lan, Liban, Cộng đồng châu Âu, nhiều bang tại Hoa Kỳ.
Tuy sự thật đã rõ ràng, chính quyền Thổ cho đến ngày hôm nay vẫn không chấp nhận cụm từ
“diệt chủng” khi nhắc đến sự kiện đó và luôn đàn áp, trừng phạt nặng nề những người Thổ nào dám
nhắc đến trang sử đen tối này. Dù vậy, trong cuốn tiểu thuyết thứ bảy của mình, cuốn Tuyết, nhà văn
Orhan Pamuk vẫn thẳng thừng phơi bày sự thật đó. Độc giả hẳn không quên đoạn đối thoại giữa Ka
và Ipek ở chương 4, khi cả hai “nói đến gian trưng bày riêng trong bảo tàng về cuộc thảm sát
Armenia” thì Ipek bảo : “một số khách du lịch đến đây chờ được xem chứng tích người Thổ tàn sát
người Armenia, cho tới khi kinh ngạc nhận ra câu chuyện hoàn toàn ngược lại” [40, tr.39]. Cũng
trong cuốn Tuyết, ở chương 31, trong cuộc họp chính trị, để phản bác những lời buộc tội phương
Tây về “các cuộc thập tự chinh, vụ sát hại dân Do Thái, những người bản xứ da đỏ ở Mỹ và số tín
đồ Hồi giáo Algeria bị Pháp giết”, có một nhân vật (nhà văn cố tình không nêu tên) đã đặt câu hỏi
thế này : “Hàng triệu người Armenia ở Kars và toàn xứ Anatolia đâu cả rồi ?”. Bằng giọng điệu
giễu cợt, nhà văn nói thêm : “Gã mật thám ghi chép mọi chuyện không nỡ ghi tên nhân vật này vì
thương hại. ” [40, tr.311].
Không chỉ viết sách, năm 2005, ông còn thẳng thừng phát biểu trên một tờ báo Thụy Sĩ rằng :
“Chúng ta đã giết hại 1 triệu người Armenia và 30.000 người Kurd trên đất này. Và không ai ở Thổ
Nhĩ Kỳ ngoài tôi dám nói lên sự thật này.” [68] Ông còn khẳng định một cách mạnh mẽ rằng đó là
hai biến cố trọng đại mà cho đến nay Thổ Nhĩ Kỳ vẫn chưa có can đảm nhìn nhận.


Khác với văn học dân gian, văn học viết Thổ ( trước khi
5Tthành lập5T nước Cộng hòa Thổ Nhĩ
Kỳ vào năm 1923 ) lại có xu hướng chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ cũng như văn học Ba Tư và Ả
Rập. Hiện tượng này có thể được lý giải bởi bối cảnh lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ vào thời điểm ấy : khoảng
cuối thế kỷ 11 đến đầu thế kỷ 14, với sự cai trị của đế quốc Ba Tư hùng mạnh, mọi hoạt động kinh doanh tại đây đều dùng tiếng Ba Tư, ít khi dùng tiếng Thổ. Nền văn học chịu ảnh hưởng của tiếng Ả
Rập và Ba Tư thời kỳ này đã được biết đến với biệt danh là “văn học Divan”. Nền văn học này tiếp
tục được phát triển cả sau khi đế quốc Ottoman xuất hiện (đầu thế kỷ 14).
Văn học viết thời Ottoman, xuất hiện cùng lúc với sự ra đời ngôn ngữ Thổ Ottoman (tiền
thân của tiếng Thổ hiện đại), bao gồm thơ và
5Tvăn xuôi5T. Trong đó, thơ ca - đặc biệt thơ Divan (với bề
dày lịch sử phát triển khoảng 500 năm) - là dòng văn học chiếm ưu thế. Thơ Divan, cũng giống như
thơ ca dân gian Thổ, chịu ảnh hưởng đậm nét bởi tư tưởng Hồi giáo Sufi. Không những thế, do chịu
ảnh hưởng của ngôn ngữ cũng như văn học Ba Tư và Ả Rập, thơ Divan còn chứa đựng một lượng
lớn biểu tượng, thể hiện sự hòa trộn giữa yếu tố thần bí tôn giáo và thế tục, làm nên ý nghĩa triết lý
sâu xa hàm ẩn trong các bài thơ.
Về văn xuôi, từ đầu thế kỷ 11 cho đến thế kỷ 19, văn xuôi Ottoman không chứa bất kỳ một
tác phẩm văn học hư cấu nào, điều này rất khác biệt với nền văn học phương Tây cùng thời. Theo
nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy, văn xuôi Thổ Nhĩ Kỳ thời đế chế Ottoman đã xuất hiện một số
thể loại sau :
- Tarih : thể loại
5Tlịch sử5T. Đây là một thể loại mang giá trị truyền thống, với sự xuất hiện nhiều
tác giả nổi tiếng, bao gồm
5Tsử5T gia Asıkpasazade (thế kỷ 15), các sử gia Katib Celebi và Naima (thế
kỷ 17).
-
5TSeyahatname5T : thể loại 5Ttruyện5T du hành, với tác phẩm tiêu biểu là 5TSeyahatname5T của 5TEvliya
Celebi

Phải đến sau khi
5TSultan Mahmud II5T tiêu diệt được các quân đoàn Janissary năm 1826, công cuộc cải
cách ấy mới bắt đầu đạt được những thành công nhất định.
Những cải cách này cuối cùng đã thực sự lan rộng trong phạm vi khắp đế quốc vào
5Tthời kỳ
Tanzimat
5T (khoảng năm 1839 – 1876 dưới triều vua Abdul Mecid I, người kế tục Sultan Mahmud II).
Thời kỳ này, nhiều hệ thống quản lý dưới thời Ottoman được tổ chức lại, chủ yếu theo mô hình
nước
5TPháp5T.
Cùng với sự cải cách chế độ Ottoman, tiến trình cải cách trong văn học cũng được diễn ra.
Nói chung, cải cách văn học tập trung trong hai lãnh vực : ngôn ngữ và thể loại. Nhiều nhà cải cách
kêu gọi từ bỏ truyền thống thơ Divan và quay về truyền thống dân gian. Những thể loại văn học mới
được đưa vào văn học Ottoman, trước hết là tiểu thuyết và truyện ngắn. Xu hướng này bắt đầu vào
năm 1861, với bản dịch ra tiếng Thổ Ottoman của cuốn tiểu thuyết
5TLes aventures de Télémaque5T
(Những cuộc phiêu lưu của Télémaque) của
5TFrancois Fénelon5T sáng tác năm 1699, dịch bởi Yusuf
Kamil Pasha -
5TĐại tể tướng5T dưới triều 5TQuốc vương Abdulaziz5T.
Do quan hệ lịch sử gần gũi với
5TPháp5T, nền 5Tvăn học Pháp5T đã đưa những ảnh hưởng lớn của
phương Tây đến văn học Thổ trong suốt nửa cuối thế kỷ 19. Kết quả là, nhiều chuyển biến nổi bật ở
Pháp trong thời kỳ này cũng diễn ra tương tự tại Đế chế Ottoman. Chẳng hạn, trong quá trình phát
triển truyền thống văn xuôi Ottoman, ảnh hưởng của
5Tchủ nghĩa lãng mạn5T có thể thấy trong giai đoạn
Tanzimat, và phong trào theo chủ nghĩa
5Thiện thực5T và 5Ttự nhiên 5T trong các giai đoạn kế tiếp.
Nhiều nhà văn thời kỳ Tanzimat đã có nhiều sáng tác thuộc những thể loại rất đa dạng.
Chẳng hạn, năm 1876, nhà thơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status